K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

28 tháng 5
Hiểu đúng dạng bài

Dạng bài “so sánh, đánh giá hai tác phẩm/đoạn trích văn học” không chỉ yêu cầu phân tích từng văn bản riêng lẻ, mà còn phải chỉ ra:

Điểm giống nhau giữa hai tác phẩm.

Điểm khác nhau giữa hai tác phẩm.

Giá trị nội dung và nghệ thuật của mỗi tác phẩm.

Đánh giá chung về tài năng, phong cách của tác giả hoặc ý nghĩa của hai tác phẩm.

Cấu trúc bài 600 chữ

A. Mở bài

Khoảng 5 - 7 dòng.

Cần giới thiệu:

Tác giả, tác phẩm hoặc hai đoạn trích.

Vấn đề cần so sánh, đánh giá.

Có thể viết theo mẫu:

Văn học luôn là nơi gửi gắm những cảm xúc sâu sắc của con người trước cuộc sống. Cùng viết về ..., hai tác phẩm/đoạn thơ ... của ... và ... của ... đã đem đến cho người đọc những cảm nhận vừa gần gũi, vừa khác biệt. Qua việc so sánh hai đoạn trích, ta thấy rõ vẻ đẹp nội dung, nghệ thuật cũng như phong cách riêng của mỗi tác giả.

B. Thân bài

Khoảng 4 đoạn lớn.

Đoạn 1: Khái quát chung

Giới thiệu ngắn gọn hoàn cảnh, chủ đề hoặc nội dung chính của hai tác phẩm.

Không viết quá dài, chỉ khoảng 5 - 6 dòng.

Ví dụ:

Đoạn thơ thứ nhất thể hiện...
Đoạn thơ thứ hai lại tập trung làm nổi bật...
Cả hai đoạn đều hướng đến...

Đoạn 2: Phân tích tác phẩm/đoạn trích thứ nhất

Em cần nêu:

Nội dung chính.

Hình ảnh, cảm xúc nổi bật.

Nghệ thuật tiêu biểu.

Ví dụ:

Ở đoạn thơ thứ nhất, tác giả đã thể hiện...
Hình ảnh “...” gợi lên...
Biện pháp tu từ ... giúp câu thơ trở nên...
Qua đó, người đọc cảm nhận được...

Đoạn 3: Phân tích tác phẩm/đoạn trích thứ hai

Làm tương tự đoạn 2.

Ví dụ:

Đến đoạn thơ thứ hai, cảm xúc được thể hiện qua...
Nếu đoạn thứ nhất thiên về..., thì đoạn thứ hai lại nhấn mạnh...
Cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu đã góp phần thể hiện...

Đoạn 4: So sánh điểm giống và khác nhau

Đây là phần rất quan trọng.

Giống nhau:

Hai tác phẩm cùng viết về vấn đề gì?

Cùng thể hiện cảm xúc nào?

Cùng có giá trị tư tưởng gì?

Khác nhau:

Khác về cảm xúc.

Khác về hình ảnh.

Khác về giọng điệu.

Khác về cách thể hiện nghệ thuật.

Có thể viết theo mẫu:

Hai đoạn trích có điểm gặp gỡ ở chỗ đều thể hiện...
Cả hai tác giả đều bộc lộ...
Tuy nhiên, mỗi đoạn trích lại có nét riêng. Nếu đoạn thơ của ... mang giọng điệu..., thì đoạn thơ của ... lại...
Sự khác biệt ấy xuất phát từ hoàn cảnh sáng tác, phong cách nghệ thuật và cảm xúc riêng của mỗi nhà thơ.

Đoạn 5: Đánh giá chung

Nêu giá trị của hai tác phẩm.

Khẳng định tài năng tác giả.

Mở rộng ý nghĩa.

Ví dụ:

Qua hai đoạn trích, có thể thấy cả hai tác giả đều có khả năng quan sát tinh tế và trái tim giàu cảm xúc. Mỗi người có một cách thể hiện riêng, nhưng đều góp phần làm phong phú thêm vẻ đẹp của văn học Việt Nam.

C. Kết bài

Khoảng 5 - 7 dòng.

Cần khẳng định lại vấn đề và nêu cảm nhận của bản thân.

Mẫu:

Tóm lại, hai đoạn trích tuy có những nét riêng trong cách thể hiện nhưng đều để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Qua việc so sánh, đánh giá hai tác phẩm, ta không chỉ hiểu thêm vẻ đẹp của nội dung và nghệ thuật mà còn thêm trân trọng tài năng, tâm hồn của người nghệ sĩ.

Phân chia thời gian khi làm bài

Nếu làm trong bài thi khoảng 90 phút hoặc 120 phút, em có thể chia như sau:

Đọc đề, gạch ý chính: 5 phút.

Lập dàn ý nhanh: 7 - 10 phút.

Viết bài: 35 - 45 phút.

Đọc lại, sửa lỗi: 5 phút.

Với bài 600 chữ, không nên viết quá dài. Em nên viết khoảng 1,5 đến 2 trang giấy thi là vừa.

Kĩ năng quan trọng

Thứ nhất, phải bám sát đề. Đề yêu cầu so sánh cái gì thì tập trung vào cái đó, không kể lan man về tác giả, tác phẩm.

Thứ hai, không phân tích hai tác phẩm quá tách rời. Sau khi phân tích riêng, bắt buộc phải có phần so sánh điểm giống và khác.

Thứ ba, phải có nhận xét, đánh giá. Không chỉ nói “giống nhau, khác nhau” mà cần giải thích vì sao có sự giống và khác ấy.

Thứ tư, nên dùng từ nối để bài mạch lạc:

“Trước hết”
“Bên cạnh đó”
“Nếu như... thì...”
“Điểm gặp gỡ giữa hai đoạn trích là...”
“Tuy nhiên, nét riêng của mỗi tác phẩm thể hiện ở...”
“Có thể thấy rằng...”

Công thức dễ nhớ

Mở bài: Giới thiệu 2 tác phẩm + vấn đề so sánh.

Thân bài:

Khái quát chung.

Phân tích tác phẩm 1.

Phân tích tác phẩm 2.

So sánh giống nhau.

So sánh khác nhau.

Đánh giá chung.

Kết bài: Khẳng định giá trị + cảm nhận bản thân.

Mẫu khung bài ngắn gọn

Mở bài:

Giới thiệu hai tác phẩm/đoạn trích và vấn đề cần so sánh.

Thân bài:

Khái quát nội dung hai đoạn trích.

Phân tích đoạn trích thứ nhất.

Phân tích đoạn trích thứ hai.

So sánh:

Giống nhau: cùng thể hiện...

Khác nhau: đoạn thứ nhất..., đoạn thứ hai...

Đánh giá:

Hai đoạn trích đều có giá trị nội dung và nghệ thuật sâu sắc, thể hiện phong cách riêng của mỗi tác giả.

Kết bài:

Khẳng định lại vẻ đẹp của hai tác phẩm và nêu cảm nhận của bản thân.

Lưu ý nhanh:

Bài 600 chữ không cần viết quá dài phần tiểu sử tác giả.

Phần so sánh phải rõ.

Phần đánh giá phải có.

Không nên chỉ phân tích từng bài rồi kết thúc, vì như vậy chưa đúng yêu cầu “so sánh, đánh giá”.

28 tháng 9 2019

- MB 1:

    + Giới thiệu trực tiếp ngắn gọn vấn đề, khái quát về tác phẩm, nội dung cần nghị luận

    + Ưu điểm: nhấn mạnh phạm vi vấn đề, nêu bật luận điểm quan trọng giúp người đọc tiếp nhận văn bản, nắm bắt cụ thể vấn đề

- MB 2:

    + Gợi mở vấn đề liên quan nội dung chính qua luận cứ, luận chứng

    + Ưu: giới thiệu tự nhiên, sinh động, tạo hứng thú cho sự tiếp nhận

17 tháng 9 2025

Trong đoạn trích Hòn Đất, việc lựa chọn người kể chuyện và điểm nhìn nghệ thuật thể hiện sự phù hợp sâu sắc với chủ đề tác phẩm – ca ngợi tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất của người cách mạng, đặc biệt là nhân vật chị Sứ. Tác phẩm sử dụng ngôi kể thứ ba toàn tri, nhưng điểm nhìn trần thuật lại chủ yếu đặt vào nhân vật Tư – người đồng đội gần gũi với chị Sứ. Chính qua góc nhìn đầy xúc động của Tư, người đọc cảm nhận được rõ nét hình tượng chị Sứ: một người phụ nữ nhỏ bé nhưng giàu lý tưởng, gan góc, sẵn sàng hi sinh vì quê hương. Điểm nhìn từ Tư không chỉ làm tăng tính chân thực, khách quan mà còn tạo chiều sâu cảm xúc, giúp người đọc thêm thấu hiểu và cảm phục. Việc lựa chọn người kể chuyện như vậy đã góp phần thể hiện rõ chủ đề của đoạn trích: ngợi ca phẩm chất anh hùng cách mạng, tôn vinh vẻ đẹp của con người Việt Nam trong kháng chiến. CHO MÌNH XIN TICK

17 tháng 9 2025

Hâhhhahahahahahau

4 tháng 10 2025

Trong một thế giới nơi mọi giá trị đều có thể bị thay thế, và mọi chân lý đều có thể bị diễn giải lại, liệu niềm tin còn có thể là thật, hay nó chỉ là một ảo tưởng đẹp mà con người tự tạo ra để không sụp đổ?

Hãy viết một bài nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về bản chất của niềm tin trong thời đại mất phương hướng.

PLS PLS PLS !!!


21 tháng 9 2025

Biển từ lâu là nguồn cảm hứng thi ca bất tận. Trong bài thơ “Biển” của Puskin, biển hiện lên hùng vĩ, mênh mông, vừa dữ dội vừa bí ẩn. Đối với thi sĩ, biển là “người bạn tự do”, là tri âm để gửi gắm khát vọng vượt thoát khỏi những ràng buộc tầm thường, khẳng định tinh thần lãng mạn và khao khát phiêu lưu. Còn trong “Biển” của Xuân Diệu, biển trở thành ẩn dụ cho tình yêu đôi lứa. Nhà thơ say sưa ca ngợi tình yêu nồng nàn, mãnh liệt, sâu thẳm như biển khơi, luôn dào dạt sóng vỗ. Nếu biển trong thơ Puskin gợi tầm vóc sử thi, khát vọng tự do, thì biển trong thơ Xuân Diệu lại đậm chất trữ tình, gắn với trái tim yêu tha thiết của con người. Dẫu khác biệt về góc nhìn, cả hai bài thơ đều gặp gỡ ở điểm chung: mượn hình tượng biển để bộc lộ những cảm xúc lớn lao, những khát vọng cháy bỏng của con người. Hai tác phẩm đã đem đến hai cách cảm nhận khác nhau, làm phong phú thêm vẻ đẹp của biển trong thơ ca nhân loại.

--Chúc bạn học tốt nha!!!--

3 tháng 10 2025


1. Điểm chung

  • Đều là tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực 1930–1945
  • Cùng phản ánh hiện thực cuộc sống nghèo khổ, bế tắc của người dân trước Cách mạng
  • Thể hiện giá trị nhân đạo: trân trọng, đồng cảm với con người nghèo khổ, ca ngợi phẩm chất tốt đẹp, khát vọng sống

2. Điểm khác biệt

  • “Lão Hạc” (Nam Cao)
    • Bút pháp hiện thực sắc sảo, đi sâu phân tích tâm lí
    • Bi kịch dữ dội, ám ảnh về số phận người nông dân
    • Giọng điệu nặng trĩu, day dứt, triết lí
  • “Hai đứa trẻ” (Thạch Lam)
    • Bút pháp trữ tình, tinh tế, thiên về cảm xúc gợi tả
    • Không kịch tính dữ dội, chỉ gợi nỗi buồn man mác và khát vọng đổi thay
    • Giọng điệu nhẹ nhàng, thấm đẫm chất thơ

3. Đánh giá

  • Khẳng định phong cách riêng của mỗi nhà văn
    • Nam Cao: hiện thực, sắc sảo, triết lí
    • Thạch Lam: trữ tình, nhẹ nhàng, chất thơ
  • Cùng góp phần làm nên diện mạo văn xuôi Việt Nam 1930–1945
  • Giá trị nhân văn còn nguyên ý nghĩa đến hôm nay
3 tháng 10 2025

ket ban ik

Bạn tham khảo :

I. GTVĐ
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục - đào tạo là hình thành và phát triển nhân cách con người, dạy người, dạy chữ, dạy những tri thức về tự nhiên, xã hội. Vì thế mà sách Trung Dung đã dạy rằng: “Học cho rộng. Hỏi cho thật kỹ. Suy nghĩ cho thật cẩn thận. Phân biệt cho rõ ràng. Làm việc cho hết sức. Như thế mới thành người”.
II. GQVĐ
1. Giải thích vấn đề.
- Học cho rộng: là khi học ta phải học cho thật rộng, vì kiến thức là bao la như biển cả đại dương, cho nên đã học là phải tìm hiểu thật nhiều, biết cho rộng thì mới đáp ứng được việc trở thành người hiểu biết rộng.
- Hỏi cho thật kỹ: là khi học không những cần học cho rộng mà còn phải học cho sâu sắc những điều mình biết, như thế mới là học, tránh cái gì cũng biết một cách hời hợt, chỉ biết cái bề ngoài mà không hiểu cho kỹ, cho sâu sắc cái bên trong.
- Suy nghĩ cho thật cẩn thận: là trên thinh thần học cho kỹ, cho sâu thì trong quá trình học yêu cầu phải suy nghĩ cho thật kĩ, thật cẩn thận, sâu sắc vấn đề mình học.
- Phân biệt cho rõ ràng: là ta phải biết phân biệt rõ ràng giữa đúng – sai, tốt – xấu, thiện - ác, điều gì nên nói, điều gì không cần nói, việc gì nên làm, việc gì không nên làm,...
- Làm việc cho hết sức: là khi ta đã học rộng, học kĩ, suy nghĩ cẩn thận, phân biẹt rõ ràng thì cần phải làm việc cho hết sức, cho toàn vẹn, cho chu đáo. Đem hết những hiểu biết của mình mà làm việc thì hiệu quả cộng việc sẽ cao.
=> Nếu làm được như vậy thì “Như thế mới thành người”
2. Phân tích, chứng minh, bình luận.
a. Phân tích.
- Trên cơ sở của việc giải thích thì ta phân tích theo từng ý như trên, làm cho vấn đề được sáng tỏ hơn
b. Chứng minh.
- Lấy dẫn chứng từ chính bản thân mình trong quá trình học tập, nghiên cứu, tìm hiêu và trong quá trình thực hành.
- Dẫn chứng từ những người xung quanh.
c. Bình luận.
- Trong xã hội ngày nay vẫn còn nhiều người trong qua trình học tập và thực hành (học->hành) đã: học chưa rộng, hỏi chưa thật kỹ, suy nghĩ chưa cẩn thận vì thế không phân biệt được rõ đâu là đúng, đâu là sai, đâu là tốt, đâu là xấu, ... cho nên khi làm việc, khi hành động sẽ không hết sức, không đạt hiệu quả mong muốn. Và vì thế cũng chưa thành người. (tức là người đã trưởng thành về nhân cách, năng lực)
- Tất nhiên, cũng đã có nhiều người trong xã hội xưa-nay đã làm được như vậy.
3. Mở rộng.
III. KTVĐ
- Khẳng định sự đúng đắn, ý nghĩa giáo dục, vai trò, tầm quan trọng và tác động của lời dạy trên đối với mọi người trong quá trình học tập, lao động, công tác...
- Bài học bản thân.

7 tháng 10 2025

( x - 1 mũ 2) = 121


7 tháng 10 2025

Mik hỏi nè đổi tên ở đâu vvaay


19 tháng 1 2018

Phương pháp trên là cách lập ý của nghị luận về một vấn đề trong tác phẩm văn học.

Đáp án cần chọn là: B

10 tháng 9 2018

Phạm Văn Đồng đã so sánh Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc với Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi để khẳng định giá trị của bài văn tế.

Đáp án cần chọn là: A

10 tháng 12 2021

em xin lỗi, emko biết. Em mới học lớp 5 à.