Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Lời khuyên của viên quản ngục dành cho Huấn Cao là:
- "Ta khuyên thầy quản nên thay chốn ở đi, chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng"
- "Thầy quản nên về quê mà ở đã, hãy thoát khỏi cái cảnh này đi đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó mà giữ được thiên lương cho lành vững rồi đến cũng nhem nhuốc cả đời lương thiện đi"
Em hiểu những lời dặn dò đó là:
+ Sự trân trọng cho một tâm hồn cao đẹp ở nơi bùn lầy tội lỗi đồng thời là sự lo lắng của viên quản ngục sợ rằng tâm hồn trong sạch của Huấn Cao sẽ bị vấy bẩn
+ Dù ở hoàn cảnh nào cái đẹp, sự lương thiện của con người cũng vẫn được tôn trọng.
+ Cái đẹp và sự lương thiện không thể sống chúng với sự xấu xa, thấp kém, và con người chỉ có thể cảm nhận được cái đẹp một cách hoàn mỹ nhất ở những nơi cái đẹp được tôn vinh.
+ “Họ đều là những người nông dân nghèo thương con”. Nhưng tình thương con của mỗi người có biểu hiện và kết cục khác nhau: chị Dậu thương con mà không bảo vệ được con, phải bán con lấy tiền nộp sưu cứu chồng; lão Hạc phải tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con; còn ông Hai, khi nghe tin làng theo giặc lại lo cho con vì chúng nó cũng là con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...Rõ ràng, ông đặt tình cảm riêng trong mối quan hệ với làng, với nước; ông hiểu danh dự của mỗi con người – dù còn ít tuổi – cũng gắn với danh dự của làng, gắn với vận mệnh của đất nước.
+ “Họ đều có sức phản kháng, đấu tranh”. Trong hoàn cảnh xã hội trước Cách mạng tháng Tám, chị Dậu phản kháng một cách tự phát, để bảo vệ chồng trước sự dã man vô nhân đạo của những kẻ đại diện cho cái gọi là “nhà nước” bấy giờ. Còn ông Hai, ông có ý thức trách nhiệm với làng, có tinh thần kháng chiến rất rõ ràng: ông trực tiếp tham gia các hoạt động kháng chiến ở làng, ông muốn trở về làng để được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…khi đi tản cư ông vẫn lo cho các công việc kháng chiến ở làng.
- Đặc biệt, cần phân tích để thấy những chuyển biến “rất mới” trong tình cảm của ông Hai đối với làng. Ở ông Hai, “tình yêu làng mang tính truyền thống đã hòa nhập với tình yêu nước trong tinh thần kháng chiến của toàn dân tộc”.
+ Tình yêu làng thể hiện ở việc hay khoe làng của ông. Phân tích để thấy sự thay đổi ở việc khoe làng ấy: trước Cách mạng, ông khoe sự giàu có, hào nhoáng của làng; sau Cách mạng tháng Tám, ông khoe không khí cách mạng ở làng ông…Ông tin vào ý thức cách mạng của người dân làng ông cũng như thắng lợi tất yếu nếu giặc đến làng nên nghe giặc “rút ở Bắc Ninh, về qua làng chợ Dầu…” thì ông hỏi ngay “ta giết được bao nhiều thằng?”.
+ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin đồn làng theo giặc. Từ khi chợt nghe tin đến lúc về nhà, nhìn lũ con; rồi đến những ngày sau…nỗi tủi hổ ám ảnh ông Hai thật nặng nề, mặc cảm tội lỗi ngày một lớn hơn. Tình yêu làng, yêu nước của ông còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông thấy tuyệt vọng vì ở nơi tản cư có tin không đâu chứa người làng Chợ Dầu. Lòng trung thành với cách mạng, với đất nước thật mạnh mẽ, hiểu rõ những điều quý giá mà cách mạng đã mang lại cho mình cũng như trách nhiệm với cách mạng nên ông Hai đã quyết định dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
+ Tình cảm với kháng chiến, với cụ Hồ của ông Hai được thể hiện cảm động, chân thành khi ông tâm sự với đứa con út. Và, tinh thần kháng chiến, niềm tự hào về làng Chợ Dầu kháng chiến được thể hiện cụ thể khi ông Hai nghe tin cải chính về làng.
- Phân tích để thấy “nguyên nhân của những đổi thay rất mới đó ở nhân vật ông Hai”. Những đổi thay đó là do tác động của hoàn cảnh lịch sử. Sự mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước là nét rất mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám mà nhà văn Kim Lân đã thể hiện qua nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy có được bởi cách mạng đã mang lại cho người nông dân cuộc sống mới, họ được giác ngộ và cũng có ý thức tự giác vươn lên cho kịp thời đại. Vậy nên, tầm nhìn, suy nghĩ của ông Hai đã được mở rộng, đúng đắn.
Giới thiệu tác phẩm Chữ người tử tù
Trong chương trình Ngữ văn, tác phẩm em yêu thích nhất là truyện ngắn Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân. Đây là một tác phẩm đặc sắc, không chỉ ca ngợi vẻ đẹp của con người tài hoa mà còn đề cao khí phách và thiên lương cao đẹp của con người.
Nguyễn Tuân là một nhà văn nổi tiếng của nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông có phong cách sáng tác độc đáo, giàu chất nghệ thuật và luôn hướng ngòi bút tới việc khám phá, tôn vinh cái đẹp. Chữ người tử tù được in trong tập Vang bóng một thời, là một trong những tác phẩm tiêu biểu thể hiện rõ phong cách sáng tác của ông.
Tác phẩm kể về cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa Huấn Cao – một người tử tù nổi tiếng với tài viết chữ đẹp – và viên quản ngục, người luôn ngưỡng mộ tài năng của ông. Dù đang chờ ngày chịu án, Huấn Cao vẫn giữ khí phách hiên ngang, không khuất phục trước hoàn cảnh. Khi hiểu được tấm lòng trân trọng cái đẹp của viên quản ngục, ông đã đồng ý cho chữ ngay trong chốn ngục tù. Cảnh cho chữ trở thành điểm nhấn nổi bật và được xem là cảnh tượng đẹp nhất của tác phẩm.
Nhân vật Huấn Cao hiện lên với vẻ đẹp toàn diện: tài hoa, khí phách anh hùng và thiên lương trong sáng. Ông coi thường quyền lực nhưng luôn trân trọng những con người biết hướng tới cái đẹp. Trong khi đó, viên quản ngục tuy sống giữa môi trường tù ngục nhưng vẫn giữ được tâm hồn thanh cao và lòng yêu cái đẹp đáng quý.
Tác phẩm còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, ngôn ngữ giàu tính tạo hình và cách miêu tả nhân vật tinh tế. Qua đó, Nguyễn Tuân gửi gắm quan niệm: cái đẹp và cái thiện có sức mạnh vượt lên trên hoàn cảnh và luôn xứng đáng được trân trọng.
Sau khi đọc Chữ người tử tù, em cảm thấy rất khâm phục nhân vật Huấn Cao và càng hiểu hơn ý nghĩa của việc sống có nhân cách, có bản lĩnh. Tác phẩm giúp em nhận ra rằng con người cần biết trân trọng cái đẹp và giữ gìn những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.
Chữ người tử tù là một tác phẩm giàu giá trị nội dung và nghệ thuật. Dù đã ra đời từ lâu nhưng tác phẩm vẫn để lại nhiều suy ngẫm sâu sắc cho người đọc hôm nay.