Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Điện phân 125 ml dung dịch X có 6,4 gam kim loại ở catot
Suy ra :
Điện phân 250 ml dung dịch X có \(\dfrac{250.6,4}{125} = 12,8\) gam kim loại ở catot
\(\Rightarrow m_{halogenua} = 27 - 12,8 = 14,2(gam)\\ \Rightarrow m_{Ag(trong\ kết\ tua)} = 57,4 - 14,2 = 43,2\\ \Rightarrow n_{Ag} = \dfrac{43,2}{108} = 0,4(mol)\)
CTHH của kết tủa : AgX
\(\Rightarrow M_{AgX} = 108 + X = \dfrac{57,4}{0,4} = 143,5 \\ \Rightarrow X = 35,5(Cl)\)
X: RCln
\(n_{Cl} = 0,4 \Rightarrow n_{muối} = \dfrac{0,4}{n}(mol)\\ \Rightarrow M_{muối} = R + 35,5n = \dfrac{27}{\dfrac{0,4}{n}} = 67,5n\\ \Rightarrow R = 32n\)
Với n = 1 thì R = 64(Cu)
Vậy muối là CuCl2
Đáp án B
Để phân biệt các dung dịch NaNO3, H2SO4, Na2SO4, NaOH người ta dùng : quì tím, dung dịch BaCl2 vì
|
|
NaNO3 |
H2SO4 |
Na2SO4 |
NaOH |
| Quì tím |
Tím |
Đỏ |
Tím |
Xanh |
| BaCl2 |
Không hiện tượng |
x |
Kết tủa trắng |
x |
Dấu x là đã nhận biết được rồi
Phương trình hóa học:
![]()
Khi hòa tan Cl2 vào nước xảy ra phản ứng: Cl2 + H2O ⇋ HCl + HClO.
→ Thành phần của nước Cl2 là Cl2; HCl; HClO và H2O.
Để lâu này nước Cl2 bị mất màu do Cl+1 trong HCl có tính oxi hóa mạnh, làm mất màu nước Cl2.
Gọi n có hóa trị là n -> oxit của R là R2On.
Vì R tác dụng được với H2O nên n=1 hoặc 2.
Phản ứng:
\(2R+2nH_2O\) → 2\(R\)(\(OH\))\(_n\)+\(nH_2\)
\(R_2O_n+_{ }nH_2O\)→\(2R\left(OH\right)_n\)
Ta có:
\(^nH2=\dfrac{1,12}{22,4}=0,05\left(mol\right)\)
\(^nR=\dfrac{2nH2}{n}=\dfrac{0,1}{n}\)
Chất tan là R(OH)n
\(^nR\left(OH\right)n0,25.0,5=0,125\left(mol\right)=^nR+^{2n}R2On=\dfrac{0,125-\dfrac{0,1}{n}}{2}=0,0625-\dfrac{0,05}{n}\)
⇒\(\dfrac{0,1}{n}.R+\left(0,0625-\dfrac{0,05}{n}\right).\left(2R+16n\right)=18,325\)
Thay \(n\) bằng 1 và 2 thì thỏa mãn \(n\)= 2 thì \(R\) = 137 thỏa mãn \(R\) là \(Ba\).
Đáp án D
nNaCl =0,1 mol, nAgNO3 = 0,2 mol
NaCl + AgNO3 → AgCl + NaNO3
0,1 → 0,1 0,1 (mol)
Vdd = 300 + 200 = 500 ml
(dư) = 0,2 - 0,1 =0, 1 (mol)
= 0,1 mol
= 0,2 M

a) Phương trình hóa học của phản ứng:
NaCl + AgNO3 → AgCl↓ + NaNO3
Theo pt: nAgNO3 pư = nAgCl = nNaCl = 0,1 mol
b) Vdd = 300 + 200 = 500 ml
nAgNO3 dư = 0,2 – 0, 1 = 0,1 mol; nNaNO3 = nNaCl = 0,1 mol
CM(NaNO3) = CM(AgNO3) =
= 0,2 mol/l.
a) \(n_{NACl}=\frac{5,85}{58,5}=0,1\left(mol\right)\)
\(n_{AgNO_3}=\frac{34}{170}=0,2\left(mol\right)\)
\(NaCl+AgNO_3\rightarrow AgCl\downarrow+NaNO_3\)
0,1 \(\rightarrow\) 0,1 \(\rightarrow\) 0,1 \(\rightarrow\) 0,1 (mol)
\(m_{AgCl}=143,5.0,1=14,35g\)
b) \(V_{dd}=300+200=500\left(ml\right)\)
\(C_M\left(NaNO_3\right)=C_M\left(AgNO_3\right)=\frac{0,1}{0,5}=0,2\left(M\right)\)
a)nNaCl=0,1 mol , nAgNO3=0,2 mol
NaCl+AgNO3---->AgCl+NaNO3
theo pt và theo bài ra: NaCl hết, AgNO3 dư 0,1 mol
=> nAgCl=nNaCl=0,1=>mAgCl=14,35 gam.
b) thể tích sau phản ứng=200+300=500 ml= 0,5 lít
Nồng độ CMAgNO3=CMNaNO3=0,1/0,5=0,2.
- Khí Cl2 oxi hóa KI thành I2, Cl2 và I2 tan tong nước, do đó xuất hiện dung dịch màu vàng nâu.
Cl2 + KI → 2KCl + I2
- Sau đó dung dịch vàng nâu chuyển sang màu xanh do iot tác dụng với hồ tinh bột.do m
- Do thêm dần dần nước clo, nên màu xanh của hồ tinh bột và iot cũng bị mất màu, do một phần khí Cl2 tác dụng với nước tạo ra axit HClO có tính oxi hóa mạnh, axit này làm mất màu xanh của tinh bột và iot.
Cl2 + H2O HCl + HClO
- Khí Cl2 oxi hóa KI thành I2, Cl2 và I2 tan tong nước, do đó xuất hiện dung dịch màu vàng nâu.
Cl2 + KI → 2KCl + I2
- Sau đó dung dịch vàng nâu chuyển sang màu xanh do iot tác dụng với hồ tinh bột.do m
- Do thêm dần dần nước clo, nên màu xanh của hồ tinh bột và iot cũng bị mất màu, do một phần khí Cl2 tác dụng với nước tạo ra axit HClO có tính oxi hóa mạnh, axit này làm mất màu xanh của tinh bột và iot.
Cl2 + H2O HCl + HClO
Nếu có một chất dung môi có thể hòa tan được mọi thứ trên đời, thì chúng ta sẽ cần một vật liệu không bị hòa tan bởi chính nó để chứa đựng. Có thể là một loại chất liệu đặc biệt, chẳng hạn như một hợp kim siêu bền hoặc một loại vật liệu tổng hợp có khả năng chống lại mọi phản ứng hóa học. Điều này sẽ đảm bảo rằng chất dung môi không làm hỏng hay hòa tan chính cái chứa nó, tạo ra một môi trường an toàn và ổn định cho việc lưu trữ.
Đây là một nghịch lý nổi tiếng trong triết học và khoa học, thường được gọi là nghịch lý "dung môi vạn năng" (universal solvent paradox).
Câu trả lời ngắn là: Nếu thật sự có một chất có thể hòa tan mọi thứ, thì sẽ không tồn tại vật chứa nào làm từ vật chất thông thường có thể chứa được nó. Bởi vì bất kỳ vật liệu nào dùng để làm bình chứa cũng sẽ bị hòa tan.
Tuy nhiên, có một vài cách nhìn thú vị:
Một ví dụ thực tế là Axit flohydric (HF). Nó có thể ăn mòn thủy tinh, nên người ta không đựng nó trong chai thủy tinh mà dùng bình nhựa như Polyetylen hoặc Polytetrafluoroetylen (PTFE). Điều này cho thấy "rất mạnh" không đồng nghĩa với "hòa tan mọi thứ"—luôn có vật liệu phù hợp để chứa nếu chất đó không thực sự tác dụng với mọi vật liệu.
Vì vậy, câu trả lời mang tính logic là: Nếu một dung môi thực sự hòa tan được mọi thứ không có ngoại lệ, thì không thể có vật chứa vật chất nào chứa được nó. Đây chính là lý do nhiều nhà khoa học xem "dung môi hòa tan mọi thứ" là một khái niệm tự mâu thuẫn, chứ không phải chỉ là một chất chưa được tìm ra.
tick cho ih nhé
bạn @Nguyễn Đỗ Quỳnh Chi ơi, bạn có thể dừng spam câu hỏi đc ko?
nhm bn k mấy z
mik k9
Hmmmmmmmmmmmmm
sao
Nếu một dung môi có thể hòa tan mọi thứ thì không có vật liệu nào dùng để chứa nó, vì bình chứa cũng sẽ bị hòa tan, do đó một chất như vậy không thể tồn tại theo đúng nghĩa “hòa tan mọi thứ”, đây là một nghịch lý giả định.
sóng âm
Sẽ không có dung môi đó em nha!