Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
bài này mình cũng đã từng đọc qua.thật hay và thấm thía biết bao
Cảm ơn bạn đã chia sẻ bài văn rất xúc động và sâu sắc này. Bài viết của chị Nguyễn Thị Hậu không chỉ là một bài tả người – tả bố – mà còn là một bản ghi chép chân thật, đầy cảm xúc về tình phụ tử, về nghị lực sống và những hy sinh thầm lặng mà người cha dành cho gia đình.
Bài văn khiến người đọc không khỏi nghẹn ngào, bởi lối kể chuyện gần gũi nhưng chân thành, giàu hình ảnh và cảm xúc. Tác giả không chỉ miêu tả hình ảnh bên ngoài của bố mà còn đi sâu vào nội tâm, vào những chi tiết rất thật – từ cơn đau bệnh tật, công việc cực nhọc, đến những kỷ niệm nhỏ như chăm sóc giỏ lan, dạy con học mỗi tối… Những chi tiết ấy không chỉ khắc họa một người bố mà còn thể hiện rõ tình cảm sâu sắc, lòng biết ơn và cả nỗi đau mất mát khôn nguôi.
Đặc biệt, bài văn còn chứa đựng một thông điệp mạnh mẽ: **Hãy yêu thương và trân trọng cha mẹ khi còn có thể**. Có lẽ chính điều đó đã khiến người chấm điểm không chỉ nhìn thấy kỹ năng viết mà còn cảm nhận được cả tâm hồn và trái tim của người viết.
Nếu bạn thích bài này và muốn mình giúp bạn viết một bài tương tự (ví dụ: viết về mẹ, ông bà hay một người thân yêu), mình sẵn sàng giúp nhé. Bạn muốn thử không?
Hiểu nhận định của PGS. Trần Khánh Toàn
Nhận định khẳng định sứ mệnh kép của nhà văn:
- "Sáng mắt, sáng lòng": Nhà văn phải có tầm nhìn sắc bén và trái tim nhân hậu để phát hiện mọi vẻ đẹp, giá trị tiềm ẩn lẫn những góc khuất tăm tối của đời sống.
- "Đấu tranh không khoan nhượng": Văn chương không chỉ phản ánh mà còn phải dấn thân, bênh vực cái thiện, lên án cái ác, góp phần cải tạo xã hội.
→ Văn học chân chính phải là "tấm gương soi đời" (Stendhal) và "cây búa đập vào bức tường thành" (Brecht).
Phân tích một số tác phẩm làm sáng tỏ
1. "Chí Phèo" (Nam Cao)
- Phát hiện cái đẹp:
- Vẻ đẹp tiềm tàng trong tâm hồn Chí Phèo (khát khao lương thiện, tình yêu với Thị Nở).
- Vẻ đẹp nhân văn của Thị Nở – người đàn bà xấu xí nhưng giàu tình thương.
- Phơi bày cái ác:
- Bá Kiến – đại diện cho thế lực thống trị tàn bạo, biến con người thành "quỷ dữ".
- Xã hội nông thôn phong kiến đầy định kiến, đẩy Chí vào bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.
→ Nam Cao đấu tranh cho nhân tính bằng cách vạch trần cơ chế tha hóa, đồng thời tin tưởng vào bản chất lương thiện của con người.
2. "Vợ nhặt" (Kim Lân)
- Cái đẹp trong tăm tối:
- Tình người ấm áp giữa nạn đói (bà cụ Tứ nhường cơm, Tràng cưu mang vợ).
- Khát vọng sống mãnh liệt của người lao động.
- Cái ác hiện hình:
- Nạn đói 1945 do thực dân, phát xít gây ra, biến con người thành "bóng ma".
- Sự hủy diệt nhân tính (cảnh xác người chết nằm la liệt).
→ Kim Lân bảo vệ cái thiện bằng cách cho thấy: dù trong cùng cực, tình yêu thương vẫn là cứu cánh.
3. "Hai đứa trẻ" (Thạch Lam)
- Cái đẹp mong manh:
- Ánh sáng đoàn tàu – biểu tượng của hy vọng, khát vọng đổi đời.
- Tâm hồn tinh tế của Liên trước vẻ đẹp bình dị (đom đóm, mùi đất ẩm).
- Cái xấu lặng lẽ:
- Cuộc sống tù đọng, bế tắc của phố huyện nghèo.
- Sự bất công khi con người bị mắc kẹt trong bóng tối.
→ Thạch Lam đấu tranh bằng lòng trắc ẩn, lay tỉnh ý thức về giá trị cuộc sống.
Kết luận
- Nhận định của PGS. Trần Khánh Toàn khẳng định tính chiến đấu của văn học. Các tác phẩm lớn đều là sự kết hợp giữa cái nhìn đa chiều và tư tưởng nhân văn.
- Qua phân tích, ta thấy: Nhà văn chân chính không chỉ miêu tả hiện thực mà còn gửi gắm thông điệp đạo đức, góp phần thay đổi nhận thức xã hội.
- THAM KHẢO
Nhận định của PGS. Trần Khánh Toàn nhấn mạnh vai trò của nhà văn là phải “sáng mắt, sáng lòng” để nhìn rõ cái hay, cái đẹp và cả cái xấu, cái ác trong cuộc sống. Nhà văn không chỉ phản ánh thực tế mà còn phải đấu tranh loại bỏ điều xấu, bảo vệ và phát huy cái thiện qua tác phẩm của mình.
Ví dụ, trong truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao, nhà văn thể hiện lòng thương cảm với người nông dân nghèo khổ và lên án xã hội bất công. Hay trong “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, tác phẩm vừa tôn vinh vẻ đẹp nghệ thuật vừa phê phán bạo lực gia đình.
Như vậy, nhà văn góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp hơn bằng cách thể hiện và bảo vệ những giá trị nhân văn trong văn học.
Đoạn trích:
*"Ở đâu năm cửa, nàng ơi?
Sông nào sáu khúc nước chảy xuôi một dòng?
Sông nào bên đục bên trong?
Núi nào thắt cổ bồng mà có thánh sinh?
Đền nào thiêng nhất xứ Thanh?
Ở đâu lại có cái thành tiên xây?
Thành Hà Nội năm cửa, chàng ơi!
Sông Lục Đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.
Nước sông Thương bên đục bên trong,
Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh.
Đền Sòng thiêng nhất tỉnh Thanh,"*
1. Thể loại của văn bản
- Thể loại: Văn bản tục ngữ – ca dao – dân ca (hoặc văn bản tản văn ca ngợi truyền thống, cảnh vật, địa danh).
- Trong văn học Việt Nam, đây là thể loại văn miêu tả – biểu cảm dân gian, dùng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu câu hỏi – trả lời.
2. Đặc điểm nghệ thuật của thể loại trong văn bản
- Câu hỏi – trả lời: Các câu hỏi mở đầu tạo nhịp điệu, lôi cuốn người đọc, rồi phần trả lời nêu danh thắng, địa danh, thần tích.
- Hình ảnh cụ thể, giàu tượng trưng: Mỗi địa danh đi kèm chi tiết đặc trưng (thành năm cửa, sông sáu khúc, núi thắt cổ bồng) → giúp người đọc hình dung sinh động.
- Ngôn ngữ dân gian, nhịp điệu tự nhiên: Dễ nhớ, dễ thuộc, mang tính truyền miệng.
- Ca ngợi và tôn vinh: Văn bản ca ngợi vẻ đẹp, sự thiêng liêng, giá trị văn hóa – lịch sử của đất nước.
3. Nội dung của văn bản
- Miêu tả và ca ngợi các danh lam, địa danh nổi tiếng: Thành Hà Nội, sông Lục Đầu, núi Tản Viên, đền Sòng.
- Nêu bật đặc trưng thiên nhiên, kiến trúc và thần tích đi kèm, thể hiện tình yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc.
4. Ý nghĩa rút ra
- Giáo dục lòng tự hào dân tộc, trân trọng văn hóa, lịch sử và các danh thắng của đất nước.
- Nhắc nhở thế hệ trẻ về giá trị truyền thống, tinh thần bảo vệ và gìn giữ quê hương.
- Gợi ý rằng việc nhận biết, hiểu và tôn vinh quê hương là cách giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
+ “Họ đều là những người nông dân nghèo thương con”. Nhưng tình thương con của mỗi người có biểu hiện và kết cục khác nhau: chị Dậu thương con mà không bảo vệ được con, phải bán con lấy tiền nộp sưu cứu chồng; lão Hạc phải tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con; còn ông Hai, khi nghe tin làng theo giặc lại lo cho con vì chúng nó cũng là con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...Rõ ràng, ông đặt tình cảm riêng trong mối quan hệ với làng, với nước; ông hiểu danh dự của mỗi con người – dù còn ít tuổi – cũng gắn với danh dự của làng, gắn với vận mệnh của đất nước.
+ “Họ đều có sức phản kháng, đấu tranh”. Trong hoàn cảnh xã hội trước Cách mạng tháng Tám, chị Dậu phản kháng một cách tự phát, để bảo vệ chồng trước sự dã man vô nhân đạo của những kẻ đại diện cho cái gọi là “nhà nước” bấy giờ. Còn ông Hai, ông có ý thức trách nhiệm với làng, có tinh thần kháng chiến rất rõ ràng: ông trực tiếp tham gia các hoạt động kháng chiến ở làng, ông muốn trở về làng để được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…khi đi tản cư ông vẫn lo cho các công việc kháng chiến ở làng.
- Đặc biệt, cần phân tích để thấy những chuyển biến “rất mới” trong tình cảm của ông Hai đối với làng. Ở ông Hai, “tình yêu làng mang tính truyền thống đã hòa nhập với tình yêu nước trong tinh thần kháng chiến của toàn dân tộc”.
+ Tình yêu làng thể hiện ở việc hay khoe làng của ông. Phân tích để thấy sự thay đổi ở việc khoe làng ấy: trước Cách mạng, ông khoe sự giàu có, hào nhoáng của làng; sau Cách mạng tháng Tám, ông khoe không khí cách mạng ở làng ông…Ông tin vào ý thức cách mạng của người dân làng ông cũng như thắng lợi tất yếu nếu giặc đến làng nên nghe giặc “rút ở Bắc Ninh, về qua làng chợ Dầu…” thì ông hỏi ngay “ta giết được bao nhiều thằng?”.
+ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin đồn làng theo giặc. Từ khi chợt nghe tin đến lúc về nhà, nhìn lũ con; rồi đến những ngày sau…nỗi tủi hổ ám ảnh ông Hai thật nặng nề, mặc cảm tội lỗi ngày một lớn hơn. Tình yêu làng, yêu nước của ông còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông thấy tuyệt vọng vì ở nơi tản cư có tin không đâu chứa người làng Chợ Dầu. Lòng trung thành với cách mạng, với đất nước thật mạnh mẽ, hiểu rõ những điều quý giá mà cách mạng đã mang lại cho mình cũng như trách nhiệm với cách mạng nên ông Hai đã quyết định dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
+ Tình cảm với kháng chiến, với cụ Hồ của ông Hai được thể hiện cảm động, chân thành khi ông tâm sự với đứa con út. Và, tinh thần kháng chiến, niềm tự hào về làng Chợ Dầu kháng chiến được thể hiện cụ thể khi ông Hai nghe tin cải chính về làng.
- Phân tích để thấy “nguyên nhân của những đổi thay rất mới đó ở nhân vật ông Hai”. Những đổi thay đó là do tác động của hoàn cảnh lịch sử. Sự mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước là nét rất mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám mà nhà văn Kim Lân đã thể hiện qua nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy có được bởi cách mạng đã mang lại cho người nông dân cuộc sống mới, họ được giác ngộ và cũng có ý thức tự giác vươn lên cho kịp thời đại. Vậy nên, tầm nhìn, suy nghĩ của ông Hai đã được mở rộng, đúng đắn.
Tại sao tác giả cho rằng "Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự hài lòng từ những người xung quanh"?
Bởi vì: khi một cá nhân có bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm nhưng chỉ nhằm mục đích phục vụ cá nhân mình, không quan tâm đến những người xung quanh, thậm chí làm phương hại đến xã hội thì không ai thừa nhận anh ta là người có bản lĩnh...
NHỮNG MÓN QUÀ TỪ TÂM HỒN
Trong guồng quay hối hả của cuộc sống, đôi khi chúng ta quên mất việc dừng lại để cảm nhận vẻ đẹp của thế giới xung quanh. Với mình, truyện dài Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ của nhà văn Nguyễn Ngọc Thuần chính là một khoảng lặng bình yên, nơi giúp ta tìm lại những rung động trong trẻo và học cách nhìn cuộc sống bằng một tâm hồn rộng mở hơn.
Nguyễn Ngọc Thuần là nhà văn được nhiều bạn đọc yêu thích bởi lối viết nhẹ nhàng, giàu chất thơ và mang chiều sâu suy ngẫm. Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ không có những tình tiết gay cấn hay xung đột lớn. Tác phẩm đơn giản kể lại những mẩu chuyện nhỏ trong cuộc sống của một cậu bé ở vùng quê yên bình, nhưng chính sự giản dị ấy lại tạo nên sức lay động đặc biệt.
Lần đầu cầm cuốn sách trên tay, mình đã bị thu hút bởi nhan đề đầy gợi mở. Làm sao có thể vừa nhắm mắt lại vừa mở cửa sổ? Càng đọc, mình càng nhận ra rằng “mở cửa sổ” ở đây không chỉ là mở cánh cửa nhìn ra thế giới, mà còn là mở cánh cửa của cảm xúc và sự thấu hiểu.
Trải nghiệm đọc cuốn sách giống như một chuyến hành trình học cách yêu thương. Qua lời kể của nhân vật “tôi”, mình được cùng cậu chơi trò đoán tên các loài hoa bằng mùi hương, lắng nghe tiếng bước chân của bố hay cảm nhận những điều bình dị quanh mình. Những chi tiết nhỏ ấy khiến mình hiểu rằng cuộc sống không chỉ được cảm nhận bằng đôi mắt mà còn bằng sự lắng nghe, sự quan tâm và bằng cả trái tim.
Điều làm mình xúc động nhất là hình ảnh người bố. Ông không dạy con bằng những bài học khô cứng mà bằng những trải nghiệm đời thường đầy tinh tế. Mỗi việc làm nhỏ đều chứa đựng tình yêu thương và cách giáo dục sâu sắc. Qua đó, cậu bé học được cách cảm nhận thế giới bằng nhiều giác quan và biết trân trọng những điều tưởng như rất bình thường.
Đặc biệt, hình ảnh “những món quà” xuất hiện xuyên suốt tác phẩm để lại trong mình nhiều suy nghĩ. Mỗi con người, mỗi cuộc gặp gỡ đều là một món quà của cuộc sống. Khi biết trân trọng và trao đi yêu thương, chúng ta cũng nhận lại niềm vui và hạnh phúc.
Về nghệ thuật, Nguyễn Ngọc Thuần sử dụng ngôn ngữ giản dị nhưng giàu hình ảnh, giọng kể thủ thỉ như lời tâm sự. Chính điều đó khiến những bài học nhân sinh trong tác phẩm trở nên gần gũi và dễ đi vào lòng người.
Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ không chỉ là một cuốn sách dành cho thiếu nhi mà còn là lời nhắc nhở dành cho mỗi chúng ta về cách sống chậm lại, biết yêu thương và cảm nhận cuộc sống sâu sắc hơn. Gấp cuốn sách lại, mình cảm thấy tâm hồn nhẹ nhõm và yêu đời hơn. Đôi khi, chỉ cần “nhắm mắt” một chút, ta sẽ nhận ra còn rất nhiều điều đẹp đẽ đang chờ mình mở lòng để cảm nhận.