Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Chiến dịch Điện Biên Phủ là đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 - 1954 của quân và dân ta.
Toàn bộ chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra trong năm mươi sáu ngày đêm. Diễn biến được chia làm ba đợt tiến công. Từ ngày 13 đến 17 tháng 3 năm 1954, ta tiêu diệt hai cứ điểm được tổ chức phòng ngự tốt nhất là Him Lam và Độc Lập, mở toang cánh cửa phía Bắc và Đông Bắc cho quân ta chiếm xuống lòng chảo và khu trung tâm. Đợt 2 từ ngày 30 tháng 3 đến ngày 30 tháng 4 năm 1954, ta kiểm soát các điểm cao, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm trong tầm bắn các loại súng của ta. Quân địch rơi vào thế bị động, mất tinh thần cao độ. Đợi 3 từ ngày 1 đến 7 tháng 5 năm 1954, quân ta tổng công kích tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Vào ngày 7 tháng 5 năm 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ hoàn toàn thắng lợi. Quân và dân ta đã đập tan tập đoàn cứ điểm “mạnh nhất Đông Dương” - “pháo đài bất khả xâm phạm” của thực dân Pháp.
Pause 00:00 00:07 01:31 MuteThắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với dân tộc Việt Nam. Trước hết, thắng lợi này đã chấm dứt chín năm kháng chiến chống Pháp trường kỳ, gian khổ nhưng cũng đầy anh dũng của quân và dân ta. Đồng thời, chiến thắng lịch này đã đánh dấu một mốc son chói lọi vào lịch sử dân tộc và thời đại, trở thành biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng và sức mạnh thời đại. Với thất bại này, thực dân Pháp buộc phải ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ (7/1954) về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại các nước Đông Dương. Đồng thời chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp kéo dài hàng thế kỷ, mở ra bước phát triển mới cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia. Từ đó khẳng định đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam. Đồng thời đã mở ra giai đoạn cách mạng mới để tiếp tục công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam và thống nhất đất nước.
Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã làm tăng thêm niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cổ vũ toàn Đảng, toàn dân một lòng chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc.
mình không viết nhanh đến thế, bài kể về 1 vị anh hùng mà em yêu thích mình có học hồi lớp 6 và mình có viết rồi, mình viết ra word nộp cho cô nên giờ mình viết ra đây bạn tham khảo bài mình nhé!
Võ Thị Sáu, người con gái kiên cường của quê hương Đất Đỏ, Bà Rịa - Vũng Tàu, đã trở thành biểu tượng bất diệt của tuổi trẻ Việt Nam anh dũng, gan dạ. Câu chuyện về cuộc đời và sự hy sinh của chị là một bản hùng ca bi tráng, lay động lòng người.
Võ Thị Sáu tên thật là Nguyễn Thị Sáu, sinh năm 1933. Ngay từ khi còn rất nhỏ, chị đã được chứng kiến sự tàn bạo của giặc Pháp, những cảnh áp bức, bóc lột đau thương. Lòng yêu nước sục sôi, chị sớm tham gia cách mạng, làm nhiệm vụ giao liên, tiếp tế, rải truyền đơn, và tham gia phá tề, trừ gian. Những chiến công của người thiếu nữ dũng cảm này đã khiến kẻ thù khiếp sợ.
Nổi bật nhất là trận đánh ám sát hai tên chỉ huy tàn ác, nhưng không may, chị bị bắt. Trong nhà tù, dù phải đối mặt với những đòn tra tấn dã man, Võ Thị Sáu vẫn giữ vững khí tiết. Chị không hề run sợ, không khai báo, chỉ thẳng vào mặt quân thù mà nói: "Tao chỉ giết những thằng Tây, những tên việt gian bán nước hại dân. Mày có giỏi thì cứ giết tao đi!". Lời nói ấy của chị đã trở thành lời tuyên thệ sắt son về lòng trung thành với cách mạng.
Khi bị giặc Pháp kết án tử hình, chị Sáu mới chỉ tròn 17 tuổi. Trước lúc ra pháp trường, chị vẫn hát vang bài "Tiến quân ca" và những bài ca cách mạng khác. Bọn địch định bịt mắt, nhưng chị đã giật tấm vải, từ chối sự che chắn đó. Chị nhìn thẳng vào họng súng của kẻ thù, không một chút run sợ, và hô vang: "Đả đảo thực dân Pháp! Việt Nam muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm!". Tiếng hô ấy như xé tan màn đêm, trở thành lời hiệu triệu cho những người đang chiến đấu vì độc lập, tự do.
Sau khi hi sinh, hình ảnh Võ Thị Sáu đã đi vào huyền thoại, được nhân dân tin tưởng rằng chị đã hóa thân thành người con gái bất tử, linh thiêng. Câu chuyện "Chị Sáu ở Côn Đảo" không chỉ là truyền thuyết mà còn là sự tôn kính của nhân dân dành cho người nữ anh hùng.
Võ Thị Sáu đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng sự hi sinh cao cả của chị đã góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Tên tuổi của chị được đặt cho nhiều trường học, con đường, và các công trình văn hóa, để nhắc nhở thế hệ mai sau về một tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và tinh thần bất khuất. Võ Thị Sáu mãi mãi là người con gái Đất Đỏ anh hùng, là bông hoa bất tử của dân tộc Việt Nam
cre: me
Võ Thị Sáu là nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nổi tiếng với sự dũng cảm và tinh thần yêu nước mãnh liệt. Sinh năm 1933, chị đã tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm tại quê nhà Đất Đỏ, thực hiện nhiều nhiệm vụ nguy hiểm và để lại dấu ấn bất khuất trong lịch sử dân tộc Việt Nam.
Khởi nghĩa Trương Định.
- Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực. ...
- Khởi nghĩa Ba Đình. ...
- ...
Các chi tiết chứng minh Phật giáo phát triển thịnh đạt dưới thời Lý:
- Phật giáo trở thành hệ tư tưởng chính của triều đình → Được xem là nền tảng tinh thần và đạo lý để trị quốc an dân.
- Nhiều vị vua theo đạo Phật → Tiêu biểu như Lý Thái Tổ, Lý Nhân Tông… đều sùng đạo Phật, thường xuyên xây chùa, tụng kinh, và ủng hộ tăng sĩ.
- Nhiều ngôi chùa được xây dựng trên khắp đất nước → Ví dụ: Chùa Một Cột, chùa Phật Tích, chùa Dạm… thể hiện sự phát triển mạnh mẽ về kiến trúc Phật giáo.
- Một số nhà sư giữ chức vụ quan trọng trong triều đình → Các vị như Vạn Hạnh không chỉ là nhà tu hành mà còn là cố vấn chính trị, góp phần định hướng cho triều đại.
Sau cách mạng tháng Tám (1945) thành công, nước ta đã trở thành một nước độc lập. Chính quyền cách mạng non trẻ của nước ta ra đời trong thế “ngàn cân treo sợi tóc” vừa “thù trong, giặc ngoài” vừa nạn đói hoành hành, ngân khố cạn kiệt.
Với cương vị là người đứng đầu Chính phủ cách mạng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đói nghèo cũng là một thứ giặc nguy hiểm như giặc dốt và giặc ngoại xâm. Theo Người: ''Nước nhà đã giành được độc lập tự do mà dân vẫn còn đói nghèo cực khổ thì độc lập tự do không có ích gì''.
Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Người đã nêu sáu vấn đề cấp bách trong đó cứu đói là một trong sáu nhiệm vụ cấp bách hàng đầu Người nói: “Nhân dân đang đói… Hơn hai triệu đồng bào chúng ta đã chết đói vì chính sách độc ác này… Những người thoát chết đói nay cũng bị đói. Chúng ta phải làm thế nào cho họ sống”. Người nêu ra biện pháp khắc phục: “Tôi đề nghị với Chính phủ là phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất… Tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo”.
Người đã khởi xướng, đề xuất và gương mẫu thực hiện phong trào hũ gạo cứu đói, với nghĩa cử cao đẹp mỗi tuần nhịn ăn một bữa, cùng với phong trào ''Tuần lễ vàng''. Hưởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, ở khắp các địa phương trên cả nước, Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc vận động nhân dân hưởng ứng lời kêu gọi. Một phong trào quyên góp, tổ chức “ngày đồng tâm”, “hũ gạo cứu đói”... được phát động mạnh mẽ. Trên tinh thần “tình làng nghĩa xóm”, hoạn nạn có nhau, chỉ sau một thời gian ngắn số lương thực cứu đói thu được khá nhiều, giải quyết kịp thời nhu cầu bức thiết của đời sống nhân dân.
Song song với công tác lạc quyên cứu đói, chính quyền cách mạng còn phát động phong trào tăng gia sản xuất để giải quyết nạn đói tận gốc. Đối với Bác, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, Bác đều đặt vấn đề đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất như là một nhu cầu nội tại của quốc gia, của cách mạng.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, nhân dân ta đã phát huy tinh thần hăng hái lao động, đẩy mạnh tăng gia sản xuất. Nhiều quãng đê bị vỡ đã được gia cố lại, đắp thêm một số đê mới. Cho đến đầu năm 1946, tức là chỉ bốn tháng sau cách mạng, công tác đê điều đã hoàn thành. Đồng thời với việc đắp đê, với khẩu hiệu “tấc đất tấc vàng”, chính quyền và nhân dân tất cả các địa phương ra sức cải tạo đất công cộng còn trống như sân bãi, vỉa hè, bờ đê để trồng trọt, nhất là hoa màu ngắn ngày. Kết quả sản lượng hoa màu đã tăng gấp bốn lần so với thời kỳ Pháp thuộc. Chỉ trong năm tháng từ tháng 11-1945 đến tháng 5-1946 đã đạt 614.000 tấn, qui ra thóc là 506.000 tấn, hoàn toàn có thể bù đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm 1945. Bằng chứng rõ nhất là dân không đói, giá thóc gạo không tăng mà lại giảm. Giặc đói đã bị đánh lui.
Nhiệm vụ chống nạn mù chữ được xếp thứ hai sau nhiệm vụ chống giặc đói
Ngày 8.9.1945, Chính phủ ban hành sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ (BDHV) quyết định thành lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối. Việc học chữ quốc ngữ bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người. Hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt nam trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ.
Lời kêu gọi của Bác về nhiệm vụ chống giặc dốt đã nhanh chóng thấm sâu vào tâm trí của mọi người dân, làm thức dậy lòng tự tôn dân tộc và thấy rõ trách nhiệm của mình là chỉ trong vòng một năm, ai ai cũng phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những nhà có nhà ở rộng rãi mở lớp học tư gia cho bà con xóm giềng, nhiều hoà thượng, linh mục cho mượn chùa, nhà thờ để làm lớp. Dùng cánh cửa, chiếu trải xuống đất cho học viên ngồi...
Lớp học khắp nơi, học trưa, học chiều, học tối. Lớp đông giáo viên, lớp một thầy một trò. Chữ viết sẵn trên bảng, treo trên khóm tre, bụi chuối, bờ ao để bà con học tập. Để tăng cường và đẩy mạnh việc học, việc hỏi chữ được thiết lập. Những người nào đọc được các chữ viết trên các bảng đen dựng bên các bến đò, cổng làng, cổng chợ... thì được đi qua cổng trang trí đẹp gọi là “Cổng vinh quang” để đi vào chợ, sang sông, về làng...
Chỉ sau một năm hoạt động Bình dân học vụ (08/09/1945 đến 08/09/1946) đã có 2.520.678 người thoát nạn mù chữ (dân số lúc đó là 22 triệu người).
Nhà máy Thủy điện Hoà Bình được xây dựng tại tỉnh Hòa Bình, trên dòng sông Đà thuộc miền bắc Việt Nam. Đây là nhà máy thủy điện lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á từ năm 1994 đến 2012 (Bị phá vỡ kỉ lục vào năm 2012 bởi Nhà máy thủy điện Sơn La).[cần dẫn nguồn] Nhà máy thủy điện Hòa Bình do Liên Xô (sau năm 1991 đến 1994 là Liên bang Nga) giúp đỡ, hỗ trợ công tác xây dựng và hướng dẫn vận hành.
Công trình khởi công 6/11/1979, khánh thành 20/12/1994.
chịu khó tìm trong sách hoặc lên mạng nha, mấy câu này dễ mà, toàn trong sách thui, mk định tl nhưng lười ghi nên tự tìm nha!
1. Phần đất liền nước ta giáp với: Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia
2. Diện tích phần đất liền nước ta là: 330.000 km2
3.- Về địa hình: diện tích là đồi núi và đồng bằng, có nhiều sông ngòi nhưng ít sông lớn
- Về khí hậu: nhiệt độ cao, gió và mưa thay đổi theo mùa, mùa hạ hay có bão
4. Hậu quả:
- kìm hãm sự phát triển kinh tế
- tỉ lệ thất nghiệp lớn gây ra nhiều tệ nạn xã hội
- nạn nghèo đói cứ thế mà tăng
5. Vai trò của vùng biển nước ta:
- điều hoà khí hậu
- tạo ra nhiều nơi du lịch nghỉ mát
- tạo điều kiện phát triển giao thông đường biển
- cung cấp tài nguyên như: daaug mỏ, thuỷ sản, cá, tôm, muối,.....
6. Vai trò của sông ngòi:
- bồi đắp phù sa cho những vùng đồng bằng màu mỡ
- cung cấp nước cho sản xuất và đời sống
- cung cấp nhiều thuỷ sản
- là nguồn thuỷ điện lớn
- là đường giao thông quan trọng
7. Nước ta có 54 dân tộc
- Dân tộc Kinh có số dân đông nhất
- Dân cư nước ta tập trung đông đúc ở vùng đồng bằng và ven biển
8.- Ở gần vùng có nhiều lương thực, thực phẩm
- Giao thông thuận lợi
- Trung tâm văn hoá, khoa học kĩ thuật
9. Sân bay Nội Bài, Tân Sân Nhất, Đà Nẵng, Cần Thơ
10. Những con sông lớn của nước ta là: sông hồng, sông cửu long, sông đồng nai, sông thái bình, sông lô, sông mã
11. Nhà máy nhiệt điện: phả lại, mông dương, quảng ninh, phú mĩ,....
Nhà máy thuỷ điện: lai châu, sơn la, hoà bình
12. Các loại hình giao thông của nước ta: đường bộ, đường sắt, đường sắt, đường biển, đường hàng không, đường ống
13. Đặc điểm:
- Nước biển không bao giờ bị đóng băng
- Vùng biển có nhiều bão
- Nước biển lúc dâng lúc hạ xuống
- Đối với đời sống: là chiếc máy điều hoà điều chỉnh khí hậu ở Việt Nam, là điểm đến du lịch lý tưởng cho các vị khách nước ngoài và trong nước
Đối với sản xuất: là nhà máy sản xuất ra hải sản cho nhân dân vùng biển đánh cá, biển cũng góp một phần lớn hải sản, muối,.....đối với nước ta
Khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427)
Khởi nghĩa Lam Sơn là một trong những cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam. Cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi lãnh đạo, cùng với sự giúp sức của Nguyễn Trãi và nhiều tướng lĩnh tài giỏi như Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Đinh Lễ, Lý Triện,... Cuộc khởi nghĩa diễn ra trong gần 10 năm và đã đánh đuổi quân Minh, giành lại nền độc lập cho đất nước.
1. Hoàn cảnh lịch sử
Năm 1407, sau khi đánh bại nhà Hồ, Trung Quốc (nhà Minh) chiếm nước ta. Chúng đặt ách cai trị rất tàn bạo:
Cuộc sống của nhân dân vô cùng cực khổ. Nhiều cuộc nổi dậy đã diễn ra nhưng đều thất bại. Trong hoàn cảnh đó, Lê Lợi đã đứng lên tập hợp nhân dân chống giặc.
2. Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa
Lê Lợi là một hào trưởng giàu có và có uy tín ở vùng Lam Sơn. Ông rất yêu nước và luôn nung nấu ý chí đánh đuổi quân Minh.
Ngày mùng 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418), tại vùng núi Lam Sơn (Thanh Hóa), Lê Lợi chính thức dựng cờ khởi nghĩa, tự xưng là Bình Định Vương.
Ngay từ đầu, nhiều người yêu nước đã đến theo nghĩa quân. Trong đó có Nguyễn Trãi, người đã góp rất nhiều kế sách quan trọng giúp nghĩa quân giành thắng lợi.
3. Những năm đầu đầy gian khổ (1418–1423)
Lực lượng của nghĩa quân lúc đầu rất ít:
Trong khi đó, quân Minh rất đông và được trang bị đầy đủ.
Quân Minh nhiều lần bao vây căn cứ Lam Sơn khiến nghĩa quân gặp rất nhiều khó khăn.
Có lúc nghĩa quân phải ăn rau rừng, củ mài, măng tre để sống. Nhiều chiến sĩ bị đói rét và hi sinh.
Sự hi sinh của Lê Lai
Một trong những câu chuyện nổi tiếng nhất là Lê Lai.
Năm 1418, khi nghĩa quân bị quân Minh bao vây ở núi Chí Linh, tình thế vô cùng nguy hiểm.
Lê Lai đã mặc áo bào của Lê Lợi, cưỡi ngựa, dẫn quân xông ra đánh lớn để quân Minh tưởng đó là Lê Lợi.
Quân Minh tập trung truy đuổi Lê Lai. Ông chiến đấu rất dũng cảm rồi bị bắt và hi sinh.
Nhờ sự hi sinh của Lê Lai mà Lê Lợi cùng lực lượng chủ lực thoát khỏi vòng vây, bảo toàn được cuộc khởi nghĩa.
Sau này, khi lên ngôi vua, Lê Lợi luôn cho làm giỗ Lê Lai trước ngày giỗ của mình để ghi nhớ công lao ấy.
4. Tạm hòa với quân Minh (1423)
Sau nhiều năm chiến đấu gian khổ, nghĩa quân tạm thời hòa hoãn với quân Minh để:
Sau khi đã mạnh hơn, nghĩa quân tiếp tục khởi nghĩa.
5. Tiến vào Nghệ An (1424)
Theo kế sách của Nguyễn Trãi và Nguyễn Chích, nghĩa quân quyết định tiến vào Nghệ An>.
Đây là bước ngoặt rất quan trọng.
Nghĩa quân liên tiếp giành nhiều thắng lợi:
Lực lượng nghĩa quân ngày càng đông.
6. Giải phóng Tân Bình và Thuận Hóa (1425)
Nghĩa quân tiếp tục tiến xuống phía Nam.
Các vùng Tân Bình và Thuận Hóa lần lượt được giải phóng.
Đến cuối năm 1425, hầu hết vùng từ Thanh Hóa trở vào Nam đều thuộc quyền kiểm soát của nghĩa quân.
7. Tiến quân ra Bắc (1426)
Năm 1426, Lê Lợi quyết định đưa quân tiến ra Bắc.
Nghĩa quân chia thành nhiều cánh quân.
Nhân dân các địa phương tích cực giúp đỡ:
Trận Tốt Động – Chúc Động
Cuối năm 1426 diễn ra Trận Tốt Động – Chúc Động.
Quân Minh có khoảng 5 vạn quân kéo đến đàn áp.
Nghĩa quân Lam Sơn bố trí phục kích rất khéo.
Khi quân Minh lọt vào trận địa, nghĩa quân đồng loạt tấn công.
Kết quả:
Đây là một trong những chiến thắng lớn nhất của cuộc khởi nghĩa.
8. Quân Minh đưa viện binh sang (1427)
Để cứu quân ở Đông Quan, nhà Minh đưa khoảng 15 vạn quân sang nước ta.
Có hai đạo quân lớn:
Nghĩa quân quyết định đánh từng đạo quân.
Trận Chi Lăng
Tại Ải Chi Lăng, nghĩa quân nhử quân Minh vào địa hình hiểm trở.
Khi quân Minh rơi vào trận địa phục kích, nghĩa quân đồng loạt tấn công.
Liễu Thăng bị chém chết.
Quân Minh vô cùng hoảng loạn.
Trận Xương Giang
Sau chiến thắng Chi Lăng, nghĩa quân tiếp tục đánh lớn tại Trận Xương Giang.
Toàn bộ đạo quân cứu viện gần như bị tiêu diệt.
Quân Minh ở Đông Quan mất hết hi vọng.
9. Kết thúc cuộc khởi nghĩa
Sau thất bại nặng nề, quân Minh xin giảng hòa.
Lê Lợi chấp nhận cho quân Minh rút về nước để tránh thêm tổn thất cho cả hai bên.
Đầu năm 1428, đất nước hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược.
Lê Lợi lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Lê Thái Tổ, mở đầu triều Lê sơ.
Thay mặt nhà vua, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo, bản tuyên ngôn khẳng định nền độc lập của dân tộc và tổng kết thắng lợi của cuộc khởi nghĩa.
10. Ý nghĩa lịch sử
Khởi nghĩa Lam Sơn có ý nghĩa rất lớn:
Khởi nghĩa Lam Sơn là một trong những trang sử vẻ vang nhất của dân tộc Việt Nam, thể hiện lòng yêu nước, tinh thần kiên cường và khát vọng độc lập của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và sự góp sức của nhiều anh hùng, nghĩa sĩ.
Khởi nghĩa Lam Sơn (1418–1427) là cuộc khởi nghĩa do Lê Lợi lãnh đạo nhằm đánh đuổi quân nhà Minh xâm lược, giành lại độc lập cho đất nước. Đây là một trong những cuộc khởi nghĩa lớn và thành công nhất trong lịch sử Việt Nam.
1. Hoàn cảnh ra đời
Năm 1407, quân Minh xâm lược nước ta, đánh bại nhà Hồ và đặt ách đô hộ. Chúng thi hành nhiều chính sách tàn bạo như bóc lột nhân dân, cướp của cải, bắt người sang Trung Quốc làm lao dịch, phá hủy nhiều sách vở, di tích và tìm cách đồng hóa dân tộc Việt Nam. Cuộc sống của nhân dân vô cùng khổ cực nên lòng căm thù giặc ngày càng dâng cao.
Trước tình hình đó, Lê Lợi – một hào trưởng giàu lòng yêu nước ở vùng Lam Sơn – đã bí mật tập hợp nghĩa sĩ, chuẩn bị lực lượng để khởi nghĩa. Ông được nhiều người tài giúp sức, nổi bật là Nguyễn Trãi, người đã đề ra nhiều kế sách và viết các văn thư kêu gọi lòng dân.
2. Khởi nghĩa bùng nổ
Ngày mồng 2 Tết năm Mậu Tuất (đầu năm 1418), Lê Lợi chính thức dựng cờ khởi nghĩa tại vùng Lam Sơn và tự xưng là Bình Định Vương.
Những ngày đầu, nghĩa quân gặp rất nhiều khó khăn. Lực lượng ít, lương thực thiếu, vũ khí thô sơ nên nhiều lần bị quân Minh bao vây. Có lúc nghĩa quân phải rút lên vùng núi Chí Linh để bảo toàn lực lượng.
Trong thời điểm nguy cấp ấy, Lê Lai đã cải trang thành Lê Lợi, dẫn một đội quân xông ra đánh lạc hướng quân Minh. Ông chiến đấu đến cùng và hi sinh, giúp Lê Lợi cùng nghĩa quân thoát khỏi vòng vây. Sự hi sinh của Lê Lai trở thành biểu tượng về lòng trung thành và tinh thần vì nước.
3. Phát triển lực lượng
Sau nhiều năm chiến đấu gian khổ, nghĩa quân dần lớn mạnh. Họ vừa luyện quân, tích trữ lương thực, vừa tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân. Nhờ đối xử tốt với dân và có kỷ luật nghiêm minh, nghĩa quân ngày càng được nhiều người tham gia.
Năm 1424, theo kế sách của Nguyễn Chích, nghĩa quân chuyển hướng tiến vào vùng Nghệ An. Đây là bước ngoặt quan trọng vì vùng này có địa hình thuận lợi và được nhân dân tích cực giúp đỡ. Sau đó, nghĩa quân nhanh chóng giải phóng nhiều vùng ở Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa.
Đến năm 1426, lực lượng Lam Sơn đã rất hùng mạnh và tiến quân ra Bắc để giải phóng đất nước.
4. Những chiến thắng lớn
Cuối năm 1426, nghĩa quân giành thắng lợi trong Trận Tốt Động – Chúc Động, tiêu diệt nhiều quân Minh và làm thay đổi cục diện chiến tranh.
Không chịu thất bại, nhà Minh đưa thêm quân sang cứu viện. Tuy nhiên, nghĩa quân Lam Sơn đã bố trí mai phục và giành thắng lợi vang dội trong Trận Chi Lăng – Xương Giang. Nhiều tướng Minh bị tiêu diệt hoặc bắt sống, quân cứu viện tan rã.
Sau thất bại liên tiếp, quân Minh buộc phải xin giảng hòa và rút toàn bộ quân về nước.
5. Kết quả và ý nghĩa
Đầu năm 1428, đất nước hoàn toàn sạch bóng quân xâm lược. Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, lập nên nhà Lê sơ, mở ra thời kỳ độc lập và phát triển của dân tộc.
Thay mặt vua, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo để tuyên bố chiến thắng, khẳng định chủ quyền và nền độc lập của Đại Việt. Tác phẩm này được xem là bản tuyên ngôn độc lập nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.
Ý nghĩa lịch sử
- Khởi nghĩa bắt đầu: Ngày 2 tháng 1 năm Mậu Tuất (tức 7/2/1418), Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa tại núi rừng Lam Sơn (Thanh Hóa) và tự xưng là Bình Định Vương. [1, 2]
- Khó khăn ban đầu: Nghĩa quân gặp rất nhiều khó khăn, lực lượng còn yếu, thường xuyên bị quân Minh bao vây và phải rút lên núi Chí Linh để bảo toàn lực lượng. [1, 2]
- Sự hy sinh anh dũng: Giữa năm 1418, trong tình thế hiểm nghèo, Lê Lai đã cải trang làm Lê Lợi để đánh lừa quân địch, giúp Lê Lợi và bộ chỉ huy thoát khỏi vòng vây. [1]
2. Giai đoạn mở rộng địa bàn (1424 - 1425)- Chuyển hướng chiến lược: Theo mưu kế của Nguyễn Chích, nghĩa quân quyết định chuyển hướng hoạt động vào Nghệ An để xây dựng căn cứ vững chắc hơn. [1, 2]
- Giải phóng Nghệ An: Với chiến thuật hợp lý, nghĩa quân nhanh chóng giải phóng Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa và mở rộng phạm vi hoạt động ra các vùng lân cận. [1, 2]
3. Giai đoạn tiến quân ra Bắc và kết thúc chiến tranh (1426 - 1427)Khởi nghĩa Lam Sơn là cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược, diễn ra từ năm 1418 đến năm 1427, do Lê Lợi lãnh đạo. Sau khi nhà Hồ thất bại, nước ta bị nhà Minh đô hộ, nhân dân phải chịu nhiều cực khổ, bị bóc lột nặng nề, văn hóa dân tộc cũng bị đàn áp. Trước tình hình đó, Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi và nhiều nghĩa sĩ đã dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa. Buổi đầu, nghĩa quân gặp rất nhiều khó khăn, lực lượng ít, lương thực thiếu, nhiều lần bị quân Minh vây đánh. Tuy vậy, nhờ lòng yêu nước, sự đoàn kết và tài chỉ huy, nghĩa quân dần lớn mạnh. Từ năm 1424, nghĩa quân chuyển hướng vào Nghệ An, rồi mở rộng ra Tân Bình, Thuận Hóa, sau đó tiến ra Bắc. Nhiều trận thắng lớn như Tốt Động, Chúc Động, Chi Lăng, Xương Giang đã làm quân Minh thất bại nặng nề. Năm 1427, quân Minh buộc phải rút về nước, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi hoàn toàn. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua, lập ra nhà Hậu Lê. Khởi nghĩa Lam Sơn có ý nghĩa rất lớn, chấm dứt hơn 20 năm đô hộ của nhà Minh, khôi phục nền độc lập dân tộc, mở ra thời kì phát triển mới cho đất nước.