(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:
Từ ngày muôn dặm phù tang(1),
Nửa năm ở đất Liêu Dương lại nhà.
Vội sang vườn Thúy(2) dò la,
Nhìn phong cảnh cũ, nay đà khác xưa.
Đầy vườn cỏ mọc, lau thưa.
Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời…
Trước sau nào thấy bóng người,
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông(3).
Sập sè én liệng lầu không,
Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai góc mọc đầy,
Đi về này những lối này năm xưa!
Chung quanh lặng ngắt như tờ,
Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?
Láng giềng có kẻ sang chơi,
Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.
Hỏi ông, ông mắc tụng đình(4),
Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.
Hỏi nhà, nhà đã dời xa,
Hỏi chàng Vương, cùng với là Thúy Vân.
Đều là sa sút khó khăn,
May thuê, viết mướn, kiếm ăn lần hồi.
Điều đâu sét đánh lưng trời,
Thoắt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!
Vội han di trú(5) nơi nào?
Đánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi.
Nhà tranh, vách đất tả tơi,
Lau treo rèm nát, trúc cài phên thưa.
Một sân đất cỏ dầm mưa,
Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn người!
Đánh liều lên tiếng ngoài tường,
Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra.
Dắt tay vội rước vào nhà,
Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay.
Khóc than kể hết niềm tây:
“Chàng ôi, biết nỗi nước này cho chưa?
Kiều nhi phận mỏng như tờ,
Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!
Gặp cơn gia biến lạ đường,
Bán mình nó phải tìm đường cứu cha.
Dùng dằng khi bước chân ra,
Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.
Trót lời hẹn với lang quân,
Mượn con em nó Thúy Vân thay lời.
Gọi là trả chút nghĩa người,
Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên.”
[…] Ông bà càng nói càng đau,
Chàng càng nghe nói, càng rầu như dưa.
Vật mình vẫy gió, tuôn mưa,
Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai!
(Trích “Truyện Kiều”, Nguyễn Du, Nhà xuất bản Trẻ, 2015)
Chú thích:
(2) Vườn Thúy: Nơi Kim Trọng từng trọ học, cũng là nơi Kim – Kiều cùng nhau tình tự, thề nguyền.
(3) Hoa đào… gió đông: Thôi Hộ đời Đường, nhân tiết Thanh minh, đi đến nơi kì ngộ, tìm người con gái đã gặp gỡ năm trước thì chỉ thấy cửa đóng, người đi đâu vắng, nhân đó mà làm bài thơ, trong đó câu: “Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong” (nghĩa là: “Mặt người không biết đi đằng nào/ Hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ).
(4) Tụng đình: Sân xử kiện, nơi xử kiện. Ở đây dùng với nghĩa chỉ việc kiện cáo.
(5) Han: Hỏi, di trú: Dời đi nơi khác.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?
Câu 2. Văn bản là ngôn ngữ của ai?
Câu 3. Tóm tắt lại văn bản theo các sự kiện chính trong văn bản.
Câu 4. Anh/chị hiểu như thế nào về hình ảnh “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”?
Câu 5. Nêu tác dụng của biện pháp tả cảnh ngụ tình trong đoạn trích:
Sập sè én liệng lầu không,
Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.
Cuối tường gai góc mọc đầy,
Đi về này những lối này năm xưa!
Câu 1:Ptbd trong bài thơ là:Biểu cảm,miêu tả.
Câu 2:Đề tài của bài thơ là:Nỗi đau khổ tột cùng, sự chia lìa, và tiếng kêu tuyệt vọng của một trái tim yêu đương tha thiết nhưng bị dày vò bởi bệnh tật và số phận.
Câu 3:Một hình ảnh thơ mang tính tượng trưng là:"Một nửa hồn tôi mất".Đó là một hình ảnh tượng trưng đầy ám ảnh, khắc họa nỗi đau xót xa, sự tan vỡ tuyệt vọng và tâm trạng phân liệt của chủ thể trữ tình khi tình yêu ra đi.
Câu 4:Biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ cuối bài thơ là câu hỏi tu từ:"Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?","Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu?".
Tác dụng:Tác giả không nhằm mục đích tìm kiếm câu trả lời thực tế mà để diễn tả sự bàng hoàng, mất phương hướng và nỗi cô đơn đến rợn ngợp của cái tôi cá nhân trước vũ trụ bao la.
Câu 5:Cấu tứ của bài thơ "Những giọt lệ" (Hàn Mặc Tử) là dòng tâm tư đứt gãy, tự vấn đầy đau khổ về sự tồn tại, chuyển hóa từ nỗi buồn thương thông thường sang khủng hoảng tinh thần sâu sắc.
Câu 1 :
Phương thức biểu đạt trong bài thơ trên là : biểu cảm , tự sự , miêu tả và kết hợp
Câu 2 :
Đề tài trong bài thơ trên là tình yêu, sự chia ly , nỗi đau khổ và sự tuyệt vọng của con người trước cuộc đời và bệnh tật
Câu 3 :
Hình ảnh " bông phượng nở trong màu huyết " mang tính tượng trưng sâu sắc, thể hiện sự đau đớn, xót xa tột cùng của người thi nhân
Câu 4 :
Biện pháp tu từ được sử dụng ở khổ thơ cuối
" tôi vẫn còn đây hay ở đâu?
[...]
Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu ? "
là biện pháp ẩn dụ
Tác dụng : tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu thơ , thể hiện nỗi đau đã vật chất hóa thành máu và nước mắt, thấm sâu vào tâm hồn của thi nhân từ đó nhấn mạnh sự phân liệt của tâm hồn, sự khủng hoảng tinh thần sâu sắc và tiếng kêu uất nghẹn của một trái tim đang chịu đựng nỗi đau tột cùng
Câu 5 :
Bài thơ sử dụng cấu tứ độc đáo, tập trung vào hình ảnh ẩn dụ " những giọt lệ ". Cấu tứ trong bài thơ chỉ xoay quanh lý giải nguồn gốc và ý nghĩa của những giọt nước mắt, từ ngoại cảnh ( bông phượng màu huyết) đến nội tâm ( lòng tôi những giọt châu). Cấu trúc ngắn gọn, súc tích nhưng chứa đựng những tình nghĩa sâu sắc về tình yêu , nỗi đau và triết lý sống của Hàn Mặc Tử