Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Trong một thế giới nơi mọi giá trị đều có thể bị thay thế, và mọi chân lý đều có thể bị diễn giải lại, liệu niềm tin còn có thể là thật, hay nó chỉ là một ảo tưởng đẹp mà con người tự tạo ra để không sụp đổ?
Hãy viết một bài nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về bản chất của niềm tin trong thời đại mất phương hướng.
PLS PLS PLS !!!
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bàinêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề gồm nhiều ý/ đoạn văn, kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tình huống bất thường nói lên khát vọng bình thường mà chính đáng của con người trong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.
c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận;kết h ợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.
* Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:
– Kim Lân là nhà văn có sở trường về truyện ngắn, chuyên viết về cuộc sống và con người nông thôn.
– Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc, tác giả đã sáng tạo được tình huống “nhặt vợ” độc đáo.
* Nêu nội dung ý kiến: khẳng định thành công của tác giả trong việc xây dựng tình huống độc đáo (tính chất bất thường), giàu ý nghĩa nhân bản (thể hiện khát vọng bình thường của con người).
* Phân tích tình huống:
– Nêu tình huống: Tràng – một nông dân ngụ cư nghèo khổ, ngờ nghệch, xấu xí, đang ế vợ bỗng nhiên “nhặt” được vợ giữa nạn đói khủng khiếp.
– Tính chất bất thường: giữa nạn đói kinh hoàng, khi người ta chỉ nghĩ đến chuyệnsống – chết thì Tràng lại lấy vợ; một người tưởng như không thể lấy được vợ lại “nhặt” được vợ một cách dễ dàng; Tràng “nhờ” nạn đói mới có được vợ còn người đànbà vì đói khát mà theo không một ngư ời đàn ông xa lạ; việc Tràng có vợ khiến cho mọi
người ngạc nhiên, không biết nên buồn hay vui, nên mừng hay lo;…
– Khát vọng bình thường mà chính đáng của con người: khát vọng được sống (người đàn bà đói khát theo không về làm vợ Tràng); khát vọng yêu thương, khát vọng về mái ấm gia đình (suy nghĩ và hành động của các nhân vật đều hướng tới vun đắp hạnh phúc gia đình); khát vọng về tương lai tươi sáng (bà cụ Tứ động viên con, người vợ nhặt nhắc đến chuyện phá kho thóc, Tràng nghĩ đến lá cờ đỏ sao vàng,…);…
* Bình luận:
– Thí sinh cần đánh giá mức độ hợp lí của ý kiến, có thể theo hướng: ý kiến xác đáng vì đã chỉ ra nét độc đáo và làm nổi bật ý nghĩa quan trọng của tình huống truyện trong việc thể hiện tư tưởng nhân đạo của tác giả.
– Có thể xem ý kiến là một định hướng cho người đọc khi tiếp nhận tác phẩm Vợnhặt, đồng thời là một gợi mở cho độc giả về cách thức tiếp cận truyện ngắn theo đặc trưng thể loại.
d. Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.
e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.



Tự cổ chí kim, nhân loại thủy chung đối diện một nghịch lý căn bản: sinh mệnh hữu hạn nhưng khát vọng vô cùng; hình hài khả diệt nhưng tinh thần hằng truy cầu vĩnh cửu. Chính từ nhận thức ấy mà thi ca xuất hiện như một hình thái siêu việt của tinh thần, giúp nhân loại vượt thoát tính hữu hạn của cá thể để hướng vọng đến cảnh giới trường tồn. Bởi vậy, luận đề: “Thi ca chân chính thị hành trình siêu xuất giới hạn của tiểu ngã cá thể nhằm khế nhập những giá trị vĩnh hằng của đại ngã nhân loại” đã chạm tới bản chất thâm áo của thi đạo.
Đọc những thi cú:
và
độc giả khả dĩ cảm ngộ sâu sắc hơn chân nghĩa ấy.
Khởi nguyên, thi đạo tất phát xuất từ tâm cảm cá thể. Mọi thi phẩm đều thai nghén trong linh phủ của thi nhân, khởi sinh từ cảm hoài, mặc tưởng hoặc trực giác tinh thần. Tuy nhiên, thi phẩm chân chính bất vị sự tự biểu đạt thuần túy. Nếu thi chỉ đình lưu tại phạm vi tư tình cá thể, giá trị tất hữu hạn đồng sinh mệnh của chủ thể sáng tạo. Chỉ khi cảm thức cá nhân được thăng hoa thành tâm thức phổ quát, thi ca mới đạt tới phẩm cách bất hủ.
Trong thi cú:
thi nhân không luận về một cá thể riêng biệt mà trực tiếp chiêm nghiệm quy luật bản thể của tồn tại.
“Hữu hình” tượng trưng cho toàn bộ hiện tượng giới.
“Không tịch” biểu thị cảnh giới quy diệt của vạn hữu.
Giữa trường hà thời gian, đế quốc khả vong, sơn hà khả cải, sinh mệnh khả tận; song mọi hiện tượng đều chỉ là khách lữ nhất thời trên lộ trình đại hóa.
Đối lập với hữu hình là “vô cực chân nguyên”.
Đó là bản nguyên bất biến, là chân lý siêu việt khỏi mọi biến thiên của lịch sử. Nếu thân xác thuộc phạm trù hữu hạn thì tinh thần thuộc chiều kích siêu thời gian. Nếu sinh mệnh chịu sự chi phối của thành-trụ-hoại-diệt thì chân mỹ và minh triết lại sở hữu khả năng trường lưu.
Chính tại điểm này, thi đạo đã siêu xuất địa hạt mỹ cảm thông thường để tiến nhập lãnh vực bản thể luận.
Thi nhân không còn là người miêu tả hiện thực, mà trở thành chủ thể minh triết truy vấn căn nguyên tồn tại.
Thi đạo bởi thế không đơn thuần là nghệ thuật ngôn từ mà còn là phương thức nhận thức chân lý.
Thời gian có thể bào thực vật chất nhưng bất lực trước những giá trị tinh thần đạt tới tầm phổ quát nhân loại.
Triều đại hưng phế.
Thành quách hóa tro tàn.
Danh lợi quy hư ảnh.
Nhưng những thi phẩm chân chính vẫn xuyên việt thế kỷ để tồn tại trong ký ức văn minh.
Ấy chính là ý nghĩa sâu xa của thi cú:
“Thi vô tận” không phải chỉ sự tồn tại vật lý của văn bản.
Đó là sự trường tồn của đạo khí.
Đạo khí ấy là linh hồn văn minh, là kết tinh của minh triết, mỹ cảm và nhân tính.
Chừng nào nhân luân còn hiện hữu, chừng ấy nhu cầu truy cầu chân mỹ thiện vẫn tồn tại.
Và khi chân mỹ thiện còn tồn tại, thi đạo tất nhiên bất tuyệt.
Nhìn từ phương diện này, sự bất tử của thi ca không đồng nhất với bất tử vật chất.
Giấy mực khả mục nát.
Bia đá khả phong hóa.
Thư tịch khả thất truyền.
Nhưng thi tâm chân chính lại có khả năng tái sinh trong tâm thức hậu thế.
Mỗi thời đại đều diễn giải lại một thi phẩm bất hủ bằng hệ quy chiếu mới, khiến giá trị của nó liên tục được hồi sinh.
Đó là hình thái trường tồn cao nhất mà bất kỳ sáng tạo tinh thần nào cũng hướng tới.
Từ đó khả dĩ khẳng định rằng thi đạo chân chính luôn thực hiện hành trình siêu xuất tiểu ngã để hội nhập đại ngã.
Từ cảm xúc cá thể, thi nhân hướng đến tâm thức cộng đồng.
Từ khoảnh khắc hữu hạn, thi nhân hướng đến chiều kích vô tận.
Từ hiện tượng giới, thi nhân truy cầu bản thể giới.
Ấy chính là nguyên nhân khiến thi ca trở thành một trong những thành tựu tối cao của văn minh nhân loại.
Chung quy, thi đạo không đơn thuần là mỹ học của ngôn từ mà còn là huyền môn của tinh thần. Nó giúp con người nhận thức sâu hơn về thời gian, sinh mệnh, tồn tại và chân lý. Thân xác hữu hạn rồi sẽ quy về cát bụi, song thi khí chân chính có thể xuyên việt thế kỷ, lưu truyền bách thế, chiếu diệu thiên thu. Bởi vậy, có thể khẳng định:
Câu hỏi từ AI , vậy bạn có biết câu trả lời:?
khó đó