K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

→ Điểm Nemo (Point Nemo) hay còn gọi là "Cực bất khả tiếp cận trên đại dương", là nơi xa xôi và cô lập nhất trên Trái Đất.

17 tháng 5

Điểm Nemo là vị trí nằm trên biển cách xa đất liền nhất, nằm ở vùng gần đất nhất là khoảng 2.688 km

17 tháng 5

à điểm này thì người bạn gần nhất là phi hành gia và chứa chất độc và xa đất liền nhất nên ý ai mà đi máy bay máy bay hỏng mà thấy điểm này thìlúc đó thần chết đang kéo đi vào lễ tân đó

17 tháng 5

vậy nếu điểm nemo là điểm xa nhất trên đại dương vậy còn điểm xa xôi nhất trên cạn là gì


Mùa lũ của Sông Hồng thường bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10, với đỉnh lũ cao nhất thường rơi vào tháng 10. Thời gian này trùng với mùa mưa ở khu vực Bắc Bộ, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam.  Các yếu tố xác định mùa lũ Sông Hồng:
  • Chế độ mưa:Mùa lũ trên Sông Hồng gắn liền với mùa mưa, bắt đầu khi lượng mưa tăng cao và kéo dài trong nhiều tháng. 
  • Gió mùa:Gió mùa Đông Nam thổi vào khu vực Bắc Bộ gây mưa lớn từ tháng 5 đến tháng 10, tạo điều kiện cho mùa lũ. 
  • Tích tụ nước:Mưa cần thời gian để tích tụ đủ lượng nước trên lưu vực, do đó, mùa lũ thường lùi sau mùa mưa khoảng một tháng. 
Thời gian cụ thể:
  • Mùa lũ:Kéo dài từ khoảng tháng 6 đến tháng 10. 
  • Đỉnh lũ:Thường tập trung vào tháng 10. 
  • Mùa cạn:Bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau. 
Cách xác định thời gian mùa lũ:
Để xác định thời gian mùa lũ cụ thể, người ta thường theo dõi các yếu tố sau tại các trạm thủy văn trên sông: 
  • Lượng mưa:Quan sát lượng mưa hàng ngày và hàng tháng để xác định thời kỳ mưa lớn. 
  • Mực nước sông:Theo dõi diễn biến mực nước của sông Hồng để xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc lũ. 
  • Chỉ tiêu thủy văn:Sử dụng các chỉ tiêu định lượng, ví dụ như lượng dòng chảy vượt trung bình, để xác định chính xác thời gian mùa lũ. 
Tóm lại, mùa lũ Sông Hồng là giai đoạn mực nước trên sông tăng cao và liên tục do mưa lớn, kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm.  Tham khảo
14 tháng 9 2025

Mùa lũ của Sông Hồng thường bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10, với đỉnh lũ cao nhất thường rơi vào tháng 10. Thời gian này trùng với mùa mưa ở khu vực Bắc Bộ, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam.  Các yếu tố xác định mùa lũ Sông Hồng:

  • Chế độ mưa:Mùa lũ trên Sông Hồng gắn liền với mùa mưa, bắt đầu khi lượng mưa tăng cao và kéo dài trong nhiều tháng. 
  • Gió mùa:Gió mùa Đông Nam thổi vào khu vực Bắc Bộ gây mưa lớn từ tháng 5 đến tháng 10, tạo điều kiện cho mùa lũ. 
  • Tích tụ nước:Mưa cần thời gian để tích tụ đủ lượng nước trên lưu vực, do đó, mùa lũ thường lùi sau mùa mưa khoảng một tháng. 

Thời gian cụ thể:

  • Mùa lũ:Kéo dài từ khoảng tháng 6 đến tháng 10. 
  • Đỉnh lũ:Thường tập trung vào tháng 10. 
  • Mùa cạn:Bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau. 

Cách xác định thời gian mùa lũ:
Để xác định thời gian mùa lũ cụ thể, người ta thường theo dõi các yếu tố sau tại các trạm thủy văn trên sông: 

  • Lượng mưa:Quan sát lượng mưa hàng ngày và hàng tháng để xác định thời kỳ mưa lớn. 
  • Mực nước sông:Theo dõi diễn biến mực nước của sông Hồng để xác định thời điểm bắt đầu và kết thúc lũ. 
  • Chỉ tiêu thủy văn:Sử dụng các chỉ tiêu định lượng, ví dụ như lượng dòng chảy vượt trung bình, để xác định chính xác thời gian mùa lũ. 

Tóm lại, mùa lũ Sông Hồng là giai đoạn mực nước trên sông tăng cao và liên tục do mưa lớn, kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm.

24 tháng 9 2025
  • Phân bố dân cư không đồng đều: Dân cư tập trung chủ yếu ở các thung lũng, ven sông, suối và các khu vực có địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt. Các vùng núi cao, địa hình hiểm trở thường có mật độ dân số thấp hơn.
  • Quần cư theo bản, làng: Các đơn vị quần cư cơ bản là các bản, làng của các dân tộc thiểu số như Thái, Mông, Dao, Hà Nhì, La Hủ, Cống, Si La... Các bản làng thường có quy mô nhỏ, được xây dựng gần các nguồn nước và nương rẫy.
  • Kiến trúc nhà ở truyền thống: Nhà ở chủ yếu là nhà sàn hoặc nhà đất truyền thống, phù hợp với điều kiện khí hậu và tập quán sinh hoạt của từng dân tộc.
  • Đa dạng văn hóa: Do có nhiều dân tộc cùng sinh sống, Lai Châu có sự đa dạng về văn hóa, thể hiện qua trang phục, phong tục tập quán, lễ hội và ngôn ngữ của mỗi dân tộc.
  • Phát triển đô thị: Bên cạnh các bản làng truyền thống, Lai Châu cũng có các đô thị nhỏ như thành phố Lai Châu, thị trấn Mường Tè, Phong Thổ... là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa của các huyện.
25 tháng 12 2016

quốc lộ 1A và đường sắt Thống Nhất

25 tháng 12 2016

quốc lộ 1Alolang

 

5 tháng 12 2016

- Đặc điểm phân bố dân cư: Sự phân bố dân cư không đều giữa các vùng:

+ Tập trung đông đúc ở đồng bằng, ven biển và các đô thị. Thưa thớt ở miền núi và cao nguyên

+ Phân bố dân cư cũng có sự chênh lệch giữa thành thị và nông thôn: Khoảng 74% dân số ở nông thôn, 26% dân số ở thành thị ( năm 2003).

- ĐBSH là nơi tập trung dân cư đông nhất cả nước vì :

+Nằm trong đới khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, đất phù sa màu mỡ và có hệ thống sông Hồng bồi đắp phù sa, nguồn nước phong phú là điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp & cư trú. .

+Lịch sử khai phá lâu đời, Hà Nội và Hải Phòng là hai trong những trung tâm kinh tế - xã hội lớn nhất cả nước.

+Vị trí địa lí thuận lợi, có vị trí chiến lược quan trọng trong an ninh quốc phòng.

+Nghề trồng lúa nước với trình độ thâm canh cao đòi hỏi nhiều lao động

* Sự phân bố dân cư ở nc' ta không đồng đều và chưa hợp lí
- Phân bố khôg đồng đều giữa đồng bằng và miền núi
VD: năm 2003 : ĐBSH là 1192ng/km2
Tây Nguyên la 84ng/km2
- Khôg đồng đều giữa thành thị và nông thôn
VD: năm 2007 : Thành thị chiếm khoảng 27%
Nông thôn chiếm khoảng 73%
- Khôg đồng đều giữa các vùng ngay trong đồng bằng or miền núi

3 tháng 2 2016

1. * Nguyên nhân dân số tăng nhanh:


- Dân số nước ta tăng nhanh là do dân số nước có tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên trung bình năm cao trong đó có nhiều thời kì đạt mức cao vào loại nhất thế giới: từ 1930 - 1960 tỉ lệ gia tăng dân số trung bình năm nước ta là 1,85% nhưng riêng thời kì 1939 – 1943 đạt 3,06%/năm; 1954 

- 1960 đạt 3,93%/năm. Từ 1960 đến nay nhìn chung tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên có xu thế giảm và ở thập kỉ 1989 - 1999 nước ta đã đạt tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 1,7%/năm. Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên này hiện nay vẫn ở mức trung bình trên thế giới.

- Dân số nước ta có tỉ lệ gia tăng cao là do tỉ lệ sinh cao là do tỉ lệ sinh cao nhưng tỉ lệ tử có xu thế giảm dần do mức sống ngày càng cao và trình độ y tế ngày càng phát triển mạnh nên đã làm giảm tỉ lệ tử của trẻ sơ sinh.

- Dân số nước ta có tỉ lệ sinh cao là do những nguyên nhân sau:

+ Do trình độ nhận thức của người Việt Nam về lĩnh vực dân số và gia đình còn rất lạc hậu như thích đông con, thích con trai…

+ Do độ tuổi kết hôn của người Việt Nam quá sớm nên đã kéo dài thời kì sinh nở của phụ nữ.

+ Do mức sống của người Việt Nam nhiều năm qua thấp nên người lao động không có điều kiện học tập để nâng cao trình độ nhận thức đúng đắn về lĩnh vực dân số.

+ Do nước ta bị chiến tranh kéo dài nên trong suốt thời kì chiến tranh, Nhà nước ta không đặt ra vấn đề thực hiện sinh đẻ có kế hoạch như ngày nay.

Tóm lại dân số nước ta trong những năm qua tăng nhanh là do tác động tổng hợp của những nguyên nhân trên, nhưng nguyên nhân chủ yếu nhất là do trình độ nhận thức lạc hậu về dân số và gia đình.

* Hậu quả dân số tăng nhanh:

- Dân số tăng nhanh sẽ gây ra sức ép lớn của dân số với phát triển kinh tế, xã hội mà thể hiện là:

+ Ở nông thôn đất N2 bình quân trên đầu người ngày càng giảm, mức thu nhập thấp, nhiều tệ nạn xã hội xảy ra…
+ Ở thành thị nạn thất nghiệp tăng, mức thu nhập thấp và cũng xuất hiện nhiều tệ nạn xã hội.

- Dân số tăng nhanh cũng gây sức ép lớn với nâng cao chất lượng cuộc sống con người mà chất lượng cuộc sống con người thể hiện bởi 3 chỉ tiêu chính sau:

+ Mức thu nhập bình quân đầu người: khi dân số tăng nhanh -> mức thu nhập bình quân đầu người thấp (cụ thể như ở nước ta hiện nay).

+ Trình độ học thức: khi mức thu nhập thấp thì người lao động không có điều kiện để đi học nâng cao trình độ văn hoá. 

+ Tuổi thọ trung bình: khi người lao động có thu nhập thấp, trình độ học thức thấp thì họ không có điều kiện chăm lo sức khoẻ cho mình -> tuổi thọ thấp. 

Ba chỉ tiêu mức thu nhập, trình độ học thức , tuổi thọ trung bình thấp là hậu quả của sự gia tăng dân số.

- Dân số tăng nhanh sẽ gây sức ép lớn với khai thác, bảo vệ tài nguyên môi trường. Dân số tăng nhanh nhưng tài nguyên thiên nhiên thì có hạn dẫn đến việc khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên rất bừa bãi, lãng phí làm cho tài nguyên nhanh chóng cạn kiệt, môi trường suy thoái, ô nhiễm.

* Biện pháp giải quyết:

- Trước hết cần phải thực hiện triệt để sinh đẻ có kế hoạch sao cho đạt tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên xuống dưới 1,7%/năm. Thực hiện sinh đẻ có kế hoạch áp dụng tổng hợp các giải pháp chính sau:

+ Phải đẩy mạnh tuyên truyền, vận động, giáo dục toàn dân thực hiện KHHGĐ.

+ Phải tuyên truyền, hướng dẫn sử dụng rộng rãi các biện pháp y tế.

+ Bên cạnh tuyên truyền vận động giáo dục phải kết hợp các biện pháp xử phạt nghiêm túc với các đối tượng không thực hiện nghiêm chỉnh chính sách dân số.

- Biện pháp lâu dài đối với dân số nước ta đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội nâng cao dần mức sống và trình độ văn hoá, KHKT, dân trí cho người lao động để người lao động có thể tự điều chỉnh được vấn đề sinh đẻ có kế hoạch trong mỗi cặp vợ chồng.

2. Vì thành thị dân số đông

--> Nhu cầu tìm việc làm nhiều --> Thiếu việc làm
Nông thôn dân số ít
--> Không có việc làm--> Thất nghiệp

3. - Chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu GDP cả nước

- Tốc độ phát triển nhanh
- Mang lại lợi nhuận cao, thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài
- Phân bố chủ yếu dựa vào các nhân tố như dân số, nền phát triển kinh tế.

Liên Hồng Phúc trả lời đúng rùi

13 tháng 12 2016

Mọi người giup với, trong vở mình ko có, tra google cũng không, mà ông thầy cho câu hỏi thế này, đang soạn đề cương ôn thi.

22 tháng 1 2017

-Người dân năng động, sáng tạo trong công cuộc Đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội.

-

có lực lượng lao động dồi dào nhất là lao động lành nghề



22 tháng 1 2017

Đông Nam Bộ là vùng đông dân, có lực lượng lao động dồi dào nhất là lao động lành nghề, thị trường tiêu dùng rộng lớn. Đông Nam Bộ (đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh) có sức hút mạnh mẽ với lao động cả nước.

Người dân năng động, sáng tạo trong công cuộc Đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội.



10 tháng 11 2019

a.

Các đồng bằng duyên hải miền Trung theo thứ tự từ Bắc vào Nam là:

- Đồng bằng Thanh - Nghệ - Tĩnh

- Đồng bằng Bình - Trị - Thiên

- Đồng bằng Nam - Ngãi

- Đồng bằng Bình Phú - Khánh Hòa

- Đồng bằng Ninh Thuận - Bình Thuận



b.

Ngành luyện thép ,cơ khí chế tạo máy ,lắp ráp ô tô ,xe gắn máy, khai thác mỏ:than đá,dầu khí,apatic ,boxic ,sản xuất phân bón ,đóng và sữa chữa tàu biển, may mặc,quan trọng nhất là ngành điện .(ko có điện thì mấy ngành khác dẹp tiệm).

5 tháng 9 2025

từ biển

5 tháng 9 2025
guồn lợi hải sản là những sinh vật có giá trị kinh tế, khoa học, du lịch, giải trí và cung cấp thực phẩm, nguyên liệu trong môi trường nước tự nhiên như biển, ao, hồ, sông, ngòi. Nguồn lợi này thuộc sở hữu toàn dân và được Nhà nước quản lý, đồng thời cũng là nền tảng quan trọng cho sinh kế và an ninh lương thực của con người.  Đặc điểm của nguồn lợi hải sản:
  • Là tài nguyên sinh vật: Bao gồm các loại động vật và thực vật sống trong môi trường nước. 
  • Có giá trị cao: Mang lại lợi ích về kinh tế (thực phẩm, nguyên liệu sản xuất, buôn bán), khoa học, du lịch và giải trí. 
  • Khả năng tái tạo: Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sống có thể tự tái tạo, nhưng cũng có nguy cơ suy giảm nếu bị khai thác quá mức. 
  • Thuộc sở hữu nhà nước: Tại Việt Nam, nguồn lợi thủy sản là tài sản của toàn dân và được Nhà nước quản lý chặt chẽ. 
Vai trò của nguồn lợi hải sản:
  • Cung cấp thực phẩm: Nguồn lợi hải sản là thực phẩm thiết yếu, bổ dưỡng cho con người, đặc biệt quan trọng với các cộng đồng phụ thuộc vào nghề cá. 
  • Hỗ trợ kinh tế: Phát triển ngành đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, đóng góp lớn vào nền kinh tế quốc gia. 
  • Bảo vệ môi trường: Giúp duy trì sự cân bằng và sức khỏe của hệ sinh thái biển và sông ngòi. 
  • Bảo tồn đa dạng sinh học: Góp phần bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học dưới nước.