(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CON CHIM VÀNG
(Trích)
[Lược một đoạn: Thằng Bào mười hai tuổi là đứa ở chăn trâu cho nhà thằng Quyên mười tuổi – con nhà chủ. Hai năm trước, mẹ Bào mắc nợ nhà này hai thúng thóc, nó đòi ngặt, Bào phải đến ở đợ. Một hôm nọ, có con chim cánh vàng như nghệ, mỏ đỏ như son, ngày nào cũng sà xuống cây trứng cá trước sân nhà. Thằng Quyên đứng dưới gốc dòm lên, nó yêu con chim và đòi mẹ bắt cho được. Bà chủ bèn sai thằng Bào tìm cách bắt con chim vàng cho cậu chủ. Nhưng bắt làm sao được, nó có cánh, vừa leo lên là nó bay vụt mất. Không bắt được chim, Bào bị bà chủ đánh đập, xỉa xói vô cùng tàn nhẫn. Bào đã phản kháng nhưng rồi nó sợ và vẫn cố gắng tìm cách bắt con chim vàng cho cậu chủ… ]
Quá căm tức thì chống lại, chống rồi Bào lại sợ. Bào đến thằng Quyên:
– Cậu, bữa nay thế nào tôi cũng bắt được con chim vàng cho cậu!
Thằng Quyên ngẩng đầu lên, mắt nó long lanh, ôm lấy Bào, nó hỏi: “Chừng nào?”. Bào đưa nhánh tre có sợi nhợ cho nó coi:
– Đây, bẫy gài đây cậu. Mà cậu cho một trái chuối chín đi!
Thằng Quyên nhảy tưng lên, rồi cắm cổ chạy thẳng vô buồng, bẻ luôn hai quả. Nó đưa hai quả chuối cau chín vàng khoe với Bào. Nó cười híp hai con mắt. Lần đầu tiên nó cúi đầu sát vào Bào, xem Bào buộc quả chuối vào bẫy. Suy nghĩ thế nào, nó quay ra, lắc đầu:
– Chim không ăn chuối đâu!
– Nó ăn chớ cậu! Phải chim hát bội, chim sâu đâu, con chim này nó ăn sâu mà ăn chuối nữa cậu. Tôi coi trâu, tôi thấy nó sà xuống vuờn chuối hoài.
Bỗng mẹ thằng Quyên nện guốc bước tới, nó trố mắt nhìn hai quả chuối cau, nó hét lên:
– Mày gạt con tao ăn cắp chuối hả?
Bào lui luôn mấy bước, nép mình vô tường, mặt lấm lét:
– Dạ thưa bà, con xin chuối chín làm mồi bắt chim cho cậu.
– Chuối tao cúng thổ thần, chuối tiền chuối bạc, chuối gì chuối cho chim ăn. Mày trèo lên cây bắt sống nó cho tao.
Mẹ thằng Quyên vừa chửi vừa nhìn quanh quất kiếm cây. Bào liệng cái bẫy, chạy mất…
Không còn cách nào hơn nữa, Bào quấn cây lá đầy mình, trèo sẵn lên cây từ sáng sớm. Nhánh cây trứng cá mềm quằn xuống. Bào thụt vô, dựa lưng vào cành to. Thằng Quyên đứng dưới hét lên:
– Mày ra ngoài nhánh chớ!
Bào run quá, chân cứ thấy nhột, nhìn xuống thấy chóng mặt. Vòm trời cao vút. Một chấm đen bay tới. Rõ là con chim vàng. Nó lượn mấy vòng, vừa sà cánh đáp, bỗng nó hốt hoảng vút lên kêu choe chóe.
Mẹ con nó chạy vô nhà ló đầu ra:
– Mày đừng rung chớ!
Mẹ thằng Quyên nhìn theo con chim mình vàng như nghệ mỏ đỏ như son không chớp mắt:
– Bào! “Con” nín thở cho êm con. Ráng con!
Con chim bay qua nhảy nhót trước mặt. Bào vừa thò tay, nó nhảy ra nhánh. Thằng Quyên há mồm hồi hộp:
– Bắt mau, mau!
– Đó, đó! Nó nhảy vô đó con, chụp, chụp!
Nghe tiếng nó là Bào thấy roi đòn đánh đập, thấy máu đổ như những trận đòn hôm trước. Bào cắn răng cho bớt run, nhè nhẹ thò tay ra, nhổm mình với tới, chụp dính con chim vàng. Chim chóe lên, mẹ con nó mừng quýnh, thằng Quyên nhảy dựng lên.
– Được chim rồi!
Vỗ tay bôm bốp. Bào có cảm giác như khi mình đuổi theo trâu bị sụp những hầm giếng cạn, ruột thót lên. Hai chân Bào sụp vào không khí, tay bơi bơi – Mặt Bào tối đen – Bào rơi xuống như trái thị. Mặt Bào đập vào gốc cây, máu, nước mắt đầm đìa cả mặt: “Trời ơi!” Con chim vàng cũng bị đập xuống đất, đầu bể nát. Trong cơn mê mê tỉnh tỉnh, Bào nghe văng vẳng tiếng guốc, nghe mẹ con thằng Quyên kêu: “Trời ơi!”.
Bào chống tay ngồi dậy, máu từ trên đầu chảy trên những chiếc lá quấn vào mình nhỏ giọt. Bào cố đem toàn lực vùng dậy, nhưng tay lại khuỵu xuống, đầu ngã xuống vũng máu. Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.
Té ra, mẹ thằng Quyên thò tay nâng lấy xác con chim vàng. Bào lại nghe tiếng tắc lưỡi: “Trời! Con chim vàng của con tôi chết rồi!”.
(Nguyễn Quang Sáng)
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.
Câu 2 (0.5 điểm): Xác định tình huống truyện của đoạn trích.
Câu 3 (1.0 điểm): Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? Nêu tác dụng của ngôi kể.
Câu 4 (1.0 điểm): Phân tích ý nghĩa của chi tiết sau: “Mắt Bào chập chờn thấy bàn tay mẹ thằng Quyên thò xuống. Tay Bào với tới, với mãi, với mãi nhưng cũng chẳng với được ai.”.
Câu 5 (1.0 điểm): Nhận xét về nhân vật cậu bé Bào trong đoạn trích. Qua đó, tác giả gửi gắm tình cảm, thái độ gì?
Câu 1
Nghệ thuật lập luận trong bản "Chiếu cầu hiền tài" đạt đến trình độ bậc thầy, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa lý lẽ sắc bén và tình cảm chân thành. Bố cục chặt chẽ: Đầu tiên, tác giả đưa ra tiên đề về mối quan hệ giữa người hiền và thiên tử: người hiền phải do thiên tử sử dụng, như sao sáng chầu về Bắc Thần. Đây là chân lý khách quan, tạo điểm tựa vững chắc cho toàn bộ bài chiếu. Cách đặt vấn đề khéo léo: Thay vì ra lệnh cứng nhắc, tác giả dùng lối nói khiêm nhường, thấu hiểu tâm lý sĩ phu thời bấy giờ (những người còn e ngại, ẩn dật). Việc thẳng thắn thừa nhận những thiếu sót của triều đại mới và sự cần thiết của nhân tài giúp xóa bỏ khoảng cách quân thần. Hệ thống câu hỏi tu từ: Những câu hỏi liên tiếp như "Hay là thời đại đang ở trong buổi ban đầu...?" đã tác động mạnh mẽ vào lòng tự trọng và trách nhiệm của kẻ sĩ đối với đất nước.Chính sách cụ thể, rộng mở: Cuối bài, việc đưa ra các con đường tiến cử đa dạng, không phân biệt thứ bậc đã minh chứng cho thái độ cầu thị thực chất.
Kết luận: Với ngôn ngữ trang trọng nhưng tha thiết, lập luận của bài chiếu không chỉ thuyết phục bằng lý trí mà còn thu phục bằng nhân tâm, biến việc ra giúp nước thành một nghĩa vụ vẻ vang và tự nhiên của người hiền.
Câu 2:
Bài làm.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, "chất xám" đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, quyết định sự hưng thịnh của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay đang đứng trước một nghịch lý đau lòng: chúng ta nỗ lực đào tạo nhân tài nhưng lại chưa giữ chân được họ, dẫn đến hiện tượng "chảy máu chất xám" ngày càng trầm trọng.
"Chảy máu chất xám" không đơn thuần là việc một cá nhân đi định cư, mà là sự thất thoát nguồn lực trí tuệ ưu tú nhất của dân tộc. Nhìn vào thực tế, phần lớn các quán quân của những cuộc thi tri thức danh giá hay các du học sinh xuất sắc sau khi tốt nghiệp tại Úc, Mỹ, hay Châu Âu đều chọn ở lại làm việc thay vì trở về. Tại sao họ lại ra đi? Câu trả lời không chỉ nằm ở mức lương nghìn đô, mà còn ở một môi trường làm việc chuyên nghiệp, nơi trí tuệ được tôn trọng tuyệt đối và không bị kìm kẹp bởi những cơ chế cũ kỹ. Hậu quả của hiện tượng này là vô cùng lớn. Khi những bộ óc thông minh nhất ra đi, đất nước sẽ thiếu đi những đầu tàu dẫn dắt các ngành công nghệ mũi nhọn, khiến nền kinh tế dễ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Chúng ta mất đi "vốn liếng" quý nhất để hiện đại hóa quê hương. Để giải quyết vấn đề này, không thể chỉ kêu gọi bằng lòng yêu nước viển vông. Chính phủ và các doanh nghiệp cần có những "cú hích" mạnh mẽ về chính sách: tạo ra môi trường nghiên cứu tự do, công bằng và chế độ đãi ngộ xứng đáng. Chúng ta cần hiểu rằng, nhân tài không cần sự ưu ái, họ cần sự công nhận và không gian để tỏa sáng
Tóm lại, hiền tài là nguyên khí quốc gia. Để nguyên khí ấy không bị "chảy" đi mất, chúng ta cần biến Việt Nam thành một mảnh đất đủ màu mỡ để những hạt giống trí tuệ có thể bám rễ và xanh tươi. Bản thân mỗi người trẻ cũng cần ý thức được rằng, đỉnh cao của sự thành đạt chính là dùng tài năng để phụng sự cho nơi mình đã sinh ra.
Câu 1 : Trong văn bản Chiếu cầu hiền, Nguyễn Trãi đã thể hiện nghệ thuật lập luận chặt chẽ, sắc bén và giàu sức thuyết phục. Trước hết, tác giả mở đầu bằng cách nêu lên quy luật tất yếu: hiền tài là nguyên khí của quốc gia, từ đó khẳng định vai trò quan trọng của người tài đối với sự hưng thịnh của đất nước. Cách lập luận này tạo nền tảng lí lẽ vững chắc, mang tính khái quát cao. Tiếp đó, ông phân tích thực trạng: nhân tài còn bị bỏ sót, chưa được trọng dụng đúng mức. Việc đưa ra thực trạng vừa cụ thể vừa khách quan giúp tăng tính xác thực cho lập luận. Không dừng lại ở đó, Nguyễn Trãi còn sử dụng lí lẽ kết hợp với cảm xúc, thể hiện tấm lòng chân thành của người đứng đầu đất nước, mong mỏi người hiền ra giúp dân, giúp nước. Cuối cùng, lời chiếu mang tính kêu gọi, khích lệ, vừa mềm mỏng vừa tha thiết, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ. Nhờ sự kết hợp hài hòa giữa lí và tình, lập luận của Nguyễn Trãi trở nên thuyết phục, thể hiện tư tưởng tiến bộ và tầm nhìn xa rộng. Câu 2 : Hiện nay, hiện tượng “chảy máu chất xám” đang trở thành một vấn đề đáng quan tâm tại Việt Nam. Đây là tình trạng nhiều người có trình độ cao, tài năng lựa chọn ra nước ngoài học tập, làm việc và sinh sống lâu dài, thay vì cống hiến cho đất nước. Hiện tượng này không chỉ phản ánh xu hướng toàn cầu hóa mà còn đặt ra nhiều suy nghĩ về môi trường phát triển trong nước. Trước hết, cần hiểu rằng “chảy máu chất xám” là sự dịch chuyển nguồn nhân lực chất lượng cao từ quốc gia này sang quốc gia khác. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc du học hay làm việc ở nước ngoài là điều bình thường. Tuy nhiên, khi số lượng người tài không quay trở về ngày càng tăng, điều đó trở thành vấn đề đáng lo ngại. Thực tế cho thấy nhiều học sinh, sinh viên giỏi sau khi du học đã chọn ở lại nước ngoài vì điều kiện làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và môi trường phát triển thuận lợi hơn. Nguyên nhân của hiện tượng này đến từ nhiều phía. Trước hết là do môi trường làm việc trong nước còn hạn chế, chưa thực sự tạo điều kiện để người tài phát huy hết năng lực. Bên cạnh đó, chế độ đãi ngộ chưa tương xứng cũng khiến nhiều người chưa yên tâm cống hiến. Ngoài ra, cơ sở vật chất, điều kiện nghiên cứu ở một số lĩnh vực còn thiếu thốn, chưa theo kịp các nước phát triển. Về phía cá nhân, không ít người mong muốn được trải nghiệm môi trường quốc tế, phát triển bản thân và có cuộc sống tốt hơn. Hệ quả của “chảy máu chất xám” là rất lớn. Khi nguồn nhân lực chất lượng cao rời đi, đất nước sẽ thiếu hụt lực lượng nòng cốt cho phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế. Điều này có thể làm chậm quá trình đổi mới và hội nhập. Đồng thời, việc đào tạo một nhân tài tốn nhiều thời gian, công sức, nếu họ không quay về cống hiến thì đó cũng là sự lãng phí nguồn lực quốc gia. Tuy nhiên, cần nhìn nhận vấn đề một cách toàn diện. Không phải ai ra nước ngoài cũng là “mất đi”, bởi nếu có chính sách phù hợp, họ vẫn có thể đóng góp cho quê hương bằng nhiều cách khác nhau như hợp tác nghiên cứu, đầu tư hay chuyển giao công nghệ. Vì vậy, điều quan trọng là tạo ra môi trường trong nước đủ hấp dẫn để thu hút và giữ chân nhân tài. Để hạn chế tình trạng này, Nhà nước cần có chính sách đãi ngộ hợp lí, tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho người tài. Đồng thời, cần đầu tư mạnh vào giáo dục, khoa học – công nghệ và cải thiện môi trường sáng tạo. Về phía bản thân mỗi người trẻ, cần có ý thức trách nhiệm với đất nước, biết cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng. “Chảy máu chất xám” chính là một thách thức nhưng cũng là cơ hội để Việt Nam nhìn nhận lại và hoàn thiện môi trường phát triển. Khi biết tận dụng và có chính sách phù hợp, nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ trở thành động lực quan trọng giúp đất nước tiến xa hơn trong tương lai.