Cho phương trình:
Câu 2. CH3COOH + H2O
Trong phản ứng nghịch, theo thuyết Bronsted – Lowry chất nào là acid?
A.CH3COOH B.H2O C.CH3COO- D.H3O+
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
THAM KHẢO NHÉ BN:
- Trong tác phẩm, nhân vật Hộ vốn là người có tư tưởng, hoài bão văn chương lớn lao của mình. Nhưng chính vì dòng đời, vì lẽ sống kiếm tiền nuôi vợ con của mình, anh phải bán đứng lý tưởng văn chương của mình và từ đó dẫn đến sự tha hóa về nhân cách trong con người anh. Một con người với nội tâm phức tạp, khó hiểu như vậy nhờ vào việc sử dụng ngôi thứ ba sẽ giúp người đọc dễ dàng nắm bắt được diễn biến tâm lí của nhân vật. Từ hồi tưởng về quá khứ, nghĩ về những năm tháng hoàng kim của đời mình, rồi đến hiện thực tàn khốc rồi hiểu ra chính mình trong cơn say… tất cả làm nổi bật nên nội tâm của một người đang bị giằng xé khi phải lựa chọn trước lý tưởng văn chương thanh cao của bản thân và nỗi lo về cơm ăn, áo mặc trong cuộc sống.
- Kết hợp với việc lựa chọn điểm nhìn bên trong, gắn với ý thức của từng nhân vật đã giúp cho việc miêu tả diễn biến tâm lý nhân vật của tác giả được rõ ràng. Một người luôn mang trong mình hoài bão lớn, lý tưởng lớn về văn chương nhưng chịu đựng nỗi lo về cơm áo gạo tiền mà trở lên tha hóa về nhân cách, làm khổ vợ con. Nội tâm anh luôn đấu tranh mạnh mẽ về điều này. Khi say rượu, anh thú nhận với Tứ nhưng Tứ không trách anh mà ngược lại nhận lỗi về mình bởi cô nghĩ rằng bởi nỗi lo toan về cuộc sống đã biến một con người tài hoa, vốn yêu văn chương bằng cả mạng sống trở thành một tên nát rượu, đánh đập vợ con. Cô thương cho người chồng bị cái khổ vùi dập mà không nỡ trách anh, chỉ dám nhận lỗi về mình. Đến đây, tác giả đã thành công sử dụng điểm nhìn bên trong để soi chiếu từng nhân vật cùng cách trần thuật hướng nội đã góp phần làm rõ được tính cách của hai nhân vật, một người nhận ra được lỗi lầm của mình và một người với lòng vị tha sâu sắc. Đó chính là tình cảm, sự cảm thông của những con người nghèo khổ với nhau.
S A B C D I K
Ta có BC//AD (cạnh đối hình bình hành) (1)
Trong mp (SAD) từ I dựng đường thẳng // với AD cắt SD tại K
=>IK//AD (2)
Từ (1) và (2) => IK//BC
\(I\in\left(IBC\right)\Rightarrow IK\in\left(IBC\right)\)
=> BCKI là thiết diện của (IBC) với S.ABCD và BCKI là hình thang

Gọi J là trung điểm của SA. Ta thấy IJ//AD//BC nên J, I, B, C đồng phẳng \(\Rightarrow J\in\left(IBC\right)\).
Ta có \(I=\left(IBC\right)\cap SA,B=\left(IBC\right)\cap SB,C=\left(IBC\right)\cap SC,\) \(J=\left(IBC\right)\cap SD\), suy ra tứ giác BCJI là thiết diện của hình chóp S.ABCD cắt bởi mặt (IBC)
Mà BC//JI (cmt) nên BCJI là hình thang \(\Rightarrowđpcm\)
Không thể thay thế vì phần mềm nguồn mở còn hạn chế về chức năng
Giấy phép điển hình với phần mềm nguồn mở?
A. GLU GPL
B GNU GPN
C. GLU GPN
D. GNU GPL
khi chúng ta sửa đổi một phần mềm nguồn mở đã áp dụng GPL để tạo ra phần mềm đã sửa đổi. Thì phần mềm đã sửa đổi này cũng phải mở theo giấy phép của GPL.
Ý nghĩa của yêu cầu này:
- Nếu một phần mềm được phát triển dựa trên phần mềm nguồn mở GPL, thì phần mềm mới cũng phải công khai mã nguồn và phát hành theo cùng giấy phép GPL.
- Quy định này giúp:
+ Bảo đảm tính tự do phần mềm: ai cũng có quyền sử dụng, sửa đổi, phân phối lại.
+ Ngăn chặn việc độc quyền hóa: không ai được phép lấy mã nguồn GPL rồi biến thành phần mềm đóng.
+ Khuyến khích cộng đồng cùng phát triển: mọi cải tiến đều được chia sẻ cho tất cả mọi người.
GPL bắt buộc mọi sản phẩm phái sinh cũng phải giữ tinh thần “mã nguồn mở” để bảo vệ quyền lợi chung.



\(Chọn.C\)