K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Lên yt xem

21 tháng 9
PHẦN I: BẢN CHẤT LỊCH SỬ TRƯỚC KHI NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ NƯỚC1. Ai là người dẫn dắt phong trào chống Pháp trước đó?Về mặt khoa học lịch sử, giai đoạn trước khi Nguyễn Ái Quốc về nước (1941) được chia làm 3 làn sóng lãnh đạo rõ rệt:[Khủng hoảng đường lối] ➔ Cần Vương (Phong kiến) ➔ Đông Du/Duy Tân (Tư sản) ➔ Đảng Cộng sản (Vô sản)
  • Làn sóng 1: Giai cấp phong kiến (Cuối thế kỷ XIX)
    • Người dẫn dắt: Vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết (Phong trào Cần Vương); Hoàng Hoa Thám (Khởi nghĩa Yên Thế).
    • Hệ tư tưởng: Tư tưởng trung quân ái quốc (vì vua mà cứu nước).
    • Lý do thất bại: Hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời, không giải phóng được giai cấp nông dân – lực lượng đông đảo nhất.
  • Làn sóng 2: Giai cấp tư sản/tiểu tư sản (Đầu thế kỷ XX)
    • Người dẫn dắt: Cụ Phan Bội Châu (Xu hướng bạo động - dựa vào Nhật); Cụ Phan Chu Trinh (Xu hướng cải cách - dựa vào Pháp); Nguyễn Thái Học (Việt Nam Quốc dân Đảng).
    • Hệ tư tưởng: Dân chủ tư sản.
    • Lý do thất bại: Ỷ lại vào thế lực ngoại bang (Nhật/Pháp) hoặc hành động mang tính chất ám sát, khởi nghĩa vũ trang non trẻ khi chưa có lực lượng quần chúng (Khởi nghĩa Yên Bái).
  • Làn sóng 3: Ban Chấp hành Trung ương Đảng sơ khai (1930 - 1941)
    • Người dẫn dắt: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần...
    • Hệ tư tưởng: Chủ nghĩa Mác-Lênin (được Nguyễn Ái Quốc truyền bá từ xa qua các lớp huấn luyện tại Quảng Châu).
    • Trạng thái: Họ duy trì ngọn lửa cách mạng trong nước qua các cao trào 1930-1931 và 1936-1939 nhưng liên tục bị thực dân Pháp khủng bố, bắt bớ và tử hình. Phong trào thiếu một "Kiến trúc sư trưởng" trực tiếp định hướng chiến lược tại trận địa.

PHẦN II: TIẾN TRÌNH KHẢO SÁT VÀ NHẬN THỨC TẠI NƯỚC NGOÀI (1911 - 1941)Nguyễn Tất Thành ra đi không phải với tâm thế "đoán mò" mà thực hiện một quy trình nghiên cứu thực nghiệm khoa học nghiêm túc:[Bắt đầu] ➔ Khảo sát thực tế xã hội ➔ So sánh các cuộc cách mạng
➔ Tiếp thu học thuyết Lênin ➔ Kiểm chứng mô hình Quốc tế Cộng sản
  • Bước 1: Khảo sát thực nghiệm xã hội (1911 - 1917)
    • Bác đi qua gần 30 quốc gia (Pháp, Anh, Mỹ, các nước thuộc địa ở châu Phi, châu Mỹ).
    • Phát hiện khoa học: Ở đâu tên đế quốc cũng tàn bạo, ở đâu người lao động cũng bị bóc lột. Bác rút ra kết luận mang tính bản chất: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột".
  • Bước 2: Phân tích so sánh các mô hình cách mạng lớn (1917 - 1920)
    • Bác nghiên cứu sâu Cách mạng Mỹ (1776) và Cách mạng Pháp (1789).
    • Kết luận khoa học: Đây là các cuộc cách mạng tư sản, "cách mạng không đến nơi". Nghĩa là giải phóng giai cấp tư sản chứ không giải phóng nhân dân lao động.
  • Bước 3: Tìm ra quy luật giải phóng (7/1920)
    • Bác đọc Bản luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa.
    • Kết luận khoa học: Các dân tộc bị áp bức muốn độc lập thì không thể trông chờ vào sự "nhân từ" của kẻ thù hay sự giúp đỡ mang tính lợi ích của các nước tư sản khác. Con đường duy nhất là Cách mạng vô sản – giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, đi lên Chủ nghĩa xã hội.

PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP TRIỂN KHAI VÀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG KHI VỀ NƯỚC (1941)Khi về nước năm 1941, Hồ Chí Minh không áp dụng lý thuyết một cách giáo điều mà triển khai theo công nghệ chính trị học cực kỳ bài bản:[Triển khai] ➔ Thay đổi chiến lược chuyển hướng ➔ Thành lập Mặt trận Việt Minh ➔ Tổ chức lực lượng vũ trang ➔ Chớp thời cơ cách mạng
  1. Chuyển hướng chiến lược (Hội nghị TW 8 - tháng 5/1941): Bác xác định rõ: Lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử của quốc gia, dân tộc. Nhiệm vụ hàng đầu là đánh đuổi Pháp - Nhật, giải phóng dân tộc.
  2. Thành lập Mặt trận Việt Minh (1941): Đây là công cụ tập hợp lực lượng. Việt Minh không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, đảng phái, cứ ai là người Việt Nam yêu nước thì đều vào trận tuyến.
  3. Xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt: Ngày 22/12/1944, Bác chỉ đạo thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (34 chiến sĩ đầu tiên). Chữ "Tuyên truyền" đi trước chữ "Giải phóng" thể hiện tư duy khoa học: Phải làm cho dân hiểu, dân tin trước khi mang súng đi đánh trận.

PHẦN IV: CƠ CHẾ KHOA HỌC TẠO DỰNG NIỀM TIN VÀ ĐOÀN KẾT TUYỆT ĐỐILý do tại sao nhân dân và bộ đội sẵn sàng nghe theo và hy sinh dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ được giải thích bằng khoa học tâm lý và quản trị hệ thống:

Yếu tố tạo niềm tin

Cơ chế logic hoạt động

Biểu hiện thực tế

1. Tính nhất quán tuyệt đối giữa Nói và Làm

Con người chỉ tin vào nhà lãnh đạo khi thấy hành động phản ánh đúng lời nói. Bác kêu gọi chịu khổ thì chính Bác chịu khổ trước.

Sống trong hang Pác Bó, ăn cháo bẹ, rau măng. Khi làm Chủ tịch nước vẫn ở nhà sàn, đi dép cao su, mặc áo sờn vải.

2. Bằng chứng thực tế (Empirical Evidence)

Niềm tin không đến từ giáo điều, nó đến từ kết quả. Nhân dân tin Bác vì các quyết sách của Bác đều đem lại thắng lợi mắt thấy tai nghe.

Xóa mù chữ (Bình dân học vụ), cứu đói năm 1945, giành độc lập từ tay phát xít và thực dân, đánh thắng trận Điện Biên Phủ.

3. Giải bài to...

21 tháng 9
PHẦN I: BẢN CHẤT LỊCH SỬ TRƯỚC KHI NGUYỄN ÁI QUỐC VỀ NƯỚC1. Ai là người dẫn dắt phong trào chống Pháp trước đó?Về mặt khoa học lịch sử, giai đoạn trước khi Nguyễn Ái Quốc về nước (1941) được chia làm 3 làn sóng lãnh đạo rõ rệt:[Khủng hoảng đường lối] ➔ Cần Vương (Phong kiến) ➔ Đông Du/Duy Tân (Tư sản) ➔ Đảng Cộng sản (Vô sản)
  • Làn sóng 1: Giai cấp phong kiến (Cuối thế kỷ XIX)
    • Người dẫn dắt: Vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết (Phong trào Cần Vương); Hoàng Hoa Thám (Khởi nghĩa Yên Thế).
    • Hệ tư tưởng: Tư tưởng trung quân ái quốc (vì vua mà cứu nước).
    • Lý do thất bại: Hệ tư tưởng phong kiến đã lỗi thời, không giải phóng được giai cấp nông dân – lực lượng đông đảo nhất.
  • Làn sóng 2: Giai cấp tư sản/tiểu tư sản (Đầu thế kỷ XX)
    • Người dẫn dắt: Cụ Phan Bội Châu (Xu hướng bạo động - dựa vào Nhật); Cụ Phan Chu Trinh (Xu hướng cải cách - dựa vào Pháp); Nguyễn Thái Học (Việt Nam Quốc dân Đảng).
    • Hệ tư tưởng: Dân chủ tư sản.
    • Lý do thất bại: Ỷ lại vào thế lực ngoại bang (Nhật/Pháp) hoặc hành động mang tính chất ám sát, khởi nghĩa vũ trang non trẻ khi chưa có lực lượng quần chúng (Khởi nghĩa Yên Bái).
  • Làn sóng 3: Ban Chấp hành Trung ương Đảng sơ khai (1930 - 1941)
    • Người dẫn dắt: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần...
    • Hệ tư tưởng: Chủ nghĩa Mác-Lênin (được Nguyễn Ái Quốc truyền bá từ xa qua các lớp huấn luyện tại Quảng Châu).
    • Trạng thái: Họ duy trì ngọn lửa cách mạng trong nước qua các cao trào 1930-1931 và 1936-1939 nhưng liên tục bị thực dân Pháp khủng bố, bắt bớ và tử hình. Phong trào thiếu một "Kiến trúc sư trưởng" trực tiếp định hướng chiến lược tại trận địa.

PHẦN II: TIẾN TRÌNH KHẢO SÁT VÀ NHẬN THỨC TẠI NƯỚC NGOÀI (1911 - 1941)Nguyễn Tất Thành ra đi không phải với tâm thế "đoán mò" mà thực hiện một quy trình nghiên cứu thực nghiệm khoa học nghiêm túc:[Bắt đầu] ➔ Khảo sát thực tế xã hội ➔ So sánh các cuộc cách mạng ➔ Tiếp thu học thuyết Lênin ➔ Kiểm chứng mô hình Quốc tế Cộng sản
  • Bước 1: Khảo sát thực nghiệm xã hội (1911 - 1917)
    • Bác đi qua gần 30 quốc gia (Pháp, Anh, Mỹ, các nước thuộc địa ở châu Phi, châu Mỹ).
    • Phát hiện khoa học: Ở đâu tên đế quốc cũng tàn bạo, ở đâu người lao động cũng bị bóc lột. Bác rút ra kết luận mang tính bản chất: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột".
  • Bước 2: Phân tích so sánh các mô hình cách mạng lớn (1917 - 1920)
    • Bác nghiên cứu sâu Cách mạng Mỹ (1776) và Cách mạng Pháp (1789).
    • Kết luận khoa học: Đây là các cuộc cách mạng tư sản, "cách mạng không đến nơi". Nghĩa là giải phóng giai cấp tư sản chứ không giải phóng nhân dân lao động.
  • Bước 3: Tìm ra quy luật giải phóng (7/1920)
    • Bác đọc Bản luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa.
    • Kết luận khoa học: Các dân tộc bị áp bức muốn độc lập thì không thể trông chờ vào sự "nhân từ" của kẻ thù hay sự giúp đỡ mang tính lợi ích của các nước tư sản khác. Con đường duy nhất là Cách mạng vô sản – giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng giai cấp, đi lên Chủ nghĩa xã hội.

PHẦN III: PHƯƠNG PHÁP TRIỂN KHAI VÀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG KHI VỀ NƯỚC (1941)Khi về nước năm 1941, Hồ Chí Minh không áp dụng lý thuyết một cách giáo điều mà triển khai theo công nghệ chính trị học cực kỳ bài bản:[Triển khai] ➔ Thay đổi chiến lược chuyển hướng ➔ Thành lập Mặt trận Việt Minh ➔ Tổ chức lực lượng vũ trang ➔ Chớp thời cơ cách mạng
  1. Chuyển hướng chiến lược (Hội nghị TW 8 - tháng 5/1941): Bác xác định rõ: Lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử của quốc gia, dân tộc. Nhiệm vụ hàng đầu là đánh đuổi Pháp - Nhật, giải phóng dân tộc.
  2. Thành lập Mặt trận Việt Minh (1941): Đây là công cụ tập hợp lực lượng. Việt Minh không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, đảng phái, cứ ai là người Việt Nam yêu nước thì đều vào trận tuyến.
  3. Xây dựng lực lượng vũ trang làm nòng cốt: Ngày 22/12/1944, Bác chỉ đạo thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (34 chiến sĩ đầu tiên). Chữ "Tuyên truyền" đi trước chữ "Giải phóng" thể hiện tư duy khoa học: Phải làm cho dân hiểu, dân tin trước khi mang súng đi đánh trận.

PHẦN IV: CƠ CHẾ KHOA HỌC TẠO DỰNG NIỀM TIN VÀ ĐOÀN KẾT TUYỆT ĐỐILý do tại sao nhân dân và bộ đội sẵn sàng nghe theo và hy sinh dưới sự lãnh đạo của Bác Hồ được giải thích bằng khoa học tâm lý và quản trị hệ thống:

Yếu tố tạo niềm tin

Cơ chế logic hoạt động

Biểu hiện thực tế

1. Tính nhất quán tuyệt đối giữa Nói và Làm

Con người chỉ tin vào nhà lãnh đạo khi thấy hành động phản ánh đúng lời nói. Bác kêu gọi chịu khổ thì chính Bác chịu khổ trước.

Sống trong hang Pác Bó, ăn cháo bẹ, rau măng. Khi làm Chủ tịch nước vẫn ở nhà sàn, đi dép cao su, mặc áo sờn vải.

2. Bằng chứng thực tế (Empirical Evidence)

Niềm tin không đến từ giáo điều, nó đến từ kết quả. Nhân dân tin Bác vì các quyết sách của Bác đều đem lại thắng lợi mắt thấy tai nghe.

Xóa mù chữ (Bình dân học vụ), cứu đói năm 1945, giành độc lập từ tay phát xít và thực dân, đánh thắng trận Điện Biên Phủ.

3. Giải bài toán lợi ích cốt lõi của quần chúng

21 tháng 9

mik chỉnh sửa lại do ghi thiếu

Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời các câu hỏi sau: Cuối thế kỉ XIX, ngọn cờ phong kiến đã tỏ ra lỗi thời. Giữa lúc đó, trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản bắt đầu dội vào Việt Nam qua Nhật Bản, Trung Quốc và Pháp. Đang trong lúc bế tắc về tư tưởng, các sĩ phu yêu nước Việt Nam thời đó đã hồ hởi đón nhận những ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng mới....
Đọc tiếp

Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời các câu hỏi sau: Cuối thế kỉ XIX, ngọn cờ phong kiến đã tỏ ra lỗi thời. Giữa lúc đó, trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản bắt đầu dội vào Việt Nam qua Nhật Bản, Trung Quốc và Pháp. Đang trong lúc bế tắc về tư tưởng, các sĩ phu yêu nước Việt Nam thời đó đã hồ hởi đón nhận những ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng mới. Họ cổ súy cho “văn minh tân học” và mở cuộc vận động đổi mới trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa. Tuy nhiên, do tầm nhìn hạn chế và có những trở lực không thể vượt qua, cuối cùng cuộc vận động yêu nước của các sĩ phu đầu thế kỉ XX đã thất bại. Bên cạnh cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản, trong hơn 10 năm đầu thế kỉ XX vẫn tiếp tục bùng nổ phong trào đấu tranh của nông dân, điển hình là khởi nghĩa Yên Thế và các cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất, phong trào cách mạng Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo. Nhiều cuộc đấu tranh, nhất là các cuộc đấu tranh của nông dân và binh lính, bị mất phương hướng, bị đàn áp đẫm máu và thất bại nhanh chóng. Chính trong bối cảnh lịch sử đó, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm con đường cứu nước mới. Những hoạt động của Người trong thời kì này là cơ sở quan trọng để Người xác định con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.  (Nguồn Lịch sử 11, trang 156)

Những năm cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX, tư tưởng tiến bộ từ những nước nào đã ảnh hưởng đến Việt Nam?

1
9 tháng 5 2019

Vào đầu thế kỉ XX, cùng với sự xuất hiện của tầng lớp tư sản và tiểu tư sản, nhiều Tân thư, Tân báo của Trung Hoa cổ động cho tư tưởng dân chủ tư sản được đưa vào nước ta. Thêm nữa là những tư tưởng đổi mới của Nhật Bản sau cuộc Duy tân Minh Trị (1868) ngày càng củng cố niềm tin của họ vào con đường cách mạng tư sản.

=> Những năm cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, tư tưởng tiến bộ từ Trung Quốc và Nhật Bản đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Việt Nam.

Đáp án cần chọn là: B

Sau khi học bài 4: Các nước Đông Nam Á ( Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX ) Ta có câu hỏi: Câu hỏi 1: Tại sao Thái Lan có thể cải cách nhanh như vậy? Câu hỏi 2: Chủ nghĩa đế quốc phương Tây đã tác động như thế nào đến các dân tộc ở Đông Nam Á ? Tại sao các nước đế quốc Âu - Mĩ lại quan tâm đến các nước ở Châu Á - Thái Bình Dương ? Câu hỏi 3: Hãy viết một bài báo lý giải...
Đọc tiếp
Sau khi học bài 4: Các nước Đông Nam Á ( Cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX ) Ta có câu hỏi: Câu hỏi 1: Tại sao Thái Lan có thể cải cách nhanh như vậy? Câu hỏi 2: Chủ nghĩa đế quốc phương Tây đã tác động như thế nào đến các dân tộc ở Đông Nam Á ? Tại sao các nước đế quốc Âu - Mĩ lại quan tâm đến các nước ở Châu Á - Thái Bình Dương ? Câu hỏi 3: Hãy viết một bài báo lý giải vì sao trong điều kiện, bối cảnh, không gian, thời gian và thách thức tương tự vương quốc Xiêm đã thực hiện thành công tư tưởng cải cách, trong khi những tư tưởng canh tân ở Việt Nam lại không được thực hiện hóa? Gợi ý: Tìm hiểu về sự hình thành triều đại Charkit ở Xiêm và triều Nguyễn ở Việt Nam. Tìm hiểu về nền kinh tế ở hai quốc gia. Tìm hiểu về cơ cấu xã hội của 2 quốc gia.
0
13 tháng 8 2018

Những câu thơ trên nằm trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước” của nhà thơ Chế Lan Viên, nhắc đến sự kiện ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước

Đáp án cần chọn là: A

23 tháng 12 2018

Đáp án là A

Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời các câu hỏi sau: Từ năm 1897, sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa cuối cùng trong phong trào Cần Vương là khởi nghĩa Hương Khê và tiến hành giảng hòa với Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa quy mô, có hệ thống trên toàn cõi Đông Dương. Việt Nam dần dần trở thành một nước nửa thuộc...
Đọc tiếp

Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời các câu hỏi sau: Từ năm 1897, sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa cuối cùng trong phong trào Cần Vương là khởi nghĩa Hương Khê và tiến hành giảng hòa với Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa quy mô, có hệ thống trên toàn cõi Đông Dương. Việt Nam dần dần trở thành một nước nửa thuộc địa nửa phong kiến và biến thành nơi cung cấp sức người, sức của rẻ mạt cho Pháp. Để đảm bảo lợi nhuận tối đa, thực dân Pháp đặt thêm nhiều thứ thuế mới, nặng hơn các thứ thuế của triều đình Huế trước kia. Chúng ra sức kìm hãm sự phát triển của Việt Nam, cột chặt nền kinh tế Việt Nam vào kinh tế chính quốc. Tuy nhiên, công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp cũng làm nảy sinh những nhân tố mới, ngoài ý muốn của chúng. Vào đầu thế kỉ XX, ở Việt Nam đã xuất hiện những thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa, dù còn non yếu. Thành thị mọc lên. Một số cơ sở công nghiệp ra đời. Cơ cấu kinh tế biến động, một số tầng lớp mới xuất hiện. Giai cấp công nhân Việt Nam thời kì này vẫn đang trong giai đoạn tự phát. Tư sản và tiểu tư sản thành thị lớn lên cùng với sự nảy sinh các nhân tố mới, song vẫn chưa trở thành giai cấp thực thụ. Mặc dù vậy, các tầng lớp xã hội này, đặc biệt là bộ phận sĩ phu đang trên con đường tư sản hóa, đã đóng một vai trò khá quan trọng trong việc tiếp thu những luồng tư tưởng mới để dấy lên một cuộc vận động yêu nước tiến bộ, mang màu dân chủ tư sản ở nước ta hồi đầu thế kỉ XX. (Nguồn Lịch sử 11, trang 155)

Lực lượng xã hội nào đã có đóng góp quan trọng đối với phong trào yêu nước ở Việt Nam trong thập niên đầu thế kỉ XX?

1
12 tháng 4 2019

Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa, xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi. Trong đó, bộ phận sĩ phu đang trên con đường tư sản hóa (hay nói cách khác là trí thức Nho học) đã đóng vai trò khá quan trọng trong tiếp thu luồng tư tưởng mới, để dấy lên một cuộc vận động yêu nước tiến bộ, mang màu sắc dân chủ tư sản.

Có thể kể đến những cái tên tiêu biểu trong giới trí thức Nho học, tiếp thu luồng tư tưởng dân chủ tư sản như: Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh - tiêu biểu cho phong trào dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX.

Đáp án cần chọn là: C

Cho các nhận định sau:   1. Mâu thuẫn về quyền lợi, thị trường và thuộc địa giữa các nước đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ nhất là nguyên nhân sâu xa dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ hai.   2. Trận phản công của quân đội Liên Xô ở Xta-lin-grat đã tạo nên bước ngoặt, làm xoay chuyển tình thế của cuộc chiến tranh.   3. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã dẫn đến...
Đọc tiếp

Cho các nhận định sau:

   1. Mâu thuẫn về quyền lợi, thị trường và thuộc địa giữa các nước đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ nhất là nguyên nhân sâu xa dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ hai.

   2. Trận phản công của quân đội Liên Xô ở Xta-lin-grat đã tạo nên bước ngoặt, làm xoay chuyển tình thế của cuộc chiến tranh.

   3. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã dẫn đến những biến đổi căn bản của tình hình thế giới.

   4. Giai đoạn đầu, Chiến tranh thế giới thứ hai là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa, từ khi Liên Xô tham chiến, tính chất của cuộc chiến tranh có sự thay đổi: tính chất phi nghĩa thuộc về phe phát xít; tính chất chính nghĩa thuộc về các dân tộc đã kiên cường chống chủ nghĩa phát xít, bảo về hòa bình thế giới.

   Trong số các nhận định trên, có bao nhiêu nhận định chính xác?

1
11 tháng 10 2018

Đáp án D

Cho các nhận định sau:   1. Mâu thuẫn về quyền lợi, thị trường và thuộc địa giữa các nước đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ nhất là nguyên nhân sâu xa dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ hai.   2. Trận phản công của quân đội Liên Xô ở Xta-lin-grát đã tạo nên bước ngoặt, làm xoay chuyển tình thế của cuộc chiến tranh.   3. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã dẫn đến...
Đọc tiếp

Cho các nhận định sau:

   1. Mâu thuẫn về quyền lợi, thị trường và thuộc địa giữa các nước đế quốc sau Chiến tranh thế giới thứ nhất là nguyên nhân sâu xa dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ hai.

   2. Trận phản công của quân đội Liên Xô ở Xta-lin-grát đã tạo nên bước ngoặt, làm xoay chuyển tình thế của cuộc chiến tranh.

   3. Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã dẫn đến những biến đổi căn bản của tình hình thế giới.

   4. Giai đoạn đầu, Chiến tranh thế giới thứ hai là cuộc chiến tranh đế quốc phi nghĩa, từ khi Liên Xô tham chiến, tính chất của cuộc chiến tranh có sự thay đổi: tính chất phi nghĩa thuộc về phe phát xít; tính chất chính nghĩa thuộc về các dân tộc đã kiên cường chống chủ nghĩa phát xít, bảo về hòa bình thế giới.

   Trong số các nhận định trên, có bao nhiêu nhận định chính xác?

1
12 tháng 4 2018

Đáp án D

“Phàm có tai mắt ắt cùng nghe thấy, thì cùng mối thù của đất nước chẳng đội chung trời nên bàn rằng: bậc hiền nhân quân tử có chí khí đau xót cho thời thế, nay trẫm mượn nước Ngu để đánh nước Quắc, mưu định dẹp loài mọi rợ, phải sớm dựa vào nước ngoài, đã tụ họp được nhiều người, nhưng không tiền của sao nuôi dưỡng (lực lượng) được. Trẫm riêng lo vậy. Nếu như...
Đọc tiếp

“Phàm có tai mắt ắt cùng nghe thấy, thì cùng mối thù của đất nước chẳng đội chung trời nên bàn rằng: bậc hiền nhân quân tử có chí khí đau xót cho thời thế, nay trẫm mượn nước Ngu để đánh nước Quắc, mưu định dẹp loài mọi rợ, phải sớm dựa vào nước ngoài, đã tụ họp được nhiều người, nhưng không tiền của sao nuôi dưỡng (lực lượng) được. Trẫm riêng lo vậy. Nếu như các bề tôi trung, người dân có nghĩa ở miền Nam hẵng xuất của cải giúp nước, thì sẽ đem họ tên, số tiền ghi vào sổ vàng, đợi ngày sau sự nghiệp hoàn thành, chiếu theo số mà hoàn trả gấp bội và đền bù vàng, phong hộ (phong thực ấp) chẳng dè sẻn gì đối với ơn xưa”

Đoạn trích trên thuộc văn bản nào

1
22 tháng 10 2017

Đoạn trên được trích từ chiếu Cần Vương Tôn Thất Thuyết thay vua Hàm Nghi ban ra vào ngày 13-7-1885. Chiếu Cần Vương tố cáo âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, sự phản bội của một số quan lại, tính bất hợp pháp của triều đình Đồng Khánh do Pháp mới dựng lên và khích lệ sĩ phu, văn thân và nhân dân cả nước quyết tâm kháng chiến đến cùng

Đáp án cần chọn là: B

22 tháng 2 2016

- Cuộc khởi nghĩa của A-cha Xoa (1863 - 1866) diễn ra ở các tỉnh giáp biên giới Cam-pu-chia - Việt Nam. Nhân dân Việt Nam đã sẵn sàng giúp đỡ A-cha Xoa chống Pháp. Biên giới Việt Nam - Cam-pu-chia trở thành căn cứ của cuộc khởi nghĩa.

- Khởi nghĩa của Pu-côm-bô (1866 - 1867) cũng là một biểu tượng về liên minh chiến đấu chống Pháp của nhân dân hai nước Việt Nam - Cam-pu-chia: xây dựng căn cứ ở Tây Ninh, trong hàng ngũ nghĩa quân có nhiều người Việt Nam tham gia, có sự liên kết của nghĩa quân Trương Quyền, Võ Duy Dương,…

- Cuộc khởi nghĩa của nhân dân Lào (1901 - 1903) dưới sự lãnh đạo của Pha-ca-đuốc, địa bàn hoạt động mở rộng sang cả vùng biên giới Lào - Việt…. 

 

22 tháng 2 2016

*Khái quát chung: 
VN,Lào,CpC là 3 nước nằm trên bán đảo Đông Dương có nhiều nét tương đồng về Lịch sử, văn hóa và từng gắn bó chặt chẽ với nhau trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là thực dân Pháp xâm lược từ cuối thế kỉ 19.
Năm 1930 ĐCS Đông Dương ra đời đã trực tiếp lãnh đạo 3 dân tộc VN,Lào,CPC trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, Mĩ.

*Tình đoàn kết trong cuộc kháng chiến chống Pháp(1945-1954):
11/3/1951 Liên minh chiến đấu Việt-Miên-Lào được thành lập , biểu hiện tinh thần đoàn kết của nhân dân 3 nước Đông Dương trong sự nghiệp kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

-Tình đoàn kết giữa VN-Lào .
+8/4-15/8/1953: Bộ đội VN phối hợp cùng quân dân Lào mở chiến dịch Thượng Lào giải phóng toàn bộ tỉnh Sầm Nưa,1 phần tỉnh Xiêng Khoảng và tỉnh Phongxali với trên 30 vạn dân.
+Trong chiến cuộc đông xuân 1953-1954 liên quân Việt-Lào mở nhiều chiến dịch tiến công để làm bước đầu phá sản kế hoạch NaVa .
+ Đầu t12/1953 : Liên quân Việt-Lào mở cuộc tiến công Địch ở Trung Lào tiêu diệt trên 3 tiểu đoàn Âu-Phi, giải phóng 4 vạn km2 và thi xã Thà Khẹt , bao vây uy hiếp Xavanakhet và căn cứ Xê-nô.
+Cuối t1/1954: Liên quân Việt-Lào tiến công địch ở Thượng Lào, giải phóng lưu vực sông Nậm Hu , toàn tỉnh Phongxali . Căn cứ kháng chiến của nhân dân Lào được mỏ rộng thêm gần 1 vạn km2.

Sau thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ ở VN, Pháp buộc phải công nhận độc lập, chủ quyền,thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cho 3 nước VN-Lào-CPC.

*Trong kháng chiến chống Mĩ.
-VN-Lào:
Sau khi Pháp thất bại ở chiến trường Đông Dương , Mĩ đã thế chân Pháp để chiếm đóng Lào, biến Lào trở thành thuộc địa kiểu mới và là căn cứ quân sự của Mĩ. Vì vậy, nhân dân VN lại cùng sát cánh với nhân dân Lào kháng chiến chống Mĩ xâm lược.
+Từ 24-25/4/1970 : Hội nghị cấp cao 3 nước Đông Dương họp biểu thị quyết tâm đoàn kết của 3 nước trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
+Từ 12/2-23/3/1971 : Quân đội VN có sự phối hợp của quân dân Lào đã tập tan cuộc hành quân mang tên "Lam Sơn 719" của 4,5 vạn quân Mĩ và quân đội Sài Gòn ,loại khỏi vòng chiến đấu 22000 tên địch, buộc chúng phải rút khỏi đường 9-Nam Lào,giữ vững hành lang chiến lược của cách mạng Đông Dương.
+Với sự giúp đỡ của quân tình nguyện VN từ 1954-1973, quân dân Lào đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới của Mĩ. Buộc Mĩ phải kí hiệp định Viêng Chăn (21/2/1973) lập lại hòa bình, thực hiện hòa hợp dân tộc Lào.
+T5-T12/1975: Hòa theo thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân dân VN, quân dân Lào nổi dậy đấu tranh giành chính quyền trong cả nước, thành lập nước CHDCND Lào(2/12/1975).

VN-CPC:
-Từ 30/4-30/6 quân đội VN có sự phối hợp của quân dân CPC đã đập tan cuộc hành quân xâm lược CPC của 10 vạn quân Mĩ và quân đội Sài Gòn , loại khỏi vòng chiến đấu 17000 tên địch , giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn với trên 4,5 triệu dân.
+17/4/1975: Với sự giúp đỡ của quân tình nguyện VN , thủ đô PhnomPenh được giải phóng , nhân dân CPC kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đưa đất nước CPC bước vào 1 thời kì mới.

Trong suốt nhiều năm qua, nhiều chuyến thăm cấp cao , nhiều hiệp định về kinh tế-văn hóa được kí kết ở VN-Lào-CPC. Mối quan hệ hữu nghị giữa 3 dân tộc ngày càng phát triển khi cả 3 nước đều trở thành thành viên của ASEAN , đều phấn đấu vì lợi ích chung của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực và trên thế giới.