Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
Câu 1:
Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.
Câu 2:
Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"
– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.
– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.
Bình luận các ý kiến:
Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do
Câu 2: Biện pháp nghệ thuật là so sánh
Câu 3: Những câu thơ trên miêu tả rõ hình ảnh con người trước biển: dù bão dông, thiên nhiên khắc nghiệt như nào thì con người vẫn luôn lạc quan hướng về phía trước, con người vẫn bình thản, chịu đựng những đau thương, khó khăn thử thách
Câu 4: tình yêu quê hương biển cả được tác giả thể hiện qua đoạn trích: tác giả đã dành tình yêu tha thiết với que hương mình, dù có bão giông, gió lốc thì biển vẫn là nơi tìm về của những đứa con làng chài. Biển còn là nơi ông cha ta làm lên tất cả vì vậy tình yêu biển vả còn là sự biết ơn, chân trọng quá khứ.
Câu 1 : Đoạn trính trên được viết theo thể thơ : Tự do
Câu 2: Biện pháp tu từ được sử dụng : So sánh
Câu3 :
- Hình tượng biển ( thiên nhiên ) dù bão giông,khắc nghiệt thì những con người lao động không vì thế mà sợ hãi - đó là cách con người làm chủ được thiên nhiên,coi đó chỉ như một thử thách,một lẽ thường tình của mẹ thiên nhiên,họ vẫn bình thản,bản lĩnh,kiên cường trước những đau thương mà thiiên nhiên gây ra.
- Người lao động Việt Nam mạnh mẽ,cần cù,luôn lạc quan,kiên cường vượt qua khó khăn vững bước trên mặt biển
Câu 4 :
Qua đoạn trích,có thể thấy được rõ nét nhất 2 thứ : Tình cảm sâu nặng mà tác giả dành cho biển cả quê hương và sư trân trọng công lao của ông cha ta trong quá khứ.Tình cảm của tác giả dành cho biển cả quê hương rất sâu sắc,dẫu có khắc nghiệt, khó khăn nhưng biển vẫn là nơi nuôi sống những con người Việt Nam,là nhà,là nơi ta tìm về.Đặc biệt,tình yêu không chỉ thể hiện qua sự trân trọng quá khứ, biết ơn công lao cha ông ta,phát huy lại truyền thống dân tộc,tao nên sức mạnh đoàn kết giữa người với người
Câu 1 (trang 53 sgk Tiếng Việt 4) :
Tìm danh từ chỉ khái niệm trong số các danh từ được in đậm dưới đây.
Một điểm nổi bật trong đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh là lòng thương người... Chính vì thấy nước mất, nhà tan... mà Người đã ra đi học tập kinh nghiệm của cách mạng thế giới để về giúp đồng bào.
Theo TRƯỜNG CHINH
Trả lời:
Danh từ chỉ khái niệm trong đoạn văn đã cho là: điểm, đạo đức, kinh nghiệm, cách mạng.
1 | Thể thơ: tự do |
2 | Hai hình ảnh nói đến sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo: - Gió rát mặt, Đá củ đậu bay, Nước ngọt hiếm… (Thí sinh chỉ ra đúng 2 hình ảnh được 0.5 điểm). |
3 | Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau. Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa: - Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…) - Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời. |
4 | - Tác giả thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ với cuộc sống của những người lính đảo. - Đồng thời cho thấy sự trân trọng những phẩm chất đáng quý: tinh thần lạc quan, ý chí nghị lực phi thường và tình yêu tổ quốc. -> Nhận xét về tình cảm: - Đây là những tình cảm chân thành, thể hiện trái tim yêu thương tinh tế, sâu sắc của tác giả. - Tình cảm của tác giả cũng là đại diện cho tất cả những người dân Việt Nam dành tình yêu thương, sự cảm phục gửi đến những người lính nơi đảo xa. |
Câu 1 :thể thơ tự do
Câu 2: Những hình ảnh thể hiện cho sự gian khó ở Trường Sa: đá san hô kê lên thành sân khấu, vài tấm tôn chôn mấy cánh gà, gió rát mặt, đảo thay hình dáng, sỏi cát bay như lũ chim hoang.
Câu 3:
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.
Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:
- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)
- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.
Câu 4 :Đoạn thơ trích trong bài "Lính đảo hát tình ca trên đảo" của tác giả Trần Đăng Khoa đã khẳng định được tinh thần lạc quan, tươi trẻ của những người lính hải đảo nơi Trường Sa khắc nghiệt cùng tinh thần yêu nước, hướng về tổ quốc của họ. Thật vậy, hình ảnh những người lính hải đảo hiện lên với tầm vóc vĩ đại và tình yêu bất biến dành cho tổ quốc. Đầu tiên, họ là những người lính bất chấp những khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt công việc. Điều kiện ở Trường Sa vô cùng khó khăn và khắc nghiệt: gió rát mặt, đảo thay đổi hình dạng, sỏi cát bay như lũ chim hoang. Ở nơi biển đảo hẻo lánh ấy, những người lính hải quân vẫn hiên ngang và cất lên bài hát của tuổi trẻ. Không những có phẩm chất kiên cường mà ta còn thấy được tinh thần tươi trẻ và yêu đời của những người lính ấy. Thứ hai, họ là những người lính khát khao cống hiến cho tổ quốc. Tình yêu của họ được gửi gắm vào lời hát và tiếng lòng của trái tim "Nào hát lên". Tình yêu ấy là động lực để họ "đứng vững" trước những khó khăn và họ còn muốn hát lên cho trời đất, mây nước biết. Tổ quốc đối với những người lính trẻ là thiêng liêng và vĩnh hằng biết nhường nào. Tóm lại, đoạn thơ cho ta thấy được phong thái yêu đời cùng tình yêu tổ quốc của những người lính hải đảo ấy.
1, nghị luận
2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.
3,
Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.
4,
Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.


Câu 1
Niềm tin có sức mạnh rất lớn trong hành trình sống của mỗi con người. Câu nói “cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến” nhắc nhở ta rằng, chỉ cần không bỏ cuộc, ai cũng có thể chạm tới thành công và hạnh phúc của riêng mình. Trong cuộc sống, không phải ai cũng may mắn đạt được điều mình mong muốn ngay từ đầu. Có người phải trải qua thất bại, tổn thương, bị nghi ngờ, bị bỏ lại phía sau. Nhưng nếu trong lòng còn niềm tin, con người sẽ có động lực để tiếp tục cố gắng. Niềm tin giúp ta đứng dậy sau vấp ngã, kiên trì với mục tiêu và không đánh mất chính mình trước khó khăn. Thời điểm rực rỡ nhất không nhất thiết phải là lúc ta nổi tiếng hay thành công lớn lao, mà có thể là khi ta vượt qua được giới hạn của bản thân, sống tốt hơn ngày hôm qua. Tuy nhiên, niềm tin không có nghĩa là ngồi chờ may mắn, mà phải đi cùng hành động, nỗ lực và sự bền bỉ. Vì vậy, mỗi người trẻ cần tin vào giá trị của bản thân, dám ước mơ, dám cố gắng. Bởi sau những ngày âm thầm phấn đấu, ánh sáng của thành công rồi sẽ đến với người không bỏ cuộc.
Câu 2
Tổ quốc luôn là nguồn cảm hứng lớn lao trong thơ ca Việt Nam. Với bài thơ “Tổ quốc chân trời”, nhà thơ Anh Ngọc đã thể hiện những cảm xúc sâu sắc của nhân vật trữ tình trước hình ảnh đất nước. Đó là tình yêu tha thiết, niềm tự hào, sự xúc động và khát vọng lên đường để tìm kiếm, gìn giữ, bảo vệ Tổ quốc.
Ngay từ những dòng thơ đầu, nhân vật trữ tình đã bộc lộ một cảm nhận rất đặc biệt về Tổ quốc. Tổ quốc không phải là điều xa lạ, trừu tượng mà bắt đầu “từ mảnh đất dưới chân anh”. Từ điểm gần gũi ấy, Tổ quốc lại mở ra “những miền xa vợi”, những không gian rộng lớn của núi rừng, biển đảo, chân trời. Câu thơ “Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy” thể hiện nhận thức sâu sắc của nhân vật trữ tình: muốn hiểu Tổ quốc, con người phải lên đường, phải trải nghiệm, phải gắn bó với từng vùng đất, từng con người, từng dấu mốc biên cương. Vì thế, “đời anh là một cuộc lên đường” không chỉ là hành trình địa lí mà còn là hành trình nhận thức, cống hiến và yêu thương.
Cảm xúc của nhân vật trữ tình trở nên xúc động và thiêng liêng khi đứng trước vùng đất Sa Vĩ, nơi địa đầu Tổ quốc. Hình ảnh “sóng chồm lên cột mốc”, “tảng đá đứng ngàn năm thách thức” gợi lên vẻ đẹp kiên cường, bền vững của đất nước nơi biên cương. Tổ quốc hiện lên trong dáng đứng hiên ngang, bất khuất trước thời gian và sóng gió. Trong không gian mênh mông ấy, câu thơ “Nam quốc sơn hà” vang lên như tiếng nói thiêng liêng của cha ông, khẳng định chủ quyền dân tộc từ ngàn xưa. Nhân vật trữ tình “vốc nắm đất” mà hình dung ra Tổ quốc, cho thấy tình yêu nước bắt đầu từ những điều bình dị nhất: một nắm đất, một hạt cát, một cột mốc, một vùng biển quê hương.
Bên cạnh niềm xúc động là tình yêu sâu nặng trước vẻ đẹp bao la của đất nước. Hình ảnh “biển thì rộng mà nhỏ nhoi hạt cát” tạo nên sự đối lập giàu ý nghĩa. Hạt cát tuy nhỏ bé nhưng lại có thể “lay động tận hồn anh” bởi trong đó có hình bóng Tổ quốc. Cánh buồm nâu trên nền biển xanh được so sánh “như chiếc lá bồng bềnh, như cánh én”, gợi vẻ đẹp mềm mại, thân thương của cuộc sống lao động nơi biển cả. Tổ quốc trong cảm nhận của nhân vật trữ tình vừa rộng lớn, hùng vĩ, vừa gần gũi, bình yên.
Cảm xúc của nhân vật trữ tình còn là niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của một người lính. Những câu thơ “Thế hệ anh nối nhau mải miết / Ba lô đèo tuổi trẻ ở đằng sau” cho thấy hình ảnh các thế hệ thanh niên, chiến sĩ nối tiếp nhau lên đường vì Tổ quốc. Tuổi trẻ của họ gắn với ba lô, với những con đường, những cánh rừng, những chân trời không dứt. Dù “tóc đã bạc lúc nào”, lòng nhân vật trữ tình vẫn “không nguôi những chân mây góc biển”. Điều đó cho thấy tình yêu Tổ quốc không phai nhạt theo thời gian mà càng trở nên bền bỉ, sâu sắc.
Đặc biệt, hình ảnh “sắc trời tháng chín”, “nắng Ba Đình”, “sáng Tuyên ngôn” đã đưa cảm xúc của nhân vật trữ tình trở về với thời khắc lịch sử thiêng liêng của dân tộc. Đó là niềm tự hào về ngày độc lập, về bản Tuyên ngôn khai sinh đất nước Việt Nam mới. Tình yêu Tổ quốc vì thế không chỉ gắn với không gian địa lí mà còn gắn với lịch sử, với máu xương, với những giá trị thiêng liêng mà cha ông đã gây dựng.
Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng cảm xúc mãnh liệt và lời khẳng định sâu sắc. “Cả đời anh với khẩu súng lên đường” cho thấy cuộc đời nhân vật trữ tình gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trái tim người lính vẫn đập giữa “bão giông lửa cháy”, vẫn hướng tới những chân trời. Câu thơ được lặp lại: “Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy” vừa nhấn mạnh tư tưởng chủ đạo của bài thơ, vừa khẳng định tình yêu nước là một hành trình không ngừng nghỉ.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi như cột mốc, hạt cát, cánh buồm, chân trời, ba lô, khẩu súng. Giọng thơ vừa thiết tha, trữ tình, vừa khỏe khoắn, hào sảng. Các biện pháp so sánh, điệp ngữ, liên tưởng được vận dụng hiệu quả, giúp cảm xúc của nhân vật trữ tình hiện lên chân thành và sâu lắng.
Tóm lại, trong bài thơ “Tổ quốc chân trời”, nhân vật trữ tình hiện lên với tình yêu Tổ quốc tha thiết, niềm tự hào sâu sắc và ý thức trách nhiệm cao đẹp. Qua bài thơ, người đọc hiểu rằng Tổ quốc không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là những chân trời phải đi, phải hiểu, phải yêu và phải bảo vệ bằng cả cuộc đời mình.
Câu1:
Niềm tin rằng “cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến” mang ý nghĩa vô cùng tích cực trong cuộc sống. Mỗi người đều có một hành trình riêng với những khó khăn, thử thách và tốc độ phát triển khác nhau. Có người thành công sớm, có người phải trải qua nhiều thất bại mới đạt được kết quả mong muốn. Nếu chỉ nhìn vào thành công của người khác mà nóng vội, chúng ta dễ chán nản và đánh mất động lực. Niềm tin giúp con người kiên trì theo đuổi mục tiêu, không bỏ cuộc trước trở ngại và luôn hướng về phía trước. Giống như một hạt giống cần thời gian để nảy mầm, phát triển rồi mới đơm hoa kết trái, con người cũng cần thời gian để hoàn thiện bản thân và tích lũy kinh nghiệm. Tuy nhiên, niềm tin phải đi cùng với sự cố gắng, nỗ lực không ngừng. Chỉ khi chăm chỉ học tập, rèn luyện và bền bỉ theo đuổi ước mơ, chúng ta mới có thể chạm tới thời điểm rực rỡ của chính mình. Vì vậy, hãy tin vào bản thân và kiên nhẫn với hành trình trưởng thành của mình.
Câu2:
Trong bài thơ Tổ quốc chân trời, nhân vật trữ tình bộc lộ những cảm xúc sâu sắc và tha thiết về Tổ quốc. Dòng cảm xúc ấy được triển khai từ những điều gần gũi, bình dị đến những suy ngẫm lớn lao về đất nước và trách nhiệm của mỗi con người.
Trước hết, nhân vật trữ tình cảm nhận Tổ quốc từ những gì thân thuộc nhất, từ mảnh đất dưới chân mình, từ quê hương và cuộc sống hằng ngày. Tổ quốc không phải là khái niệm xa vời mà hiện hữu trong từng cảnh vật, con người và kỷ niệm. Điều đó thể hiện sự gắn bó máu thịt giữa con người với nơi mình sinh ra và lớn lên.
Từ tình yêu gần gũi ấy, cảm xúc được nâng lên thành niềm tự hào về đất nước. Nhân vật trữ tình nhận ra Tổ quốc được tạo nên bởi lịch sử lâu đời, bởi những hi sinh và cống hiến của biết bao thế hệ cha ông. Vì vậy, tình yêu đất nước không chỉ là cảm xúc tự nhiên mà còn là sự biết ơn sâu sắc đối với những người đã góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Bên cạnh niềm tự hào, bài thơ còn thể hiện ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với đất nước. Nhân vật trữ tình không chỉ ngắm nhìn Tổ quốc bằng tình yêu mà còn bằng khát vọng cống hiến. Đó là mong muốn được góp sức mình để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn. Tình yêu Tổ quốc vì thế trở thành động lực để sống có lý tưởng và trách nhiệm.
Kết thúc bài thơ, cảm xúc của nhân vật trữ tình hướng tới niềm tin và hi vọng. Hình ảnh "chân trời" gợi ra tương lai rộng mở của đất nước. Dù còn nhiều khó khăn, nhân vật trữ tình vẫn tin tưởng vào sức mạnh của dân tộc và những điều tốt đẹp phía trước.
Như vậy, cảm xúc của nhân vật trữ tình trong bài thơ vận động từ tình yêu quê hương gần gũi đến niềm tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm và niềm tin vào tương lai đất nước. Qua đó, tác giả khơi dậy trong người đọc tình yêu Tổ quốc và khát vọng cống hiến cho quê hương.
Câu 1:
Niềm tin là ngọn đèn soi đường, là sức mạnh nội tại giúp mỗi người vượt qua mọi khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Như những loài cây trong thiên nhiên, dù phải trải qua mùa đông lạnh giá, vẫn kiên trì bám rễ, chờ đợi đến khi mùa xuân đến để nở hoa rực rỡ. Con người cũng vậy, cuộc hành trình phát triển không bao giờ bằng phẳng, có lúc chông gai, có lúc thất vọng, nhưng niềm tin vào chính mình, vào giá trị của bản thân sẽ giúp ta giữ vững tinh thần, tiếp tục cố gắng.Thời điểm rực rỡ nhất không đến sớm hay muộn theo tiêu chuẩn của người khác, mà đến khi ta đã tích lũy đủ kinh nghiệm, sức lực và sự trưởng thành. Niềm tin giúp ta không bỏ cuộc khi chưa đạt kết quả, không ghen tuông khi thấy người khác thành công sớm hơn. Chỉ cần ta kiên trì, chăm chỉ và tin vào con đường mình đã chọn, cuối cùng, thời điểm tỏa sáng của chính mình chắc chắn sẽ đến, rực rỡ và xứng đáng với tất cả những gì ta đã cố gắng.
Câu2:
Tổ quốc chân trời là tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Anh Ngọc, được viết bằng những câu thơ giản dị mà sâu lắng, qua đó thể hiện tình yêu Tổ quốc sâu nặng, gắn bó và niềm tự hào của người chiến sĩ đối với quê hương, đất nước. Bài thơ mở đầu bằng câu thơ đầy cảm xúc: “Bắt đầu từ mảnh đất dưới chân anh”, ngay lập tức khơi gợi những cảm xúc thiêng liêng, gần gũi về Tổ quốc.
Cảm xúc đầu tiên của nhân vật trữ tình là sự gắn bó, yêu thương sâu sắc với mảnh đất quê hương. Tổ quốc không phải là khái niệm xa vời, mà bắt đầu từ những gì gần gũi nhất: mảnh đất dưới chân, những con đường, làng mạc, dòng sông nơi anh đã sinh ra và lớn lên. Đối với người chiến sĩ, mỗi tấc đất đều chứa đựng ký ức, tình cảm, là nơi có gia đình, người thân và những giá trị thiêng liêng. Tình yêu Tổ quốc từ đó mà ra, từ những điều nhỏ bé, bình dị nhưng vô cùng quý giá. Cảm xúc này được thể hiện qua cách nhà thơ chọn hình ảnh cụ thể, gần gũi, giúp người đọc cảm nhận được tình yêu chân thành, tự nhiên như hơi thở.
Tiếp theo, nhân vật trữ tình thể hiện niềm tự hào và ý thức trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc. Là một người chiến sĩ, anh hiểu rõ giá trị của mảnh đất mình đang đứng trên, hiểu rằng đó là phần của Tổ quốc rộng lớn, là nơi chứa đựng lịch sử, truyền thống và văn hóa của dân tộc. Cảm xúc tự hào hòa quyện với ý thức trách nhiệm: bảo vệ từng tấc đất, giữ gìn sự bình yên cho quê hương. Tổ quốc như “chân trời” – vừa rộng lớn, bao la, vừa là mục tiêu, là điểm đến, là nơi anh luôn hướng về, dù ở bất kỳ đâu. Cảm xúc này không chỉ là tình cảm cá nhân, mà còn là tình cảm của cả dân tộc, là ý chí kiên cường, quyết tâm giữ gìn độc lập, tự do.
Bên cạnh đó, còn có cảm xúc thiêng liêng, kính trọng đối với Tổ quốc. Đối với nhân vật trữ tình, Tổ quốc là tất cả, là nguồn cội, là nơi anh thuộc về. Từ mảnh đất dưới chân đến chân trời xa thẳm, Tổ quốc bao bọc, nuôi dưỡng và là niềm tự hào của mỗi người con. Cảm xúc này được thể hiện qua giọng thơ trang trọng, sâu lắng, không hoa mỹ nhưng đủ sức chạm đến trái tim người đọc, gợi lên những cảm xúc thiêng liêng về quê hương, đất nước.
Tóm lại, qua Tổ quốc chân trời, Anh Ngọc đã khắc họa thành công cảm xúc của nhân vật trữ tình: tình yêu gắn bó, niềm tự hào và ý thức trách nhiệm sâu sắc đối với Tổ quốc. Bài thơ không chỉ là lời bày tỏ tình cảm cá nhân, mà còn là tiếng nói chung của mọi người con Việt Nam, khẳng định tình yêu quê hương, đất nước là giá trị thiêng liêng, bất biến, luôn tồn tại và phát triển trong mỗi trái tim người Việt.