Tháng
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 |
Nhiệt độ | 25,8 | 26,7 | 27,9 | 28,9 | 28,3 | 27,5 | 27,1 | 27,1 | 26,8 |
10 | 11 | 12 |
26,7 | 26,4 | 25,7 |
Giải hộ mik .
Hãy tính nhệt độ trung bình năm của trạm ?
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Công cụ bằng kim loại xuất hiện:
- Con người đã có thể khai phá những vùng đất mới mà trước kia chưa khai phá nổi, có thể cày sâu, cuốc bẫm, có thể xẻ gỗ đóng thuyền đi biển, xẻ đá làm lâu đài,…
- Lần đầu tiên trên chặng đường dài của lịch sử loài người, con người có thể làm ra một lượng sản phẩm dư thừa thường xuyên.
- Đời sống văn hóa, tinh thần của theo đó mà được cải thiện: con người biết dùng đồ trang sức hoa tai, vòng tay,.. bằng kim loại.
Hok tot!
Việc xuất hiện công cụ bằng kim loại đã có tác động làm cho xã hội nguyên thủy xuất hiện tình trạng tư hữu
Nhờ công cụ kim loại:
- Con người đã có thể khai phá những vùng đất mới mà trước kia chưa khai phá nổi, có thể cày sâu, cuốc bẫm, có thể xẻ gỗ đóng thuyền đi biển, xẻ đá làm lâu đài,…
- Lần đầu tiên trên chặng đường dài của lịch sử loài người, con người có thể làm ra một lượng sản phẩm dư thừa thường xuyên.
- Đời sống văn hóa, tinh thần của theo đó mà được cải thiện: con người biết dùng đồ trang sức hoa tai, vòng tay,.. bằng kim loại.
Những thay đổi trong đời sống xã hội khi công cụ bằng kim loại xuất hiện: – Trong thị tộc, đàn ông dần đảm nhiệm những công việc nặng nhọc nên có vai trò lớn và trở thành chủ gia đình. Con cái lấy theo họ cha. Đó là các gia đình phụ hệ. Một số gia đình có xu hướng tách khỏi công xã thị tộc, đến những nơi thuận lợi hơn để sinh sống
HT nha ~~~
I. Nội qui tham gia "Giúp tôi giải toán"
1. Không đưa câu hỏi linh tinh lên diễn đàn, chỉ đưa các bài mà mình không giải được hoặc các câu hỏi hay lên diễn đàn;
2. Không trả lời linh tinh, không phù hợp với nội dung câu hỏi trên diễn đàn.
3. Không "Đúng" vào các câu trả lời linh tinh nhằm gian lận điểm hỏi đáp.
Các bạn vi phạm 3 điều trên sẽ bị giáo viên của Online Math trừ hết điểm hỏi đáp, có thể bị khóa tài khoản hoặc bị cấm vĩnh viễn không đăng nhập vào trang we
Bối cảnh vùng đất Quảng Bình trước và sau khi xuất hiện danh xưng | ||
Ngày nay, tỉnh Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ với diện tích tự nhiên 8.065 km2; dân số năm 2011: 853.004 người; với một vị trí chiến lược có tầm quan trọng về nhiều mặt. Tọa độ địa lý ở phần đất liền: - Điểm cực Bắc: 18005'12'' vĩ độ Bắc (giáp tỉnh Hà Tỉnh);
- Điểm cực Nam: 17005' 02'' vĩ độ Bắc (giáp tỉnh Quảng Trị); - Điểm cực Đông: 106059'37'' kinh độ Đông (giáp biển Đông với đường bờ biển dài 116,04km); - Điểm cực Tây: 105036'55'' kinh độ Đông (giáp tỉnh Khăm Muộn (Lào) với đường biên giới dài 201,87km). Ngoài ra, Quảng Bình sở hữu dãy Hoành Sơn chạy từ Tây sang Đông, cảng Hòn La, cảng Hàng không Đồng Hới, Quốc lộ 1A, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam, Quốc lộ 12, tỉnh lộ 20, 16; cửa khẩu Quốc tế Cha Lo và một số cửa khẩu phụ khác nối liền với Nước CHDCND Lào. Về địa hình: Quảng Bình hẹp và dốc từ phía Tây sang phía Đông; 85% tổng diện tích tự nhiên là đồi núi. Toàn bộ diện tích được chia thành các vùng sinh thái cơ bản: Vùng núi cao, vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng, vùng cát ven biển. Về khí hậu: Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, luôn bị tác động bởi khí hậu của phía Bắc và phía Nam, được chia làm hai mùa rõ rệt: - Mùa mưa, từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình 2.000 - 2.300mm/năm. Thời gian mưa tập trung và các tháng 9, 10 và 11. - Mùa khô, từ tháng 4 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình 24oc - 25oc. Ba tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8. Nằm trên dải đất hẹp nhất của Tổ quốc, Quảng Bình đã trải qua nhiều biến cố lịch sử của dân tộc. Mảnh đất Quảng Bình luôn ở vị trí xung yếu nên phải oằn mình chứng kiến những nỗi đau chia cắt Tổ quốc do chiến tranh. Tuy nhiên, từ trong biến cố, Quảng bình lại là nơi gặp gỡ của nhiều cộng đồng dân cư, trở thành vùng đất chứa đựng sự hội tụ và giao thoa của các nền văn minh. Để hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của tỉnh Quảng Bình ngày nay, chúng ta cần lần ngược về lịch sử: 1. Quảng Bình thời tiền sử: Theo kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất học, vùng đất Quảng Bình có một bề dày văn hóa hàng nghìn năm. Nhiều dấu tích cư trú lâu đời của người tiền sử, từ thời đồ đá giữa, cách đây khoảng vạn năm. Các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước trước năm 1945 đã phát hiện được trên địa phận Quảng Bình nhiều di tích khảo cổ học. Thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, vùng đất Quảng Bình thuộc bộ Việt Thường. Năm 1926, nhà khảo cổ học người Pháp đã phát hiện và khai quật được nhiều di chỉ hang động ở miền Tây Quảng Bình, thuộc huyện Tuyên Hóa, qua đó cho thấy có sự tồn tại của nền văn hóa khảo cổ mang tên Hòa Bình ở vùng núi đá vôi này. Người Quảng Bình thời tiền sử - thuộc nền văn hóa Hòa Bình - sống trong các hang động, các mái đá. Họ thường chọn các hang đá, mái đá cao ráo, nhiều ánh sáng và gần nguồn nước, thức ăn chủ yếu của họ là ốc. Sinh sống trong các hang động ở miền thượng nguồn của Quảng Bình, theo mực nước thủy triều rút xuống, những người Quảng Bình cổ men theo các triền sông có đất đai màu mỡ di cư dần xuống đồng bằng ven biển, khai phá đầm lầy, chinh phục thiên nhiên, xây dựng quê hương bản làng. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy những di chỉ làng ven các dòng sông: Di chỉ Cồn Nền nằm ở bờ Bắc sông Gianh, di chỉ Lệ Kỳ nằm sát một dòng sông cổ bị vùi lấp... Vào mùa hè năm 1923, hai thông tin viên người Pháp của trường Viễn Đông Bác Cổ là Max và Depiruy đã phát hiện ra di chỉ khảo cổ học tại Bàu Tró. Cuối mùa hè năm đó, nhà địa chất kiêm khảo cổ học Etinen Patte đã tổ chức khai quật và công bố những hiện vật của thời tiền sử đồ đá mới. Những hiện vật này gồm nhiều rìu đá, mảnh tước, hai hòn ghè bằng thạch anh, bàn nghiền hạt mảnh gốm vỡ... Vào mùa xuân năm 1980, Trường Đại học tổng hợp Huế tổ chức khai quật lại di chỉ Bàu Tró ở khoảng cách cách mép nước hồ lúc đó 40m, cao hơn mặt nước 2,3m, cách hố khai quật của Patte hơn 100m về phía Tây. Hiện vật thu được bao gồm rìu, bôn đá, bàn mài, chày nghiền, mũi nhọn và vô số các mảnh gốm vỡ của các loại nồi, niêu, bình, vò... Từ những phát hiện này, các nhà khảo cổ học đã lấy tên của di chỉ để đặt cho nền văn hóa hậu kỳ đá mới phân bố ở vùng ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên là văn hóa Bàu Tró. Ngày nay, công cuộc khai quật, nghiên cứu Bàu Tró càng được đẩy mạnh, mở ra nhiều triển vọng trong việc nghiên cứu Quảng Bình thời tiền sử và người tiền sử Quảng Bình, cũng như vấn đề tiền Đông Sơn và tiền Sa Huỳnh - mối quan hệ qua lại của văn hóa hai miền qua văn hóa Bàu Tró. Đã có nhiều ý kiến cho rằng văn hóa Bàu Tró là một trong những cội nguồn nảy sinh văn hóa Đông Sơn phía Bắc và văn hóa Sa Huỳnh ở phía Nam. Tuy nhiên, nếu chủ nhân của văn hóa Hòa Bình ở miền Tây Quảng Bình đã sáng tạo nên một nền văn hóa miền núi thì người Bàu Tró cũng tạo nên một nền văn hóa nước ở miền xuôi. Thành tựu vĩ đại của người Quảng Bình thời tiền sử là họ đã biết chế tạo những công cụ bằng đá salíc pha vẩy sét, một loại đá lửa làm công cụ lao động tốt nhất trong các loại hình văn hóa đá mới ở Việt Nam lúc bấy giờ. Mặt khác, họ còn là chủ nhân của văn hóa gốm màu sớm nhất trên đất nước ta. Điều này, chứng tỏ cộng đồng người tiền sử Quảng Bình ngay từ đầu đã có một nền tảng kỹ thuật đồ đá, đồ gốm rất cao. Người Quảng Bình thời tiền sử, từ văn hóa Hòa Bình đến văn hóa Bàu Tró, luôn mang bản sắc riêng - bản sắc của vùng đất đầy nắng và gió Lào, bản sắc của một bộ phận cư dân có tính cần cù, chịu khó, bền bỉ được hình thành cách đây trên dưới vạn năm, là ngọn nguồn tạo nên bản sắc độc đáo: Văn hóa Quảng Bình trong bản sắc văn hóa Việt Nam. 2. Quảng Bình dưới chế độ thực dân phong kiến Dưới các triều đại phong kiến Trung Quốc, nước ta bị lệ thuộc vào phong kiến phương Bắc, vùng đất Quảng Bình khi đó lúc thì thuộc quận Tượng Lâm, lúc thì thuộc quận Nhật Nam. Năm 192, triều đại Đông Hán bị đánh bại phải rút quân về nước, Quảng Bình nằm trong lãnh thổ Lâm Ấp (thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay), khi đó Quảng Bình là vùng đất địa đầu của Chăm-pa đối với các triều đại Trung Hoa cũng như các triều đại Việt khi người Việt đã giành được độc lập. Đến năm 758, Lâm Ấp đổi tên là Chiêm Thành, Quảng Bình khi đó thuộc 2 Châu: Châu Bố Chính và Châu Địa Lý. Năm 1069, để phá tan âm mưu cấu kết giữa quân xâm lược nhà Tống và Chiêm Thành, một đại quân Đại Việt do Lý Thánh Tông cầm đầu và tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy đã tiến đánh vào tận kinh thành Chăm-pa, bắt được vua Chiêm là Chế Củ đưa về Thăng Long. Để được tha, vua Chiêm cắt dâng 3 Châu: Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý (gồm Quảng Bình và các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Bắc Hướng Hóa của Quảng Trị ngày nay) cho nhà Lý. Từ đó, Quảng Bình chính thức thuộc về nước Đại Việt. Lý Thường Kiệt là người đầu tiên xác định và đặt nền móng địa giới đầu tiên của vùng đất Quảng Bình ngày nay. Năm 1075, Lý Thường Kiệt đổi tên Châu Bố Chinh thành Châu Bố Chính, Châu Địa Lý thành Châu Lâm Bình, và mảnh đất Châu Lâm Bình (Quảng Bình ngày nay) chính thức được đưa vào bản đồ nước ta. Tuy nhiên, sau giai đoạn này, địa giới và tên gọi Quảng Bình đã có nhiều thay đổi: - Năm 1361, vua Trần Duệ Tông đổi Châu Lâm Bình thành phủ Tân Bình. Năm 1336, nhân dân Quảng Bình thanh gia và đạo quân Đại Việt đánh quân Chiêm Thành từ phía Nam ra cướp phá Châu Lâm Bình. - Năm 1375, vua Trần Duệ Tông lại đổi phủ Lâm Bình thành phủ Tân Bình. - Đến triều Lê, năm 1425, nhân dân Quảng Bình đã nổi dậy phối hợp cùng đại quân của tướng Lê Hãn đánh tan quân Minh trên bờ sông Gianh. Nhiều tráng kiệt của vùng đất Tân Bình được tuyển chọn vào nghĩa quân của Lê Lợi tiến ra Bắc đánh đuổi giặc Minh, nhiều người trở thành tướng giỏi của Lê Lợi như Phạm Thượng Tướng, Nguyễn Danh Cả... trực tiếp góp phần vào cuộc chiến đấu giải phóng đất nước. Vào đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), quận Tân Bình thuộc Châu Thuận Hóa. Từ những sự kiện trên, có thể nhận thấy, Quảng Bình chính là cái nơi sản sinh nhiều danh nhân lỗi lạc không những cống hiến cho quê hương Quảng Bình, mà còn đóng góp vào công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước từ những ngày đầu dựng nước Văn Lang. - Giai đoạn 1558 - 1604, vùng đất Bắc sông Gianh gọi là xứ Đàng Ngoài, vùng Nam sông Gianh gọi là xứ Đàng Trong. Năm 1605, Nguyễn Hoàng đổi Châu Bố Chính thành phủ Quảng Bình gồm có 3 dinh: Dinh Bố Chính (trước là dinh Ngói), dinh Mười (hay dinh Lưu Đồn), dinh Quảng Bình (hay dinh Trạm). Từ đây, Quảng Bình chính thức được xác lập trên bản đồ hình chữ S. - Tuy nhiên, do nằm ở vùng đất tranh chấp của hai thế lực phong kiến, vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong, nhân dân Quảng Bình khi đó đã phải chịu biết bao khó khăn, áp bức, cuộc sống nhân dân hai vùng điêu đứng, cực khổ. Năm 1771, phong trào nông dân Đàng Trong chống áp bức đã phát triển mạnh mẽ với đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn do 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thu hút được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia vì mang tính cộng đồng và nhân văn sâu sắc. Chỉ... |
day la gi