Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
c, Câu chuyện Tnú với dân làng Xô man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, phải chống lại mọi kể thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khí, hi sinh tính mạng
- Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng với một người đàn bà lạ về nhà vì:
Tràng là một người nông dân nghèo xấu xí, đến người yêu chẳng có huống chi đùng một cái lấy vợ.
Vợ của Tràng là một người từ xứ khác đến
Giữa lúc nạn đói hoành hành khủng khiếp, không ai nghĩ đến việc lấy vợ lấy chồng.
- Sự ngạc nhiên của bà cụ Tú, của dân làng, của chính Tràng cho thấy tác giả đã sáng tạo được một tình huoongw truyện rất độc đáo. Ông kể về lúc Tràng đưa vợ về rồi mới kể đến quá trình hai người gặp gỡ quen nhau như thế nào. Tình huống truyện rất hấp dẫn, tạo sự bất ngờ và lôi cuốn người đọc.
- Cách xây dựng tình huống truyện như trên càng làm cho ý nghĩa truyện thêm sâu sắc, càng nhấn mạnh thêm vào cuộc “nhặt vợ” đầy hóm hỉnh mà cũng đầy éo le của Tràng. Qua đó thể hiện một cách chân thực về thảm hại của nạn đói.
- Người dân xóm ngụ cư ngạc nhiên khi thấy anh Tràng đi cùng với một người đàn bà lạ về nhà vì:
Tràng là một người nông dân nghèo xấu xí, đến người yêu chẳng có huống chi đùng một cái lấy vợ.
Vợ của Tràng là một người từ xứ khác đến
Giữa lúc nạn đói hoành hành khủng khiếp, không ai nghĩ đến việc lấy vợ lấy chồng.
- Sự ngạc nhiên của bà cụ Tú, của dân làng, của chính Tràng cho thấy tác giả đã sáng tạo được một tình huoongw truyện rất độc đáo. Ông kể về lúc Tràng đưa vợ về rồi mới kể đến quá trình hai người gặp gỡ quen nhau như thế nào. Tình huống truyện rất hấp dẫn, tạo sự bất ngờ và lôi cuốn người đọc.
- Cách xây dựng tình huống truyện như trên càng làm cho ý nghĩa truyện thêm sâu sắc, càng nhấn mạnh thêm vào cuộc “nhặt vợ” đầy hóm hỉnh mà cũng đầy éo le của Tràng. Qua đó thể hiện một cách chân thực về thảm hại của nạn đói.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:
- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.
- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.
- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.
- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.
Câu 4:
- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.
- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.
- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.
h, Luận điểm luận cứ thiếu chặt chẽ, lời lẽ chung chung.
Văn học dân gian có giá trị nuôi dưỡng tâm hồn con người. Các tác phẩm hướng tới các giá trị chân – thiện- mĩ nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân. Từ thuở lọt lòng ta được nghe chuyện Thạch Sanh hiện thân của người lao động giỏi, dũng cảm, chân thật bị mẹ con nhà Lí Thông hãm hại, cuối cùng cũng được sống hạnh phúc bên công chúa. Cô Tấm sống đi chết lại nhiều lần để giữ hạnh phúc. Bên cạnh đó, những câu ca dao ru hồn ta bằng tình yêu quê hương đất nước, gắn bó máu thịt với con người, biết ơn tổ tiên, ông cha. Văn học dân gian tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật, làm tiền đề cho sự phát triển của văn học viết.
Trong xã hội hiện đại, trí tuệ nhân tạo (AI) đang dần trở thành một phần tất yếu của đời sống con người. Sự xuất hiện của AI đã mang lại những bước tiến vượt bậc trong khoa học, kinh tế, giáo dục, y tế và rất nhiều lĩnh vực khác. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng: “Nếu không sử dụng AI đúng cách, thế hệ trẻ không những không đồng hành với bước tiến của nhân loại mà còn đi lùi trong việc tạo ra giá trị cho bản thân.” Đây là một nhận định sâu sắc, đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc sử dụng AI một cách thông minh và đúng đắn.
Trước hết, cần khẳng định AI mang lại nhiều lợi thế to lớn. Công nghệ này giúp con người tiết kiệm thời gian, nâng cao hiệu quả lao động và mở rộng khả năng sáng tạo. Chẳng hạn, trong học tập, AI hỗ trợ tìm kiếm thông tin nhanh chóng, dịch thuật, giải bài tập, hay thậm chí gợi ý ý tưởng sáng tạo cho văn bản và nghệ thuật. Trong công việc, AI giúp con người xử lý dữ liệu khổng lồ, đưa ra dự đoán chính xác, từ đó hỗ trợ đưa ra quyết định đúng đắn. Rõ ràng, nếu biết cách khai thác, AI sẽ là “người bạn đồng hành” đắc lực giúp mỗi cá nhân phát triển giá trị bản thân, vươn tới tri thức và thành công.
Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề cũng rất đáng lo ngại. Việc lạm dụng AI một cách thụ động khiến con người dần mất khả năng tư duy độc lập, sáng tạo và giảm sút năng lực tự học. Nếu học sinh chỉ dựa vào AI để làm bài tập thay vì tự suy nghĩ, thì kiến thức sẽ hổng, kỹ năng tư duy logic bị mai một. Người trẻ có thể trở nên phụ thuộc vào máy móc, mất đi bản lĩnh, ý chí và khả năng tự khẳng định. Như vậy, thay vì tiến bộ cùng thời đại, họ lại tụt lùi, tự đánh mất cơ hội tạo ra giá trị cho chính mình.
Để AI thực sự trở thành công cụ phát triển bản thân, mỗi người trẻ cần có thái độ chủ động và tỉnh táo. Trước hết, phải coi AI như một phương tiện hỗ trợ, không phải sự thay thế hoàn toàn. Hãy dùng AI để mở rộng kiến thức, tham khảo ý tưởng, nhưng vẫn giữ vai trò quyết định trong việc chọn lọc, phân tích và sáng tạo. Thứ hai, cần rèn luyện kỹ năng sử dụng công nghệ an toàn, có trách nhiệm, không để thông tin sai lệch hoặc sự tiện lợi của máy móc chi phối. Cuối cùng, phải kết hợp học tập truyền thống với công nghệ, nuôi dưỡng tư duy phản biện, óc sáng tạo và tinh thần tự học – những giá trị cốt lõi mà không loại máy móc nào có thể thay thế.
Tóm lại, trí tuệ nhân tạo là xu thế tất yếu và là lợi thế của nhân loại trong kỷ nguyên số. Nhưng việc sử dụng AI đúng cách mới chính là chìa khóa giúp thế hệ trẻ phát triển toàn diện, tạo ra giá trị đích thực cho bản thân. Mỗi người cần nhận thức rằng AI chỉ phát huy sức mạnh khi được đặt dưới sự kiểm soát của trí tuệ và bản lĩnh con người. Biết tận dụng AI như một công cụ, chứ không phải nương tựa một cách mù quáng, chúng ta mới có thể vừa đồng hành cùng nhân loại, vừa khẳng định được giá trị riêng trong xã hội hiện đại.
mình dùng AI
Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
- Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
- Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).
Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?
- Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
- Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
- Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.
Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?
- Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
- Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
- Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.
Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:
“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”
- Thông điệp:
- Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
- Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
- Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.
Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!
Câu 1 : Tự sự
Câu 2 : Ba mẹ yêu thương con không phải vì con mà vì con là con của ba mẹ, bởi vậy kể cả khi con trở thành một người xấu, một kẻ dối trá hay thậm chí trộm cắp, thì tình yêu của ba mẹ dành cho con vẫn không thay đổi. ... Đó là lý do đầu tiên để tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương.
Câu 3 : - Câu kinh đó ý nói: khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ những thế hệ sau này. Những điều tốt đẹp ấy sẽ như một hạt giống tốt tươi được lan xa, lan rộng.
- Người anh hùng mà cụ Mết kể trong cái đêm dài ấy là Tnú hiện lên với những phẩm chất đáng quý.
- Là một người luôn yêu thương vợ con, tìm cách để bảo vệ hai mẹ con Mai khi bị giặc bắt và đánh đập dã man.
- Anh căm thù bọn giặc đến tàn sát buôn làng, giết hại dân làng Xô Man cũng như đánh đập và giết chết vợ con anh một cách tàn nhẫn.
- Tnú là người có lòng yêu nước sâu sắc, yêu buôn làng và trung thành với cách mạng, tin tưởng vào Đảng, vào cán bộ.
- Cuộc đời Tnú đầy đau khổ do tội ác của giặc gây nên. Vợ con anh bị giặc giết hại, bản thân anh bị giặc đốt mười ngón tay, mỗi ngón tay chỉ còn hai đốt => Cuộc đời đau thương.
- Từ trong đau thương, mất mát, Tnú đã đứng dậy và trưởng thành trong ngọn lửa yêu nước và cách mạng của cuộc kháng chiến chống Mĩ. Từ một em bé liên lạc chưa biết chữ thành một du kích gan dạ, dũng cảm của buôn làng. Từ truyền thống kiên cường, bất khuất của núi rừng Tây Nguyên, anh đã ra đi để góp phần bảo vệ buôn làng, và khi về anh lại làm đẹp thêm cho truyền thống đó.
- Tnú may mắn hơn so với thế hệ đàn anh của mình như anh hùng Núp và A Phủ:
- Không phải sống kiếp tội đòi cam phận, cam chịu.
- Được thừa hưởng phong trào cách mạng từ cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.
- Được giác ngộ lí tưởng cách mạng ngay từ tuổi nhỏ.
- Trong câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú, cụ Mết nhắc đi nhắc lại 4 lần rằng Tnú đã không cứu sống được vợ con, để rồi khắc ghi vào tâm trí của người nghe câu nói: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo. Bởi hai bàn tay không thì làm sao mà thắng giặc. ngùn ngụt căm thù như lửa cháy, nhưng “Tnú chỉ có hai bàn tay trắng” thì làm sao cứu được vợ con; không những thế, chính Tnú cũng bị giặc trói lại và tra tấn dã man.
- Cụ Mết nhấn mạnh điều này nhằm nhắc nhở con cháu đến một điều hệ trọng nhất, cốt tử nhất – nó là điều sống còn cho dân làng Xô Man: chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!...”. Vì đây chính là sự lựa chọn con đường đi đúng đắn nhất của buôn làng, của Tây Nguyên, của cả dân tộc lúc này: “để cho sự sống của đất nước và nhân dân mãi trường tồn, không có cách nào khác là phải đứng lên, cầm vũ khí chống lại và tiêu diệt kẻ thù tàn ác”.
- Qua lời nhắc nhở của cụ Mết với dân làng xô man, tác giả đặt ra một điều có ý nghĩa lớn lao của dân tộc và thời đại. Đây cũng là chủ đề tư tưởng sâu sắc của tác phẩm. Câu chuyện của Tnú cũng như của dân làng Xô Man nói lên chân lí lớn của dân tộc ta trong thời đại chống Mĩ cứu nước lúc bấy giờ để chống lại một kẻ thù tàn ác nhất: phải dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng, vũ trang chiến đấu là con đường tất yếu để tự giải phóng của nhân dân.Làng Xô Man ở Tây Nguyên cũng như toàn miền Nam, cả nước ta đã chiến thắng giặc Mĩ bằng con đường ấy để làm sáng ngời lên chân lí của dân tộc và của thời đại. Và cũng chính vì thế mà câu chuyện bi tráng của cuộc đời Tnú mang ý nghĩa điển hình cho số phận và con đường của cộng đồng làng Xô Man. Đó cũng là lí do cụ Mết muốn chân lí ấy phải được nhớ, để ghi truyền cho con cháu.
- Các hình tượng cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng đã góp phần không nhỏ làm nổi bật nhân vật chính và tư tưởng của tác phẩm.
- Cụ Mết là người kể lại chuyejn cuộc đời Tnú cho dân làng nghe, cũng chính là người đã nói lên chân lí lớn lao của dân tộc và thời đại: “chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!…”
- Mai, Dít là thế hệ hiện tại. Trong Dít có Mai của thời trước và có Dít của hôm nay. Vẻ đẹp của Dít là vẻ đẹp của sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh.
- Bé Heng là thế hệ tiếp theo của Tnú, là những cây xà nu con trong rừng xà nu bạt ngàn, chắc chắn bé Heng cũng sẽ là một Tnú trong tương lai để đi tiếp bước đường của anh, thực hiện ước mơ và lí tưởng của anh.
Chí Phèo từ một người nông dân lương thiện trở thành "con quỷ dữ của làng Vũ Đại" do sự tác động tàn khốc của xã hội phong kiến thực dân, được thể hiện qua các nguyên nhân chính sau:Sự đố kỵ và tàn bạo của giai cấp thống trị: Bá Kiến vì ghen tuông mù quáng đã đẩy Chí Phèo - một anh canh điền khỏe mạnh, hiền lành - vào tù mà không có lý do chính đáng.Nhà tù thực dân: Chế độ nhà tù hà khắc đã nhào nặn, biến đổi một con người lương thiện thành một kẻ lưu manh, hung hãn cả về nhân hình lẫn nhân tính sau khi ra tù.Sự tiếp tay của Bá Kiến sau khi Chí ra tù: Thay vì giúp Chí hoàn lương, Bá Kiến đã biến Chí thành công cụ tay sai, đâm thuê chém mướn để phục vụ cho lợi ích của lão, đẩy Chí sâu hơn vào con đường tội lỗi.Sự định kiến và ghẻ lạnh của dân làng: Sự xa lánh, coi thường của cộng đồng làng Vũ Đại đã tước đi cơ hội làm hòa với xã hội của Chí, khiến Chí bị đẩy ra rìa cuộc sống và trở nên liều lĩnh, bất cần.
Do bị Bá Kiến đẩy vào tù oan, nhà tù thực dân làm tha hóa và xã hội ruồng bỏ, Chí Phèo từ người lương thiện trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”.
Trong Chí Phèo, Chí Phèo từ một người nông dân lương thiện trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” vì bị xã hội thực dân phong kiến tàn bạo đẩy vào con đường tha hóa, sau khi bị Bá Kiến hãm hại và vào tù, Chí Phèo bị nhà tù thực dân làm biến đổi cả nhân hình lẫn nhân tính, khi trở về hắn bị mọi người xa lánh, không được công nhận là con người lương thiện nên dần trở nên lưu manh, say rượu và chuyên rạch mặt ăn vạ, qua đó Nam Cao tố cáo xã hội tàn nhẫn đã cướp đi quyền làm người của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám