Chia sẻ bí kíp học và vận dụng Vật lí 12

K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.


Chia sẻ bí kíp học và vận dụng Vật lí 12

Khi mới bắt đầu học Vật lí 12, mình cảm thấy môn học này khá khó. Có rất nhiều công thức, đại lượng và dạng bài khác nhau nên đôi khi mình không biết phải bắt đầu từ đâu. Có những lúc mình đã học thuộc công thức nhưng khi gặp một bài tập có cách hỏi khác đi một chút thì lại không biết áp dụng như thế nào. Điều đó khiến mình nghĩ rằng Vật lí là một môn rất khó và cần phải có khả năng tư duy đặc biệt mới học tốt được.

Nhưng sau một thời gian học và luyện tập, mình dần nhận ra rằng Vật lí không khó như mình nghĩ. Phần lớn những bài mình làm sai không phải vì bài quá khó mà do mình nhớ hoặc áp dụng sai công thức, đổi sai đơn vị, tính toán nhầm hoặc chưa xác định đúng dạng bài. Vì vậy, mình bắt đầu thay đổi cách học. Thay vì cố học thuộc thật nhiều công thức, mình tìm hiểu ý nghĩa của từng công thức, xem mỗi đại lượng có đơn vị gì và công thức đó được dùng trong trường hợp nào. Sau đó, mình luyện cách vận dụng qua những bài có số liệu cụ thể.

Phần 1: Dao động điều hòa

Một vật dao động điều hòa có biên độ
𝐴
=
10

𝑐
𝑚
, tần số
𝑓
=
2

𝐻
𝑧
.

Câu hỏi: Tốc độ cực đại của vật bằng bao nhiêu?

Trước tiên, mình chú ý đến đơn vị:

𝐴
=
10

𝑐
𝑚
=
0
,
10

𝑚

Tần số góc:

𝜔
=
2
𝜋
𝑓
=
4
𝜋

𝑟
𝑎
𝑑
/
𝑠

Tốc độ cực đại:

𝑣
𝑚
𝑎
𝑥
=
𝜔
𝐴

𝑣
𝑚
𝑎
𝑥
=
4
𝜋
×
0
,
10

1
,
26

𝑚
/
𝑠

Vậy tốc độ cực đại của vật khoảng
1
,
26

𝑚
/
𝑠
.

Qua bài này, mình nhận ra một lỗi rất dễ gặp là quên đổi đơn vị. Vì vậy, trước khi tính mình luôn kiểm tra xem các đại lượng đã cùng hệ đơn vị hay chưa.

Nếu đề cho biên độ
𝐴
, tần số góc
𝜔
và li độ
𝑥
, đồng thời yêu cầu tìm vận tốc, mình có thể sử dụng:

𝑣
2
=
𝜔
2
(
𝐴
2

𝑥
2
)

Như vậy không cần mất thời gian tìm pha hoặc lập phương trình dao động nếu đề không yêu cầu.

Phần 2: Sóng cơ

Một sóng có tần số
𝑓
=
50

𝐻
𝑧
, truyền với vận tốc
𝑣
=
20

𝑚
/
𝑠
.

Câu hỏi: Bước sóng bằng bao nhiêu?

Ta có:

𝑣
=
𝜆
𝑓

Suy ra:

𝜆
=
𝑣
𝑓

𝜆
=
20
50
=
0
,
4

𝑚
=
40

𝑐
𝑚

Vậy bước sóng bằng
0
,
4

𝑚
, hay
40

𝑐
𝑚
.

Ở phần này, mình thường tự hỏi: “Nếu tần số tăng mà vận tốc truyền sóng không đổi thì bước sóng sẽ thay đổi như thế nào?”. Từ công thức trên, mình có thể suy ra ngay rằng khi
𝑓
tăng thì
𝜆
giảm.

Phần 3: Điện xoay chiều

Một mạch RLC nối tiếp có:

𝑅
=
40

Ω
,
𝑍
𝐿
=
60

Ω
,
𝑍
𝐶
=
30

Ω

và điện áp hiệu dụng:

𝑈
=
100

𝑉

Câu hỏi: Cường độ dòng điện hiệu dụng bằng bao nhiêu?

Đầu tiên tính tổng trở:

𝑍
=
𝑅
2
+
(
𝑍
𝐿

𝑍
𝐶
)
2

𝑍
=
40
2
+
(
60

30
)
2
=
50

Ω

Sau đó:

𝐼
=
𝑈
𝑍
=
100
50
=
2

𝐴

Vậy cường độ dòng điện hiệu dụng là
2

𝐴
.

Trước đây mình dễ nhầm bằng cách cộng tất cả các đại lượng trở kháng với nhau. Sau khi hiểu bản chất, mình biết rằng
𝑍
𝐿

𝑍
𝐶
phải lấy hiệu trước.

Phần 4: Giao thoa ánh sáng

Trong thí nghiệm Young, khoảng vân:

𝑖
=
2

𝑚
𝑚

Câu hỏi: Khoảng cách từ vân sáng bậc 2 đến vân sáng bậc 5 là bao nhiêu?

Ta có:

𝑑
=
(
5

2
)
𝑖

𝑑
=
3
×
2
=
6

𝑚
𝑚

Vậy khoảng cách cần tìm là
6

𝑚
𝑚
.

Bài này cho mình kinh nghiệm rằng không phải cứ thấy vân bậc 2 và bậc 5 là lấy
5
𝑖
. Cần hiểu vị trí của từng vân rồi lấy hiệu hai vị trí.

Phần 5: Vật lí hạt nhân

Một chất phóng xạ có chu kỳ bán rã:

𝑇
=
4



Sau thời gian:

𝑡
=
12



Câu hỏi: Lượng chất còn lại bằng bao nhiêu phần ban đầu?

Ta có:

𝑡
𝑇
=
12
4
=
3

Sau 3 chu kỳ bán rã:

𝑚
=
𝑚
0
(
1
2
)
3
=
𝑚
0
8

Vậy lượng chất còn lại bằng
1
/
8
lượng chất ban đầu.

Kinh nghiệm của mình là khi gặp bài phóng xạ, mình thường tính
𝑡
/
𝑇
trước. Nếu ra số nguyên thì có thể suy ra rất nhanh lượng chất còn lại.

Phần 6: Cách xử lý khi làm sai

Khi làm sai một bài, mình không chỉ xem đáp án rồi chuyển sang bài khác. Mình kiểm tra lại từng bước: có đọc đúng đề không, có xác định đúng dạng bài không, có chọn đúng công thức không, các đại lượng đã cùng đơn vị chưa, có tính sai hoặc nhầm dấu không và kết quả có hợp lí không.

Ví dụ, nếu đề cho chiều dài
20

𝑐
𝑚
mà mình đưa trực tiếp vào một công thức yêu cầu đơn vị
𝑚
, kết quả có thể sai dù công thức hoàn toàn đúng. Vì vậy, đôi khi lỗi không nằm ở kiến thức mà chỉ nằm ở một bước rất nhỏ.

Phần 7: Cách tự kiểm tra bằng suy luận

Ngoài việc tính toán, mình còn tập tự hỏi: “Nếu đại lượng này tăng thì đại lượng kia sẽ thay đổi như thế nào?”.

Ví dụ:

𝑣
=
𝜆
𝑓

Nếu
𝑣
không đổi mà
𝑓
tăng thì:

𝜆
=
𝑣
𝑓

sẽ giảm.

Cách suy nghĩ này giúp mình kiểm tra nhanh xem đáp án có hợp lí hay không. Nếu tính toán ra một kết quả trái với mối quan hệ giữa các đại lượng thì mình biết rằng cần xem lại.

Phần 8: Không nên học thuộc công thức một cách máy móc

Theo mình, một trong những nguyên nhân khiến Vật lí trở nên khó là học công thức nhưng không hiểu công thức dùng để làm gì.

Ví dụ, thay vì chỉ nhớ:

𝑣
𝑚
𝑎
𝑥
=
𝜔
𝐴

mình cố hiểu rằng tốc độ lớn nhất xảy ra khi vật đi qua vị trí cân bằng. Khi đó công thức sẽ dễ nhớ hơn và khi gặp bài biến đổi mình cũng biết cách sử dụng.

Tương tự, với:

𝐼
=
𝑈
𝑍

mình hiểu rằng với cùng một điện áp, tổng trở càng lớn thì dòng điện càng nhỏ. Nhờ hiểu mối quan hệ này, mình có thể xử lý cả những câu hỏi định tính chứ không chỉ câu hỏi tính toán.

Phần 9: Kinh nghiệm khi gặp bài khó

Khi gặp một bài khó, mình không cố tìm ngay công thức để thay số. Mình chia bài thành những thông tin nhỏ hơn.

Đầu tiên, mình xác định bài thuộc chương nào. Sau đó ghi ra những đại lượng đề đã cho cùng đơn vị của chúng. Tiếp theo, mình xác định đại lượng cần tìm và tìm công thức liên hệ giữa chúng.

Nếu chưa giải được, mình thử xem bài có thể tách thành những bước nhỏ hơn hay không. Nhiều bài nhìn dài và khó nhưng thực chất chỉ gồm hai hoặc ba công thức quen thuộc ghép lại.

Phần 10: Kinh nghiệm mình rút ra

Sau một thời gian học, mình nhận ra Vật lí không quá khó như mình từng nghĩ. Khó khăn lúc đầu chủ yếu là vì mình chưa quen với cách tư duy của môn học và chưa biết cách vận dụng công thức.

Bây giờ, trước mỗi bài, mình thường thực hiện theo một trình tự đơn giản: đọc kỹ đề, xác định dạng bài, ghi các đại lượng và đơn vị, chọn công thức, thay số, sau đó kiểm tra kết quả.

Mình cũng thường tự hỏi: “Nếu thay đổi đại lượng này thì kết quả sẽ thay đổi như thế nào?”. Cách này giúp mình hiểu bản chất và nhớ kiến thức lâu hơn thay vì chỉ học thuộc công thức.

Đối với mình, điều quan trọng nhất khi học Vật lí 12 là không sợ sai. Mỗi lần làm sai đều có thể trở thành một kinh nghiệm nếu mình tìm được nguyên nhân. Có thể là sai công thức, sai đơn vị, sai dấu, đọc thiếu dữ kiện hoặc chưa hiểu đúng bản chất của bài.

Từ chỗ cảm thấy Vật lí rất khó, mình dần nhận ra rằng khi nắm được công thức, đơn vị, cách nhận dạng và cách vận dụng thì môn học này trở nên dễ hiểu hơn rất nhiều.

Cảm ơn các bạn đã đọc những chia sẻ của mình. Mình hy vọng những kinh nghiệm trên sẽ giúp các bạn học Vật lí 12 dễ dàng và hiệu quả hơn. Chúc các bạn luôn học tập tốt, tự tin và đạt được kết quả mà mình mong muốn!

7
7 giờ trước (21:20)

chữ lỗi r

mk góp ý: các công thức/ đơn vị thì bn viết trog cùng 1 dòng để tránh lãng phí dòng và thuận mắt ng đọc nhé!

Cảm ơn bạn đã chia sẻ bí quyết học tập hiệu quả môn vật lý đến cộng đồng :/

7 giờ trước (21:22)

Sau khi đọc bài của bạn, mình rút ra đc ưu vs nhc điểm của bạn như sau:

Ưu điểm:

ND đầy đủ, trình bày rõ, dễ hiểu

Có nhiều VD thực tế => KT V/L gần gũi hơn

Đưa ra PP học cụ thể, nhất là 4 câu hỏi khi làm bài 

nhấn mạnh hiểu bản chất thay vì HT công thức

VD về RLC, dao động, sóng, TK, phóng xạ khá đa dạng

Có tính động viên, giúp HS bớt sợ V/L

Nhc điểm:

Bài khá dài, dễ bị lan man

số ý bị lặp, nhất là ý “hiểu bản chất thay vì HT công thức”

Có nhiều KT V/L 12 => chưa thật sự phù hợp vs HS mới học V/L

Một số VD chỉ mang tính hình dung, chưa có BT cụ thể để áp dụng ngay

Phần RLC và 1 số ND nâng cao đc nhắc khá nhanh => ng chưa học có thể khó hiểu

nhma có ng chia sẻ học vật lý r ma

7 giờ trước (21:38)

ừm cảm ơn vì bạn đã chia sẻ góp ý nhớ viết dùng mã talex cẩn thận


6 giờ trước (22:38)

ChatGPT à

ChatGPT toàn như này thôi

3 tháng 6 2016

Ca này khó, bạn học lí thuyết có trong SGK chương trình cơ bản rồi tự hệ thống các công thức cho mình theo từng chương.

haha

9 tháng 1 2019

- Ta có:

Bài tập trắc nghiệm Vật Lí 12 | Câu hỏi trắc nghiệm Vật Lí 12

- Điều kiện để U_L cực đại khi điều chỉnh L là:

Bài tập trắc nghiệm Vật Lí 12 | Câu hỏi trắc nghiệm Vật Lí 12

Bài 1: Mạch điện gồm một biến trở R mắc nối tiếp với cuộn dây không thuần cảm r=10Ω và tụ điện C. Thay đổi R ta thấy với hai giá trị R1=15Ω và R2=39Ω thì mạch tiêu thụ công suất như nhau. Để công suất tiêu thụ trên mạch đạt cực đại thì R bằng bao nhiêu?Bài 2: Cho đoạn mạch xoay chiều gồm ba phần tử: Điện trở R, tụ điện C và cuộn dây thuần cảm L mắc nối tiếp, giá trị của...
Đọc tiếp

Bài 1: Mạch điện gồm một biến trở R mắc nối tiếp với cuộn dây không thuần cảm r=10Ω và tụ điện C. Thay đổi R ta thấy với hai giá trị R1=15Ω và R2=39Ω thì mạch tiêu thụ công suất như nhau. Để công suất tiêu thụ trên mạch đạt cực đại thì R bằng bao nhiêu?

Bài 2: Cho đoạn mạch xoay chiều gồm ba phần tử: Điện trở R, tụ điện C và cuộn dây thuần cảm L mắc nối tiếp, giá trị của L có thể thay đổi được. Biết hiệu điện thế giữa hai đầu đoạn mạch AB là u=100\(\sqrt{2}\) cos(100πt + π/6) (V), R=100Ω, C=(10-4)/(2π), vôn kế lí tưởng. Khi thay đổi L, thấy có một giá trị làm cho vôn kế chỉ cực đại, giá trị đó của L là bao nhiêu?

Bài 3: Mạch điện xoay chiều gồm R, L, C ghép nối tiếp. Đặt điện áp xoay chiều có giá trị hiệu dụng U=100\(\sqrt{3}\) V vào hai đầu đoạn mạch. Khi I biến thiên, có một giá trị của L làm UmaxL, lúc đó thấy UC = 200V. Hiệu điện thế trên cuộn dây thuần cảm đạt giá trị cực đại bằng bao nhiêu?

Bài 4: Đặt điện áp giữa hai đầu đoạn mạch AB là: u=120\(\sqrt{2}\) cosωt (V). Khi G là ampe kế lí tưởng thì nó chỉ \(\sqrt{3}\) A. Khi thay G bằng vôn kế lí tưởng thì nó chỉ 60V, lúc đó điện áp giữa hai đầu MB lệch pha 600 so với điện áp giữa hai đầu AB. Tìm tổng trở của cuộn dây.

2
29 tháng 11 2016

Bài 1:

Để công suát tiêu thụ trê mạch cực đại thì:

\((R+r)^2=(R_1+r)(R_1+r)\)

\(\Rightarrow (R+10)^2=(15+10)(39+10)\)

\(\Rightarrow R=25\Omega\)

29 tháng 11 2016

Bài 2: Có hình vẽ không bạn? Vôn kế đo hiệu điện thế của gì vậy?

13 tháng 8 2017

Do vật không chịu tác dụng của lực ma sát, nên cơ năng không đổi,

Khi chịu tác dụng lực thì vật dao động quanh vị trí cân bằng O’ mới. khi ngứng tác dụng lực thì vị trí và vận tốc tại thời điểm đó thay đổi, vị trí cân bằng trở lại vị trí cũ, nhưng cơ năng bảo toàn nên vận tốc cực đại vẫn như cũ

Đáp án C

17 tháng 10 2015

Nối tắt cái gì thì ta bỏ cái đó ra khỏi mạch bạn à. Bạn vẽ giản đồ véc tơ ra sẽ thấy, khi bỏ C đi thì độ lệch pha của u và i thay đổi.

Ta căn cứ theo pha của u làm gốc, như vậy pha của i sẽ thay đổi.

17 tháng 10 2015

Nối tắt C thì \(U_R\) tăng \(\sqrt{2}\) lần \(\Rightarrow Z_2=\frac{Z_1}{\sqrt{2}}\) (I tăng \(\sqrt{2}\) lần nên tổng trở giảm \(\sqrt{2}\) lần)

Hệ số công suất: \(\cos\varphi=\frac{R}{Z}\)

Suy ra \(\cos\varphi_1=\frac{R}{Z_1}\)\(\cos\varphi_2=\frac{R}{Z_2}\)

\(\Rightarrow\frac{\cos\varphi_1}{\cos\varphi_2}=\frac{Z_2}{Z_1}=\frac{1}{\sqrt{2}}\)(*)

Mà dòng điện trong 2 trường hợp vuông pha nên: \(\varphi_2-\varphi_1=\frac{\pi}{2}\Rightarrow\varphi_2=\frac{\pi}{2}+\varphi_1\)

\(\cos\varphi_2=\cos\left(\frac{\pi}{2}+\varphi_1\right)=-\sin\varphi_1\)

Thay vafo (*) \(\Rightarrow-\cot\varphi_1=\frac{1}{\sqrt{2}}\Rightarrow\tan\varphi_1=-\sqrt{2}\)

\(\Rightarrow\cos\varphi_1=\frac{1}{\sqrt{3}}\)

4 tháng 8 2015

Vì điện áp tức thời thì cộng các điện áp thành phân với nhau nên u = uR + uC  --> uC = u - uR = \(100\sqrt{3}-50\sqrt{3}=50\sqrt{3}\)V

Do uR vuông pha với uC nên: \(\left(\frac{u_R}{U_{0R}}\right)^2+\left(\frac{u_C}{U_{0C}}\right)^2=1\)

\(\Leftrightarrow\left(\frac{50\sqrt{3}}{100}\right)^2+\left(\frac{50\sqrt{3}}{U_{0C}}\right)^2=1\Rightarrow U_{0C}=100\sqrt{3}\)

\(\Rightarrow U_C=\frac{U_{0c}}{\sqrt{2}}=100\sqrt{6}\)

4 tháng 8 2015

giờ  mình mới biết có công thức này. cảm ơn bạn nhé!

thưa thầy em mới biết thêm được phương pháp dùng vecto trượt giải toán điện xoay chiều ( hay nói cách khác là nối vecto)làm một số dạng bài tập có sử dụng phương pháp này, em làm thêm cách giản đồ vecto thông thường để so sánh và rút ra 1 số vấn đề:- cả 2 cách đều ra kết quả như nhau chỉ khác về hình vẽ nên tính toán sẽ khác- dùng vecto trượt nhanh hơn đôi chút, phần hình và...
Đọc tiếp

thưa thầy em mới biết thêm được phương pháp dùng vecto trượt giải toán điện xoay chiều ( hay nói cách khác là nối vecto)

làm một số dạng bài tập có sử dụng phương pháp này, em làm thêm cách giản đồ vecto thông thường để so sánh và rút ra 1 số vấn đề:

- cả 2 cách đều ra kết quả như nhau chỉ khác về hình vẽ nên tính toán sẽ khác

- dùng vecto trượt nhanh hơn đôi chút, phần hình và tính toán dễ dàng hơn ( trong 1 số bài phức tạp)

- tuy nhiên đối với một số bài có tính chặt chẽ  thì dùng vecto trượt có thể dẫn đến kết quả sai (do chưa biết được Zl và Zc cái nào lớn hơn để vẽ)

vậy em muốn hỏi thầy là dạng bài tập nào dùng giản đồ thông thường cũng ra được kết quả đúng không ạ?

và có dấu hiệu nào để biết là nên dùng phương pháp vecto trượt hay dùng giản đồ thông thường không ạ? đọc vào đề bài em thấy hơi phân vân không biết nên dùng 

cách nào hợp lí nhất. mong thầy chỉ giúp em ạ.

2
9 tháng 10 2015

Điện xoay chiều thú vị ở chỗ đó, chúng ta có thể dùng biến đổi đại số, dùng giản đồ véc tơ (tạm gọi là véc tơ thường - véc tơ buộc và véc tơ trượt), ngoài ra còn có thể dùng số phức để giải. Tùy từng bài toán và tùy từng kinh nghiệm của mỗi người thì sẽ biết nên làm theo cách nào cho hợp lí. Em hãy cứ làm nhiều bài tập điện xoay chiều thì em sẽ nhận ra điều đó.

Dùng giản đồ véc tơ thường thì hầu như dạng bài tập nào cũng giải được.

Còn véc tơ trượt là một biến thể của véc tơ thường (dựa vào tính chất cộng véc tơ trong toán học), làm cho hình vẽ đỡ rối hơn.

Còn nên dùng theo cách nào thì như mình nói tùy từng bài toán và kinh nghiệm của mỗi người. Kinh nghiệm của mình là những bài toán mà cho mối liên hệ các điện áp chéo nhau (VD: URL, URC,...) thì dùng véc tơ thường, trường hợp còn lại thì dùng véc tơ trượt.

9 tháng 10 2015

vâng em cảm ơn thầy ạ.

22 tháng 1 2022

ko rảnh

22 tháng 1 2022

em ko gỏi lý nhưng em luôn quan tâm người khác mong chị nhận  em

Cô Đỗ Quyên là số 1 chất lượng, sắc đẹp và viral nha! ^^

6 tháng 8 2021

Nguyễn Trần Thành Đạt oh oki e đang cần 11 tks :>>