Bài 15. Cho tam giác nhọn ABC. Vẽ đường tròn tâm O đường kính BC cắt AB, AC lần lượt tại F và E. Gọi H là giao điểm của BE và CF; AH cắt BC tại D. Chứng minh: a) BE vuông góc với AC. b) Tia DA là phân giác của góc EDF. Bài 16. Từ điểm M nằm ngoài đường tròn (O; R) vẽ hai tiếp tuyến MA, MB với đường tròn (O) (A, B là các tiếp điểm). Gọi I là giao điểm của MO và AB. a) Chứng minh MO 1 AB và IA = IB. b) Vẽ đường kính BC của (O), MC cắt (O) tại điểm thứ hai là D. Gọi H là trung điểm của CD và K là giao điểm của MC và AB. Chứng minh MC.MD = MH.MK Bài 17. Cho đường tròn (O; R) và một điểm A nằm ngoài đường tròn (O). Từ A vẽ hai tiếp tuyến AB, AC của đường tròn (O) (B, C là hai tiếp điểm). Gọi H là giao điểm của OA và BC Kẻ đường kính BD. a) Chứng minh 4 điểm A, B, O, C cùng thuộc một đường tròn và CD // AO b) AD cắt (O) tại điểm E khác D. Chứng minh: AB² = AE.AD và góc AHE = ADO. c) Giả sử OA = 2R, tính diện tích hình quạt giới hạn bởi bán kính OB, OC và cung lớn BC
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
a: Các kết quả có thể xảy ra nằm trong tập hợp sau:
\(\Omega=\left\{\left(1;1\right);\left(1;2\right);...;\left(6;5\right);\left(6;6\right)\right\}\)
=>Có 36 kết quả có thể xảy ra
b: Gọi A là biến cố "Tổng số chấm ở hai con xúc sắc là 7"
=>A={(1;6);(2;5);(3;4);(4;3);(5;2);(6;1)}
=>n(A)=6
=>\(P_A=\dfrac{6}{36}=\dfrac{1}{6}\)
a) Xúc xắc 1 có 6 kết quả (6 mặt)
Xúc xắc 2 có 6 kết quả
Số kết quả xảy ra khi tung 2 xúc xắc là:
`6 xx 6 = 36` (kết quả)
tk
Đợi mãi không thấy cá vàng bơi lên, ông lão chèo thuyền ngược trở về. Sóng gió bão bùng đã qua đi. Biển xanh trở lại hiền hoà. Ông lão chèo thuyền mà lòng chất chứa bao nỗi ưu tư. Không biết có nên trở lại ngôi nhà ấy nữa không? Nó giờ đây đâu còn là ngôi nhà của mình nữa.
Và người ở trong ngôi nhà ấy cũng đâu phải là người vợ đói khổ năm xưa của mình. Nhưng không biết quỷ thần xui khiến thế nào mà đôi chân lão vẫn đưa lão về mảnh đất ngày xưa.
Nhưng, chuyện gì đang xảy ra thế này? Tất cả đã biến đi đâu? Tại sao không còn ai nữa? Mụ vợ của ta đâu? Trước mắt ông lão không phải là một cung điện nguy nga có Long Vương đang ngự giữa hàng trăm lính canh như lão nghĩ. Kì lạ thay! Trước mặt ông là khung cảnh cũ. Mái lều lụp xụp, rách nát và siêu vẹo đứng bên cạnh chiếc máng lợn đã sứt mẻ cả hai đầu. Xa xa ngoài kia vẫn còn cây sào nơi lão vắt chiếc lưới đã vá chằng vá đụp. Chưa hiểu chuyện gì, lão gọi to:
- Bẩm Long Vương! Lão già khốn khổ đã trở về!
- Không thấy có tiếng trả lời, lão lại tiếp:
- Thưa nữ hoàng!
-…
- Thưa nhất phẩm phu nhân!
…
- Bà lão ơi! Tôi đã trở về rồi!
Vẫn không có tiếng trả lời. Lão già vội bước vào trong. Không thấy có ai. Nhìn quanh lão thấy trên bàn có một mảnh giấy với những nét chữ nguệch ngoạc được viết vội vàng. Lão mang ra soi dưới nắng và bắt đầu đánh vần từng nét chữ:
“Ông lão ơi! Tôi có lỗi với ông nhiều lắm! Không ngờ bao năm sống khổ sở với nhau tôi còn chịu được mà giờ đây tôi lại thế này! Lòng tham của tôi quá lớn đến biển sâu cĩng phải kinh hoàng. Tôi không còn mặt mũi nào nhìn ông nữa. Chào ông! tôi đi!”
Tờ giấy trên tay ông lão từ từ rơi xuống. Nơi góc mắt lão hình như ươn ướt. Lão ngồi thụp xuống, đôi mắt xa xăm nhìn sâu vào biển cả. Đầu lão tê dại, miên man. Lão ngồi đó suốt một ngày đêm. Nhưng rồi lão bật dậy, quay mũi thuyền lão lạira khơi.
- Cá vàng ơi! Cá vàng ơi! Đời này ta không dám quên ơn cá. Mụ vợ nhà ta đã biết lỗi rồi. Ta xin cá hãy đưa mụ trở về với ta. Ta hứa từ nay sẽ không bao giờ làm phiền cá nữa. Cá vàng nhìn lão rồi lặng lẽ lặn xuống biển sâu. Lão buồn bã, thất vọng trở về. Nhưng vừa đặt chân lên bờ cát, thì…
Ai đang đứng trước mặt lão thế này? Vẫn bộ quần áo rách tươm, đầu không quấn khăn chân đi đất. Khuôn mặt nhăn nhúm, gầy sọp đi. Dù tóc đã bạc hơn, lão vẫn nhận ra, đó chính là vợ lão. Vợ chồng gặp nhau trong lặng im và nước mắt. rồi họ cùng đi về căn lều rách nát nhưng đã gắn bó với họ suốt mấy chục năm qua. Và ngoài kia gió đại dương thổi vào mát rượi và biển xanh vỗ sóng êm đềm.
Tôi là con trai của mẹ. Câu chuyện xảy ra vào một buổi chiều khiến tôi nhớ mãi và cũng ân hận mãi.
Hôm ấy, sau giờ học tôi mải chơi đá bóng với bạn nên về nhà rất muộn. Vừa bước vào sân, tôi đã nghe tiếng mẹ gọi dọn cơm. Vì vội vàng và còn bực vì bị thua trận bóng, tôi làm rơi chiếc bát xuống nền gạch. Chiếc bát sứ mẹ vẫn dùng hằng ngày vỡ tan thành nhiều mảnh.
Tôi sợ hãi, đứng lặng người. Chiếc bát ấy là kỉ vật bà ngoại để lại cho mẹ. Mẹ chạy ra, nhìn những mảnh vỡ rồi nhìn tôi. Tôi nghĩ chắc mẹ sẽ mắng tôi thật nặng. Nhưng mẹ chỉ thở dài, nhẹ nhàng bảo tôi nhặt mảnh vỡ kẻo đứt tay.
Thấy mẹ không trách mắng, tôi càng thấy ân hận. Tôi lí nhí xin lỗi và hứa sẽ cẩn thận hơn. Mẹ xoa đầu tôi, nói rằng chiếc bát có thể vỡ nhưng tình cảm thì không được phép rạn nứt. Điều quan trọng là biết nhận lỗi và sửa sai.
Từ hôm đó, tôi hiểu rằng sự nóng nảy, bất cẩn của mình có thể làm tổn thương những điều quý giá. Chiếc bát vỡ đã dạy tôi bài học về trách nhiệm và lòng biết ơn, bài học mà tôi sẽ luôn ghi nhớ suốt đời.
Một buổi chiều, khi đang dọn lại góc học tập, em tình cờ phát hiện một chiếc hộp gỗ nhỏ đã cũ. Bên trong là một chiếc đồng hồ kim loại màu bạc, mặt kính hơi xước nhưng vẫn sáng bóng. Điều lạ là phía sau đồng hồ có khắc dòng chữ: “Hãy xoay ba lần khi con thật sự cần”.
Tò mò, em thử xoay nhẹ ba lần. Bỗng nhiên căn phòng tối sầm lại rồi sáng bừng lên. Khi mở mắt ra, em thấy mình đang đứng giữa một cánh đồng rộng lớn, xung quanh là những ngôi nhà mái lá đơn sơ. Một cậu bé chừng bằng tuổi em đang nhìn em ngạc nhiên. Cậu giới thiệu tên là Nam và nói đây là ngôi làng cách đây hơn năm mươi năm.
Em nhanh chóng hiểu rằng chiếc đồng hồ đã đưa mình về quá khứ. Nam dẫn em đi khắp làng. Em thấy trẻ con chơi ô ăn quan, thả diều, không có điện thoại hay ti vi nhưng tiếng cười vang khắp nơi. Nam kể rằng ước mơ của cậu là được đi học đầy đủ, vì nhà nghèo nên nhiều khi phải nghỉ để phụ giúp gia đình.
Nghe vậy, em chợt thấy mình may mắn biết bao. Em được học hành đầy đủ, có sách vở, có máy tính. Em kể cho Nam nghe về trường học hiện đại, về thư viện lớn và những ước mơ của mình. Nam mỉm cười: “Vậy thì cậu phải cố gắng học thật giỏi, đừng lãng phí cơ hội nhé.”
Bỗng chiếc đồng hồ trong tay em rung lên. Mọi thứ lại mờ dần. Khi tỉnh lại, em thấy mình đang ở trong phòng. Trên bàn vẫn là chiếc hộp gỗ, nhưng đồng hồ đã biến mất.
Từ hôm đó, em chăm chỉ học tập hơn. Mỗi khi mệt mỏi, em lại nhớ đến nụ cười của Nam giữa cánh đồng chiều năm ấy. Em hiểu rằng thời gian là món quà quý giá nhất và chúng ta phải biết trân trọng từng phút giây mình đang có.
c1 Dấu hiệu xác định thể thơ tự do của đoạn trích là: - Các câu thơ không đều về số chữ - Cấu trúc dòng thơ linh hoạt, không ảnh hưởng bởi quy luật về gieo vần, ngắt nhịp c2 Những hình ảnh của làng quê được gợi lên qua nỗi nhớ của nhân vật trữ tình trong khổ thơ thứ hai là: - Con đường nhỏ chạy mòn cùng kỷ niệm. - Tiếng chó thức vọng về từ ngõ vắng. - Bông hoa đèn khe khẽ nở trong mơ. c3 Biện pháp lặp cấu trúc “Mặt trời đến với chúng tôi / Mưa gió đến với chúng tôi / Người lớn đến với chúng tôi” có tác dụng: - Về nội dung: lối lặp này nhấn mạnh sự gắn bó mật thiết giữa tuổi thơ và cuộc sống làng quê. Mọi sự vật, hiện tượng, con người dù là thiên nhiên hay xã hội đều đến với trẻ thơ một cách tự nhiên, trọn vẹn, làm nên những năm tháng tuổi thơ phong phú và hạnh phúc. - Về hình thức nghệ thuật: phép lặp tạo nên nhịp điệu thơ dồn dập, tươi sáng góp phần diễn tả dòng cảm xúc mãnh liệt, đầy sôi nổi giúp câu thơ trở nên giàu nhạc điệu, dễ đi vào lòng người. c4 Tình cảm của nhân vật trữ tình dành cho làng quê trong đoạn trích là tình yêu sâu nặng và nỗi nhớ thiết tha. Làng quê hiện lên qua hồi ức là không gian của tuổi thơ bình yên, ấm áp với những hình ảnh thân quen như con đường nhỏ, tiếng chó sủa, hoa đèn nở. Nhân vật trữ tình nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn với tất cả sự xúc động và trìu mến. Đó cũng là nơi lưu giữ ký ức, hình thành nên tâm hồn và nhân cách của con người. c5 Hình ảnh “Chiếc vành nón lăn tưởng chạm đến chân trời” gợi ra khát vọng bay xa, khát khao vượt thoát giới hạn của tuổi trẻ. Đó không chỉ là một liên tưởng đầy chất thơ mà còn tượng trưng cho sức sống mãnh liệt, tinh thần lạc quan và ước mơ không giới hạn. Tuổi trẻ là khoảng thời gian đẹp nhất để con người mơ mộng, khát vọng và dấn thân vì những điều lớn lao. Khát vọng ấy có thể là chinh phục tri thức, xây dựng sự nghiệp, đóng góp cho cộng đồng hay bảo vệ Tổ quốc. Quan trọng hơn cả, đó là niềm tin vào chính mình, vào tương lai, và vào một cuộc đời có ý nghĩa.
C1:thể thơ tự do
C2:hoa nâng xoè trước cửa
-con sông chảy qua làng mùa mưa
C3:biện pháp:đến với chúng tôi
-tác dụng:về nội dung và nghệ thuat
C4:đó là một tình yêu sâu sac,chân thàng và đầy lòng biết ơn
C5:’’chiec vành nón’’ là hình ảnh dình dị của nguoi lao động,’’chan trời’’đại diện cho những uoc mơ,hoài bão xã hội
-khát vọng giúp cuôcj sống chở nên ý nghĩa và rưcj rỡ hơn
Câu 1: thể thơ 8 chữ
Câu 2 : nhân vật tữ tình là người mẹ
Câu 3: biện pháp tu từ nhân hoá ở chỗ “cỏ thơm thảo “, “có hát “ và ấn dụ ở chỗ “ cỏ “ tượng trưng cho người con .
Tác dụng :Làm cho hình ảnh cỏ trở nên sinh động, có tâm hồn, sức sống như con người.Nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn hiếu thảo, sự trưởng thành rạng rỡ và niềm vui sướng của người con khi dâng hiến hương sắc cho đời.Tăng tính gợi hình, gợi cảm và tạo nhịp điệu vui tươi cho lời thơ.
Câu 4: những hình ảnh thể hiện tình cảm của mẹ dành cho con trong bài thơ là: "Phủ xanh non lên đất mẹ hiền hòa" ,"Những mạch ngầm trong đất mãi trào dâng / Dòng nước mát ngọt ngào nuôi dưỡng cỏ" "Niềm hạnh phúc... được bên con mãi mãi".
Nhận Xét:
-Các hình ảnh ẩn dụ (đất mẹ, mạch ngầm, dòng nước mát) giúp cụ thể hóa tình mẫu tử bao la, vô điều kiện.
-Khẳng định sự hy sinh thầm lặng và khát vọng che chở, đồng hành cùng con suốt cuộc đời của người mẹ.
Câu 5:Trong vai trò là một người con, chúng ta cần:
- thấu hiểu và biết ơn : Luôn trân trọng sự hy sinh và tình yêu thương vô bờ bến của cha mẹ
- Hành đọng thiết thực : Ngoan ngoãn, học tập tốt để cha mẹ an lòng; giúp đỡ cha mẹ những công việc vừa sức .
- Sẻ chia và quan tâm : Thường xuyên trò chuyện, hỏi han và chăm sóc khi cha mẹ ốm đau, già yếu.
- Sống tốt : Trở thành người tử tế, có ích cho xã hội để đáp lại kỳ vọng của cha mẹ
câu 3 Biện pháp tu từ nhân hóa: Cỏ thơm thảo; Cỏ hát. - Tác dụng: + Gợi lên hình ảnh sinh động, gần gũi về hương thơm của cỏ và âm thanh rì rào vui tươi, tràn đầy sức sống. + Bộc lộ niềm hạnh phúc, vui sướng của người con khi nhận được tình yêu thương và sự che chở từ mẹ. c4 - Những hình ảnh thể hiện tình cảm của mẹ dành cho con: Mẹ là cánh đồng, Chứa chan ngày nắng dưới mặt trời, Sương lấp lánh đọng trong ngần mỗi sớm, Đất mẹ hiền hòa, Cánh đồng mẹ rộn ràng cùng gió mát. - Hiệu quả biểu đạt: + Thể hiện tình yêu thương bao la, sự chăm sóc tận tụy của mẹ dành cho con. + Hình ảnh thiên nhiên gợi cảm giác bình yên, sâu lắng, thể hiện tình cảm chân thành, tự nhiên của mẹ đối với con.
1. thể thơ tự do, số chữ trong mỗi dòng thơ không bằng nhau
2. hình ảnh miêu tả mùa thu “ lá khởi vàng “
3. hiệu quar của biện pháp tu từ “ có phải em mùa thu hà nội “ làm nhấn mạnh vê đẹp dịu dàng của mùa thu hà nội, tôn lên vẻ thơ mộng của mùa thu haf nội. làm cho câu thơ sinh động hơn, gợi hình gợi cảm hơn. nhằm bộc lộ tình cảm yêu mến, say mê và tha thiết của nhân vật trữ tình với mùa thu hà nội
4. cảm xúc của nhân vật trong đoạn trích: say mê, rung động trước cái vẻ đẹp cuar mùa thu hà nội. yêu thương và trân trọng vẻ đẹp ủa thiên nhiên và con người hà nội. tự hào, gắn bó với vẻ đẹp của quê hương.
5. từ tình came của nhân vật trữ tình dành cho mùa thu hà nội thì thế hệ trẻ cần có trách nhiệm lan tỏa vẻ đẹp của quê hương đất nước trong thời đại mới. truoc hết mỗi người cần hiểu tự hào về văn hoá, lịch sử dân tộc. bên cạnh đó giới trẻ có thể quảng bá hình ảnh quê hương qua mxh, du lịch và giao lưu văn hoá quốc tế với bạn bè. ngòài ra, việc giữ gìn môi trường, bảo vệ di sản cũng là cách thể hiện tình yêu đất nước . khi mỗi người trẻ đều ý thức dc trách nhiệm của mình và vẻ đẹp của việt nam sẽ ngày càng được lan toả rộng rãi.
Câu 1 thể thơ : tự do
Dấu hiệu nhận biết là không quy định số chữ trong mỗi dòng và số dòng trong một bài
Câu 2 Hình ảnh miêu tả mùa thu trong khổ 1 là " lá khởi vàng "
Câu 3 BPTT: ẩn dụ
"Có phải em mùa thu Hà Nội"
Tác dụng : Giúp hình ảnh thơ trở nên gợi hình gợi cảm , sinh động và hay hơn
Khẳng định vẻ đẹp của em cũng như chính là linh hồn , là nét đặc trưng nhất của mùa thu Hà Nội . Qua đó bộc lộ thái độ trân trọng và tình yêu say đắm của nhân vật trữ tình
Câu 4 Những cảm xúc của nhân vật trữ tình được thể hiện trong đoạn trích là: sự hoài niệm , nhớ thương về những kỉ niệm cũ . Sự say đắm , yêu mến nồng nàn trước vẻ đẹp thơ mộng , thanh tao của thiên nhiên và con người Hà Nội
Câu 5 Trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc lan tỏa vẻ đẹp quê hương là
- Phải hiểu và trân trọng những giá trị văn hóa , vẻ đẹp đặc trưng của quê hương
- Tích cực học tập , trau dồi kiến thức để giới thiệu văn hóa nước nhà với bạn bè quốc tế
- Sử dụng mạng xã hội để quảng bá hình ảnh đất nước
Câu 1:
Thể thơ: Thơ tự do.
Câu 2:
Gợi về truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ (con theo cha xuống biển, mẹ lên núi).
Câu 3:
Biện pháp tu từ: So sánh (“Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn”).
Tác dụng:
- Làm nổi bật sự vất vả, nhọc nhằn của biển đảo.
- Gợi hình ảnh người mẹ tảo tần, hi sinh → tăng cảm xúc thiêng liêng, gần gũi.
- Thể hiện tình cảm yêu thương, trân trọng Tổ quốc.
Câu 4:
Nội dung:
Đoạn thơ thể hiện tình yêu Tổ quốc sâu sắc, ý thức về chủ quyền biển đảo, nhắc nhở truyền thống nguồn cội và trách nhiệm của mỗi người trong việc bảo vệ đất nước.
Câu 5:
Bài học:
Mỗi người cần yêu nước, biết ơn thế hệ đi trước, có ý thức giữ gìn, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, cố gắng học tập và rèn luyện để góp phần xây dựng Tổ quốc.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.
• Thể thơ: Thể thơ tự do, xen kẽ với thể thơ năm chữ (ngũ ngôn) và bảy chữ (thất ngôn) nhưng không tuân thủ nghiêm ngặt về niêm luật, nhịp điệu như thơ truyền thống. Tuy nhiên, xét về mặt cấu trúc chính, bài thơ có xu hướng gần gũi với thể thơ ngũ ngôn (5 chữ) và thất ngôn (7 chữ) được biến thể tự do, tạo sự linh hoạt trong diễn đạt cảm xúc.
Câu 2. Xác định hình ảnh được sử dụng để so sánh với tuổi thơ con trong văn bản.
• Hình ảnh được dùng để so sánh với tuổi thơ của nhân vật trữ tình là: “một bài ca”.
◦ Dẫn chứng: “Tuổi thơ con đẹp tựa một bài ca”.
Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng hình thức lời tâm sự con với mẹ trong văn bản.
• Hiệu quả: Việc sử dụng hình thức lời tâm sự của người con (dù không trực tiếp nói chuyện với mẹ trong đoạn trích này, nhưng lời ru của mẹ là nền tảng) tạo ra không khí thân mật, gần gũi và chân thành như một lời thủ thỉ.
◦ Lời ru của mẹ là hình ảnh đầu tiên và thiêng liêng nhất về quê hương, gắn kết tình cảm gia đình và tình yêu quê hương.
◦ Nó nhấn mạnh rằng tình yêu quê hương được nuôi dưỡng từ thuở ấu thơ (“Đẹp từ lúc trong nôi lời mẹ hát”), tạo nên một mạch cảm xúc tự nhiên, sâu sắc, không gò ép.
Câu 4. Xác định một biện pháp tu từ có trong hai câu thơ sau và nêu tác dụng của nó.
• Hai câu thơ:
Nhớ Đồng Đậu, nhớ Tây Thiên vời vợi
Vĩnh Phúc ơi! Lòng con luôn mong đợi
• Biện pháp tu từ: Điệp ngữ (lặp từ “Nhớ”) và Gọi tên riêng (Địa danh: Đồng Đậu, Tây Thiên, Vĩnh Phúc).
• Tác dụng:
◦ Điệp ngữ “Nhớ”: Nhấn mạnh cảm xúc day dứt, thường trực và sâu đậm của người lính nơi xa đối với những địa danh thân thương của quê hương mình.
◦ Gọi tên riêng: Giúp cụ thể hóa tình cảm, làm cho nỗi nhớ trở nên chân thực, gắn liền với những không gian địa lý cụ thể, thể hiện lòng tự hào và sự gắn bó mãnh liệt với mảnh đất Vĩnh Phúc.
Câu 5. Từ tâm trạng của nhân vật trữ tình về ý nghĩa của quê hương trong hành trình trưởng thành của mỗi con người.
• Tâm trạng: Sự gắn bó sâu nặng, thiêng liêng và không thể tách rời.
• Ý nghĩa của quê hương trong hành trình trưởng thành:
◦ Nguồn cội và nền tảng: Quê hương là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, là bài học đầu đời (lời ru của mẹ, vẻ đẹp thiên nhiên).
◦ Động lực và lý tưởng sống: Quê hương là nguồn sức mạnh tinh thần, là lý do để người con cống hiến (ra trận, khoác áo lính).
◦ Điểm tựa và khát vọng: Quê hương là nơi để trở về, là mục tiêu cuối cùng của khát vọng sum vầy và yêu thương (“Để được yêu thêm mảnh đất biếc quê mình”).
◦ Kết luận: Quê hương không chỉ là nơi chốn mà là một phần máu thịt, là mục đích sống định hình nhân cách và ý nghĩa trưởng thành của mỗi người.
Bài 17:
a:
Xét tứ giác OBAC có \(\widehat{OBA}+\widehat{OCA}=90^0+90^0=180^0\)
nên OBAC là tứ giác nội tiếp
=>O,B,A,C cùng thuộc một đường tròn
Xét (O) có
AB,AC là các tiếp tuyến
Do đó: AB=AC
=>A nằm trên đường trung trực của BC(1)
Ta có: OB=OC
=>O nằm trên đường trung trực của BC(2)
Từ (1),(2) suy ra OA là đường trung trực của BC
=>OA\(\perp\)BC tại H và H là trung điểm của BC
Xét (O) có
ΔBCD nội tiếp
BD là đường kính
Do đó: ΔBCD vuông tại C
=>BC\(\perp\)CD
mà OA\(\perp\)BC
nên OA//CD
b: Xét (O) có
ΔBED nội tiếp
BD là đường kính
Do đó: ΔBED vuông tại E
=>BE\(\perp\)AD tại E
Xét ΔABD vuông tại B có BE là đường cao
nên \(AE\cdot AD=AB^2\left(3\right)\)
Xét ΔABO vuông tại B có BH là đường cao
nên \(AH\cdot AO=AB^2\left(4\right)\)
Từ (3),(4) suy ra \(AE\cdot AD=AH\cdot AO\)
=>\(\dfrac{AE}{AO}=\dfrac{AH}{AD}\)
Xét ΔAEH và ΔAOD có
\(\dfrac{AE}{AO}=\dfrac{AH}{AD}\)
\(\widehat{EAH}\) chung
Do đó: ΔAEH~ΔAOD
=>\(\widehat{AHE}=\widehat{ADO}\)
Bài 15:
a:
Xét (O) có
ΔBEC nội tiếp
BC là đường kính
Do đó: ΔBEC vuông tại E
=>BE\(\perp\)AC tại E
b:
Xét (O) có
ΔBFC nội tiếp
BC là đường kính
Do đó: ΔBFC vuông tại F
=>CF\(\perp\)AB tại F
Xét ΔABC có
BE,CF là các đường cao
BE cắt CF tại H
Do đó: H là trực tâm của ΔABC
=>AH\(\perp\)BC tại D
Xét tứ giác BFHD có \(\widehat{BFH}+\widehat{BDH}=90^0+90^0=180^0\)
nên BFHD là tứ giác nội tiếp
Xét tứ giác CEHD có \(\widehat{CEH}+\widehat{CDH}=90^0+90^0=180^0\)
nên CEHD là tứ giác nội tiếp
Ta có: \(\widehat{FDH}=\widehat{FBH}\)(BFHD nội tiếp)
\(\widehat{EDH}=\widehat{ECH}\)(CEHD nội tiếp)
mà \(\widehat{FBH}=\widehat{ECH}\left(=90^0-\widehat{BAC}\right)\)
nên \(\widehat{FDH}=\widehat{EDH}\)
=>DA là phân giác của góc FDE
help me