K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

1."Giới thiệu chung về tác giả:"Thạch Sanh" là truyện cổ tích dân gian Việt Nam tiêu biểu cho thể loại truyện cổ tích kỳ ảo. Tác phẩm là sáng tạo tập thể của nhân dân lao động, gửi gắm ước mơ về sự công bằng "ở hiền gặp lành".Nội dung cốt truyện:Truyện kể về chàng dũng sĩ Thạch Sanh nghèo khổ nhưng có sức khỏe phi thường và tấm lòng nhân hậu. Chàng đã trải qua nhiều thử thách cam go: diệt chằn tinh, giết đại bàng cứu công chúa, giải cứu con vua Thủy Tề và cuối cùng là đẩy lùi quân đội 18 nước chư hầu bằng cây đàn thần và niêu cơm đãi quân. Xen kẽ là sự gian ác, xảo trá của mẹ con Lý Thông - những kẻ luôn tìm cách cướp công của chàng.Đặc điểm nhân vật chính:Thạch Sanh: Là người anh hùng hội tụ đầy đủ đức tính quý báu: thật thà, vị tha và dũng cảm. Chàng không chỉ có sức mạnh cơ bắp mà còn có lòng yêu chuộng hòa bình (dùng tiếng đàn để hóa giải chiến tranh).Đối tượng phản diện (Lý Thông): Đại diện cho sự ích kỷ, mưu mô và phản bội, đối lập hoàn toàn với vẻ đẹp tâm hồn của Thạch Sanh.Cảm xúc, cảm nghĩ:Sau khi đọc "Thạch Sanh", em cảm thấy vô cùng ngưỡng mộ vẻ đẹp của người anh hùng dân gian. Truyện mang lại niềm tin rằng sự tử tế và lòng dũng cảm sẽ luôn chiến thắng cái ác, đồng thời để lại bài học sâu sắc về lòng nhân đạo.

2. Lập dàn ý (Hướng: Giới thiệu, quảng bá)I. Mở bài:Dẫn dắt: Giới thiệu về kho tàng truyện cổ tích Việt Nam.Nêu tên tác phẩm: Truyện cổ tích "Thạch Sanh" - biểu tượng của người anh hùng nghĩa hiệp.II. Thân bài:Sức hấp dẫn từ cốt truyện kỳ ảo:Những tình tiết ly kỳ: Diệt quái vật, đi xuống hang sâu, ngồi tù oan, kết thúc có hậu.Các chi tiết thần kỳ độc đáo: Cung tên vàng, cây đàn thần, niêu cơm thần.Giá trị nhân văn sâu sắc:Ca ngợi sự công bằng: Cái thiện luôn chiến thắng cái ác.Tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc Việt Nam qua hình ảnh niêu cơm và tiếng đàn.Lý do bạn nên đọc lại "Thạch Sanh":Giúp nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ về lòng tốt và sự dũng cảm.Hiểu thêm về quan niệm sống và đạo lý của cha ông ta từ ngàn xưa.III. Kết bài:Khẳng định sức sống bền bỉ của tác phẩm trong lòng người dân Việt Nam.Lời mời gọi: Hãy cùng đọc lại để thấy một "người hùng" rất gần gũi và đầy lòng nhân ái.

1

Giới thiệu truyện cổ tích Thạch Sanh

Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam luôn chứa đựng nhiều câu chuyện hấp dẫn và giàu ý nghĩa về cuộc sống. Trong đó, Thạch Sanh là một trong những truyện cổ tích tiêu biểu nhất, được nhiều thế hệ bạn đọc yêu thích bởi hình tượng người anh hùng nhân hậu cùng thông điệp sâu sắc về công lí và lòng tốt.

Thạch Sanh là truyện cổ tích dân gian Việt Nam thuộc thể loại truyện cổ tích thần kì. Đây là kết tinh trí tuệ và ước mơ của nhân dân lao động về chiến thắng của cái thiện trước cái ác, về một xã hội công bằng – nơi người tốt luôn được đền đáp xứng đáng.

Câu chuyện kể về Thạch Sanh – một chàng trai nghèo sống dưới gốc đa nhưng có sức khỏe phi thường và phẩm chất đáng quý. Trong cuộc đời mình, chàng đã trải qua nhiều thử thách: diệt chằn tinh cứu dân làng, tiêu diệt đại bàng để giải cứu công chúa, cứu con vua Thủy Tề và cuối cùng dùng tiếng đàn cùng niêu cơm thần để cảm hóa quân đội của mười tám nước chư hầu.

Điểm hấp dẫn của tác phẩm nằm ở những tình tiết kì ảo và giàu trí tưởng tượng. Các chi tiết như cung tên vàng, cây đàn thần hay niêu cơm thần không chỉ tạo nên sức cuốn hút cho câu chuyện mà còn thể hiện ước mơ của nhân dân về sức mạnh của công lí và lòng nhân ái.

Nhân vật Thạch Sanh hiện lên là hình mẫu người anh hùng lí tưởng của truyện cổ tích Việt Nam. Chàng dũng cảm nhưng không hiếu chiến, mạnh mẽ nhưng vẫn giàu lòng vị tha. Đặc biệt, thay vì lựa chọn trả thù, Thạch Sanh dùng tiếng đàn và niêu cơm để hóa giải chiến tranh – thể hiện tinh thần nhân đạo và yêu chuộng hòa bình của dân tộc.

Đối lập với Thạch Sanh là mẹ con Lý Thông – đại diện cho sự ích kỉ, tham lam và gian trá. Sự đối lập ấy càng làm nổi bật quan niệm quen thuộc trong truyện cổ tích: cái thiện cuối cùng sẽ chiến thắng cái ác.

Sau khi đọc Thạch Sanh, em cảm thấy rất ngưỡng mộ vẻ đẹp của nhân vật chính và thêm yêu những giá trị truyền thống mà cha ông gửi gắm. Tác phẩm không chỉ mang đến những câu chuyện hấp dẫn mà còn dạy chúng ta sống trung thực, dũng cảm và biết yêu thương con người.

Thạch Sanh là một truyện cổ tích giàu giá trị nhân văn và vẫn luôn có sức sống bền bỉ trong lòng người đọc. Đây là tác phẩm rất đáng đọc để hiểu thêm về tâm hồn và quan niệm sống đẹp của dân tộc Việt Nam.

Thạch Sanh là một trong những truyện cổ tích tiêu biểu và đặc sắc trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam. Từ bao đời nay, câu chuyện về chàng Thạch Sanh tốt bụng, tài giỏi đã trở thành món ăn tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ người Việt. Không chỉ đơn thuần là một câu chuyện giải trí, truyện còn gửi gắm bài học sâu sắc về quy luật nhân quả: ở hiền gặp lành, ác giả ác...
Đọc tiếp

Thạch Sanh là một trong những truyện cổ tích tiêu biểu và đặc sắc trong kho tàng truyện dân gian Việt Nam. Từ bao đời nay, câu chuyện về chàng Thạch Sanh tốt bụng, tài giỏi đã trở thành món ăn tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn bao thế hệ người Việt. Không chỉ đơn thuần là một câu chuyện giải trí, truyện còn gửi gắm bài học sâu sắc về quy luật nhân quả: ở hiền gặp lành, ác giả ác báo.

Câu chuyện bắt đầu trong khung cảnh quen thuộc của truyện cổ tích: một túp lều nhỏ bên rừng, nơi chàng trai mồ côi cha mẹ tên là Thạch Sanh sinh sống. Dù có xuất thân nghèo khổ nhưng chàng lại mang dòng dõi thần tiên, là con của Ngọc Hoàng được phái xuống trần gian để diệt trừ yêu quái, bảo vệ dân lành. Thạch Sanh sống hiền lành, chất phác, chỉ dựa vào nghề đốn củi để kiếm sống qua ngày. Tuy vậy, chàng lại sở hữu sức mạnh phi thường và được học võ nghệ từ Ngọc Hoàng.

Biến cố lớn đầu tiên đến với Thạch Sanh khi chàng gặp Lý Thông – một kẻ mưu mô, xảo trá. Thấy Thạch Sanh thật thà, lại có sức khỏe hơn người, Lý Thông liền lừa chàng kết nghĩa huynh đệ để lợi dụng. Hắn bày mưu gạt Thạch Sanh đi canh miếu thay mình – nơi có chằn tinh hung ác đang đe dọa dân lành. Nhưng với tài năng và lòng dũng cảm, Thạch Sanh đã giết được chằn tinh. Dù vậy, Lý Thông lại tiếp tục lừa chàng lần nữa, cướp công, nhận thưởng và đẩy Thạch Sanh quay lại cuộc sống nghèo khó trước kia.

Chưa dừng lại ở đó, Lý Thông còn đẩy Thạch Sanh vào hang sâu, lấy đá lấp cửa hang nhằm chiếm công cứu công chúa. Nhưng chính trong thử thách ấy, chàng lại lập nên nhiều chiến công lớn: cứu được con vua Thủy Tề, được tặng đàn thần và nhờ tiếng đàn mà minh oan cho bản thân. Sau này, Thạch Sanh còn đánh đuổi giặc xâm lược, mang lại hòa bình cho đất nước và được vua gả công chúa, truyền ngôi báu.

Tuy có quyền xử tội Lý Thông nhưng Thạch Sanh lại rộng lượng tha thứ. Tuy nhiên, kẻ ác không thoát khỏi lưới trời, mẹ con Lý Thông cuối cùng cũng bị sét đánh chết, hóa thành loài nhái, suốt đời phải kêu rên thảm thiết.

Qua hình tượng Thạch Sanh, tác giả dân gian đã gửi gắm khát vọng muôn thuở của nhân dân: khát vọng về cái thiện, về người anh hùng lý tưởng – dũng cảm, tài giỏi, sống lương thiện và nhân hậu. Chàng là đại diện cho niềm tin rằng: dù cuộc đời có nhiều thử thách, dù kẻ xấu có gian ác đến đâu, cuối cùng cái thiện vẫn chiến thắng, người tốt sẽ được đền đáp xứng đáng.

Truyện Thạch Sanh cũng giống như nhiều truyện cổ tích khác như “Bốn anh tài”, “Chàng Khoa Phụ”, “Chàng Ná”... đều xây dựng hình ảnh người anh hùng phải vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để rồi nhận được cái kết viên mãn. Hành trình giết chằn tinh, đánh đại bàng, cứu công chúa, giải oan bằng tiếng đàn bầu… chính là những chặng đường thể hiện rõ phẩm chất và tài năng của Thạch Sanh. Chàng xứng đáng là biểu tượng đẹp trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam – người anh hùng của lòng nhân ái

0
TẬP NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIANTác phẩm: Truyện cổ tích “Thạch Sanh” 1. Giới thiệu chungThể loại: Truyện cổ tích.Xuất xứ: Kho tàng truyện dân gian Việt Nam, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.Nhân vật chính:Thạch Sanh – chàng trai nghèo, dũng cảm, thật thà.Nhân vật phản diện:Lý Thông, quân xâm lược. 2. Nội dung chính của tác phẩmTruyện kể về...
Đọc tiếp

TẬP NGHIÊN CỨU VÀ VIẾT BÁO CÁO VỀ MỘT VẤN ĐỀ VĂN HỌC DÂN GIAN

Tác phẩm: Truyện cổ tích “Thạch Sanh”


1. Giới thiệu chung

Thể loại: Truyện cổ tích.

Xuất xứ: Kho tàng truyện dân gian Việt Nam, được lưu truyền rộng rãi trong nhân dân.

Nhân vật chính:Thạch Sanh – chàng trai nghèo, dũng cảm, thật thà.

Nhân vật phản diện:Lý Thông, quân xâm lược.


2. Nội dung chính của tác phẩm

Truyện kể về chàng Thạch Sanh mồ côi cha mẹ, sống nghèo khổ nhưng giàu lòng nhân nghĩa. Nhờ sức mạnh và tài năng, Thạch Sanh đã diệt chằn tinh, cứu công chúa, chiến thắng quân xâm lược. Tuy bị mẹ con Lý Thông nhiều lần hãm hại, cuối cùng chàng vẫn được minh oan, trở thành phò mã và được nhân dân yêu mến.

3. Giá trị nội dung

* Ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người lao động: Thạch Sanh thật thà, dũng cảm, giàu lòng nhân nghĩa.

* Lên án cái xấu, cái ác: Lý Thông gian xảo, tham lam, cuối cùng bị trừng trị.

* Khát vọng công bằng xã hội: Cái thiện cuối cùng chiến thắng cái ác
*Tình yêu hòa bình: Truyện phản ánh tinh thần chống giặc ngoại xâm, bảo vệ đất nước.

4. Giá trị nghệ thuật

* Xây dựng hình tượng nhân vật mang tính đối lập rõ nét (Thạch Sanh hiền lành ↔ Lý Thông độc ác).

* Yếu tố thần kỳ (cây đàn, niêu cơm, vũ khí thần) vừa hấp dẫn vừa thể hiện ước mơ của nhân dân.

* Cốt truyện giàu kịch tính, mang tính giáo dục cao.

5. Ý nghĩa

“Thạch Sanh” thể hiện niềm tin của nhân dân vào sức mạnh, phẩm chất của người lao động, đồng thời phản ánh quy luật: cái thiện luôn thắng cái ác. Đây là một trong những truyện tiêu biểu của văn học dân gian Việt Nam.

0
a) Trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, sau khi dẫn ra những tấm gương của sự cống hiến, hi sinh cho kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết :Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước.Tác giả phải dùng tháo tác nào để có thể nhận rõ sự khác nhau và giống nhau ? Câu văn trên được viết nhằm nhấn mạnh đến sự khác...
Đọc tiếp

a) Trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, sau khi dẫn ra những tấm gương của sự cống hiến, hi sinh cho kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết :

Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước.

Tác giả phải dùng tháo tác nào để có thể nhận rõ sự khác nhau và giống nhau ? Câu văn trên được viết nhằm nhấn mạnh đến sự khác nhau hay sự giống nhau ?

b) Đoạn bàn về việc so sánh đức nhà Lí và nhà Lê trong Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu dẫn dưới đây có cùng mục đích nhấn mạnh sự khác nhau (hoặc giống nhau) như câu trên không ?

Có người hỏi Lê Đại Hành với Lí Thái Tổ ai hơn ?

Trả lời rằng : Về mặt dẹp gian bên trong, đánh giặc bên ngoài để làm mạnh nước Việt ta và ra uy với người Tống thì công của Lí Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành gian nan khó nhọc. Về mặt ân uy rõ rệt, lòng người vui vẻ suy tôn, làm cho vận nước lâu dài, để phúc lại cho con cháu thì Đại Hành không biết lo xa bằng Lí Thái Tổ. Thế thì Lí Thái Tổ hơn.

Từ đó suy ra: Thao tác so sánh bao gồm mấy loại chính ?

c) Có người hoài nghi tác dụng của so sánh, vì “mọi so sánh đều khập khiễng”. Anh (chị) có tán thành ý kiến đó không ? Vì sao ?

Theo anh (chị), để có thể so sánh đúng cách thì ta cần phải chú ý những điều gì ? Hãy chọn những câu trả lời đúng trong số các câu sau :

- Những đối tượng (sự vật, hiện tượng) được so sánh phải có mối liên quan với nhau về một mặt (một phương diện) nào đó

- Những đối tượng được so sánh phải hoàn toàn tương đồng hoặc tương phản với nhau.

- Sự so sánh phải dựa trên những tiêu chí cụ thể, rõ ràng và có ý nghĩa quan trọng đối với sự nhận thức bản chất của vấn đề (sự vật, hiện tượng).

- Những kết luận rút ra từ sự so sánh phải chân thực, mới mẻ, bổ ích, giúp cho việc nhận thức sự vật (hiện tượng, vấn đề) được sáng tỏ và sâu sắc hơn.

1
9 tháng 12 2017

Thao tác so sánh. So sánh tinh thần yêu nước của nhân dân ta với đồng bào ta ngày nay

- Câu văn: “Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước nhằm nhấn mạnh sự giống nhau.

b, Đoạn văn của sử gia Lê Văn Hưu sử dụng thao tác so sánh nhằm nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa Lý Thái Tổ và Lê Đại hành trong hai việc: “dẹp gian bên trong… để phúc lại cho con cháu”

- Từ (a) và (b) suy ra hao tác so sánh gồm hai loại chính, so sánh nhằm nhận ra sự giống nhau, sự khác nhau

c, Không đồng ý với ý kiến trên. Vì So sánh là một trong những thao tác quan trọng, cần thiết trong lập luận, đời sống, góp phần hỗ trợ tích cực vào quá trình nhận thức của con người

→ Lựa chọn khẳng định 1, 3, 4

9 tháng 11 2021

Cái này chị nghĩ là truyện cổ tích thì đúng hơn ấy em!

Nhưng nếu chọn 1 trg số 4 đáp án đó là chọn cái nào ak cj?

mọi người hãy xem bài em có đúng k ạNghị luận xã hội - Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình Trong bài thơ “Một khúc ca xuân”, Tố Hữu có viết: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?”“Cái quý giá nhất của con người là đời sống. Vì đời người chỉ sống có một lần”. Vậy phải sống sao cho “khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ...
Đọc tiếp

mọi người hãy xem bài em có đúng k ạ

Nghị luận xã hội - Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình Trong bài thơ “Một khúc ca xuân”, Tố Hữu có viết: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?”

“Cái quý giá nhất của con người là đời sống. Vì đời người chỉ sống có một lần”. Vậy phải sống sao cho “khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và đớn hèn?”. Để trả lời với tất cả chúng ta câu hỏi đó, trong bài “Một khúc ca xuân”, Tố Hữu đã tâm sự bằng những câu thơ giản dị mà rất sâu sắc: Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình?”

Tố Hữu muốn khẳng định trước hết sống phải có ích cho đời. Là con chim không chỉ biết kêu mà cao hơn nữa phải biết cất tiếng hót ca lanh lảnh hót cho đời, tạo nên những bản nhạc rộn rã tươi vui cho đất trời. Cũng như vậy, đã là chiếc lá thì chiếc lá phải xanh tươi đưa lại sức sống cho cây cối, làm mát mắt cho đời và hút nhiều thán khí, nhả ra nhiều ô-xy đem lại sự sống cho con người và muôn loài vật trên trái đất này. Ngay cả những sinh vật hết sức nhỏ bé như thế, mà chúng còn biết hiến dâng những gì tốt đẹp nhất, có ý nghĩa nhất giúp ích cho đời. Vậy, chúng ta là những con người “Chúa tể của trần gian, kiểu mẫu của muôn loài” (Sêch-xpia), là “Hoa của đất” (tục ngữ), là động vật duy nhất có trí tuệ và tâm hồn, chúng ta phải làm gì và sống ra sao đây để cùng muôn loài tô điểm cho quê hương, đất nước, cho “Trái đất này là ngôi nhà của chúng mình” ngày một tươi đẹp hơn.

Muốn sống cho xứng đáng tên gọi thiêng liêng cao quý của mình “Con người! Ôi hai tiếng ấy vang lên mới tự hào và kiêu hãnh làm sao!” (Gor –ki), mỗi chúng ta phải có lẽ sống đẹp. Nghĩa là phải biết ứng xử một cách đẹp đẽ giữa người với người, giữa cá nhân với cộng đồng, với quê hương đất nước. Nói như Tố Hữu, lẽ sống đẹp là lẽ sống có “vay” thì có “trả”, có “nhận”, thì phải có “cho”, phải cống hiến hy sinh sức lực, tâm trí, thậm chí là cả sự sống của mình cho đời, để đời ngày một “đàng hoàng”, “tươi đẹp hơn”.
Mỗi chúng ta giờ đây được sống trên đời, hít thở khí trời, đứng thẳng hai chân kiêu hãnh làm người, chúng ta đã được nhận quá nhiều từ công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ, ông bà tổ tiên, từ tình yêu thương đùm bọc của bà con, đồng bào, từ sự hy sinh của biết bao anh hùng liệt sĩ đã đổ máu xương để xây dựng quê hương và giữ gìn đất nước thanh bình tươi đẹp như hôm nay… Điều đó cũng có nghĩa là chúng ta đã được thừa hưởng biết bao thành quả của người đi trước để lại và người khác đem cho. Như thế là chúng ta đã “vay”, đã “mắc nợ” người thân, nhân dân, đất nước nhiều rồi! Là con người vốn giàu nhân cách và lòng tự trọng, lẽ nào chúng ta nhắm mắt ăn quỵt được sao? Không! Chúng ta phải “trả”, hơn nữa phải “cho” nhiều hơn những gì mà chúng ta đã “vay”, đã “nhận”. Đó là hành động vừa đúng với nhân tâm, vừa hợp với Đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “uống nước nhớ nguồn”. Cách đây hơn nửa thiên niên kỷ, thi hào dân tộc Nguyễn Trãi, một người Việt Nam nhất trong những người Việt Nam nhất trong lịch sử quá khứ cũng từng đã viết “Ăn lộc phải đền ơn kẻ cấy cày”, đó sao?

Trong sự nghiệp xây dựng chính quyền và bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, ở Việt Nam ta đã có biết bao con người sống rất đẹp cho đạo lý, lẽ sống “trả”, “vay” đó, như Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Nguyễn Viết Xuân, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Nguyễn Văn Trỗi, Lý Tử Trọng, Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc,…Họ sẵn sàng “cho” cả cuộc đời, sẵn sàng đổ máu mình cho Tổ quốc đơm hoa Độc lập, kết trái tự do. “Và em nữa. Lưng đèo Mụ Gia, ai biết tên em? Chỉ biết cô gái nhỏ anh hùng. Sống chết từng đêm; Mà lòng thanh thản lạ: Đâu phải hy sinh, em vinh dự vô cùng”. (Tố Hữu – gửi TNXP).

Noi theo những tấm gương cao đẹp đó, giờ đây, những người đang sống lại tiếp tục hy sinh, cống hiến tâm trí và sức lực của mình để làm giàu cho Tổ quốc:

“Ta lại hành quân như năm nào đánh Mĩ

Những sư đoàn không súng, lại xung phong

Ta lại thắng như những chàng dũng sĩ

Biến và hoang vu, thành cơm áo hoa hồng.”

(Tố Hữu).

Hàng ngày, hàng giờ trên đất nước ta có biết bao con người đã “cho” đi những giọt mồ hôi thấm đẫm tâm não để “nhận” lại những công trình khoa học, những sản phẩm lao động; hoặc “cho” đi những giọt máu đào nhân đạo để cho người bệnh có nụ cười ngọt ngào, vì sự sống được hồi sinh; hoặc “cho” đi những đồng tiền mà mình tiết kiệm được để cho những người nghèo, cơ nhỡ có những điều kiện vật chất tối thiểu để hướng cuộc đời về phía tương lai.

Bên cạnh biết bao con người ngày đêm miệt mài học tập, lao động, cống hiến tài năng sức lực cho xã hội, đất nước, thì có một bộ phận không nhỏ của thanh niên lại chỉ biết “vay” và “nhận”, thậm chí còn “nhận” quá nhiều mà không chịu “trả”. Họ đua đòi theo con đường ăn chơi hưởng lạc: đến với vũ trường, tìm đến “nàng tiên nâu”. “cái chết trắng”, để tiêu vèo hết cuộc đời trong chốc lát, vi những thú vui vô nghĩa, mà không hề biết hổ thẹn. Những người có lối sống ích kỷ và bất nhân, vô ơn bạc nghĩa ấy thật đáng phê phán, lên án, phỉ nhổ.

Như vậy, mấy câu thơ giản dị của Tố Hữu đã thể hiện một lẽ sống biết “vay”-“trả”; “cho”-“nhận” đúng lương tâm và đạo lí rất đẹp của người Việt Nam xưa nay. Hiểu được lẽ sống đó, mỗi chúng ta, ở từng cương vị cuộc sống khác nhau, hãy cống hiến hết sức mình, hãy “cho” thật nhiều và gắng làm “Một mùa xuân nho nhỏ, lặng lẽ dâng cho đời” như nhà thơ Thanh Hải đã viết:

“Ta làm con chim hót

Ta làm một cành hoa

Ta nhập vào hòa ca

Một nốt trầm xao xuyến”

5
29 tháng 10 2016

Bài làm hay

1 tháng 11 2016

cam on

15 tháng 5 2019

Đáp án D, bởi vì cả đáp án B, C đều đúng, đáp án A sai

16 tháng 10 2019

Các chi tiết liên quan đến nhân vật An Dương Vương:

    + An Dương Vương xây thành nhiều lần nhưng đều bị lở.

    + Vua được thần Kim Quy giúp xây thành và cho vuốt để làm lẫy chế nỏ thần.

    + Nhờ nỏ thần, vua đánh thắng Triệu Đà lần thứ nhất.

    + Vua chủ quan khi Triệu Đà đem quân đánh lần thứ hai

    + Vua mang con bỏ chạy, nhờ thần Kim Quy cứu và chém chết Mị Châu.

a) -Do sớm có ý thức giữ gìn đất nước, lo xây thành để chống giặc ngoại xâm mà An Dương Vương được thần linh giúp đỡ.

- Kể về sự giúp đỡ thần kì đó, dân gian muốn thể hiện cách đánh giá về nhà vua: biết ơn, ca ngợi công lao xây thành, chế nỏ để chống giặc giữ nước.

b) Sự mất cảnh giác của nhà vua được biểu hiện qua các chi tiết:

- Vua đồng ý lời cầu hôn, gả con gái Mị Châu cho con trai Đà là Trọng Thủy, lại cho Thủy ở rể. ⇒ Vua mơ hồ trước âm mưu muốn xâm chiếm Âu Lạc một lần nữa của kẻ thù.

- Khi Triệu Đà đem quân đánh lần thứ hai, vua không kiểm tra lại vũ khí để đến khi quân giặc kéo sát thành, phải mang Mị Châu bỏ chạy. ⇒ Vua chủ quan khinh địch, không có cái nhìn sáng suốt với tình thế.

c) Qua các chi tiết sáng tạo, nhân dân muốn biểu lộ thái độ, tình cảm:

    + Chi tiết vua nghe theo lời kết án của thần Kim Quy, rút gươm chém Mị Châu: gửi gắm lòng kính trọng đối với vị vua anh hùng, dám hy sinh tình cảm cha con thiêng liêng để giữ tròn bổn phận với đất nước.

    + Các chi tiết liên quan đến Mị Châu:

Phê phán thái độ mất cảnh giác, quá xem trọng tình cảm cá nhân của Mị Châu.

Giải thích nguyên nhân, xoa dịu nỗi đau mất nước một cách nhẹ nhàng.

9 tháng 1 2018

Chuyện Diêm Vương xử kiện ở âm phủ là chi tiết thể hiện nội dung tư tưởng tác phẩm. Chi tiết này thể hiện niềm tin người trung đại về một thế giới khác bên cạnh cõi trần

- Thể hiện khát vọng về công lý, là bước ngoặt của truyện, tạo nên tính li kì, hấp dẫn

- Mang ý nghĩa khuyên răn, giáo dục con người nên sống,hành động hợp lẽ phải, tránh làm điều ác

Chọn ý e: ý kiến khác

1. Mở đầuVăn học dân gian Việt Nam chứa đựng nhiều truyền thuyết anh hùng, thể hiện lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Thánh Gióng là tác phẩm tiêu biểu, ca ngợi sức mạnh phi thường của dân tộc và ý chí bảo vệ Tổ quốc.2. Nội dung nghiên cứua. Tóm tắt truyệnGióng là cậu bé lạ lùng: ba tuổi chưa biết nói cười. Khi giặc Ân xâm lược, Gióng vươn mình lớn nhanh như thổi, cưỡi...
Đọc tiếp

1. Mở đầu

Văn học dân gian Việt Nam chứa đựng nhiều truyền thuyết anh hùng, thể hiện lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Thánh Gióng là tác phẩm tiêu biểu, ca ngợi sức mạnh phi thường của dân tộc và ý chí bảo vệ Tổ quốc.

2. Nội dung nghiên cứu

a. Tóm tắt truyện
Gióng là cậu bé lạ lùng: ba tuổi chưa biết nói cười. Khi giặc Ân xâm lược, Gióng vươn mình lớn nhanh như thổi, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt đánh tan giặc, rồi bay về trời.

b. Đặc điểm nghệ thuật

Yếu tố kì ảo, phóng đại: lớn nhanh, ngựa sắt, roi sắt… làm nổi bật hình tượng siêu phàm, biểu tượng sức mạnh dân tộc.

Kết cấu giàu kịch tính: từ cậu bé bình thường đến anh hùng giải cứu đất nước.

Ngôn ngữ truyền miệng mộc mạc, nhịp điệu dồn dập, hào hùng.

c. Giá trị nội dung

Ca ngợi tinh thần yêu nước: Thánh Gióng là hiện thân của ý chí quật cường chống ngoại xâm.

Niềm tin vào sức mạnh nhân dân: từ một đứa trẻ làng quê, nhờ lòng yêu nước mà hóa thành anh hùng.

Giáo dục thế hệ sau: bồi dưỡng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ Tổ quốc.

3. Kết luận

Truyền thuyết Thánh Gióng không chỉ là câu chuyện kì ảo hấp dẫn mà còn là bản anh hùng ca bất diệt về sức mạnh đoàn kết và tinh thần yêu nước. Tác phẩm góp phần khơi dậy niềm tự hào dân tộc, thôi thúc mỗi người gìn giữ và bảo vệ quê hương.

0
Khoanh tròn vào đáp án đầu câu trả lời đúng.1. Luận điểm nào dưới đây không nhằm nói về những sáng tạo riêng của Nguyễn Du trong nghệ thuật kể chuyện, xây dựng cốt truyện, kết cấu “Truyện Kiều” so với tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân?A. Lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo, về sự báo oán tàn nhẫn và các chi tiết dung tục, sáng tạo thêm một số chi tiết mới và thay đổi thứ tự...
Đọc tiếp

Khoanh tròn vào đáp án đầu câu trả lời đúng.

1. Luận điểm nào dưới đây không nhằm nói về những sáng tạo riêng của Nguyễn Du trong nghệ thuật kể chuyện, xây dựng cốt truyện, kết cấu “Truyện Kiều” so với tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân?

A. Lược bỏ các chi tiết về mưu mẹo, về sự báo oán tàn nhẫn và các chi tiết dung tục, sáng tạo thêm một số chi tiết mới và thay đổi thứ tự kể.

B. Chuyển ngôn ngữ tiểu thuyết văn xuôi chữ Hán của người Trung Hoa thành ngôn ngữ tiểu thuyết bằng thơ lục bát của người Việt.

C. Biến các sự kiện chính của tác phẩm thành đối tượng bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhân vật và người kể.

D. Chuyển trọng tâm của truyện từ việc kể sự kiện sang biểu hiện nội tâm nhân vật, làm cho nhân vật sống hơn, sâu sắc hơn.

2. Vì sao Thúy Kiều – cô chị phải “cậy, lạy, thưa” Thúy Vân – cô em trong cảnh “Trao duyên”?

A. Vì điều đó đúng với nguyên tắc ứng xử trong một gia đình “trâm anh thế phiệt” như gia đình Kiều.

B. Vì trong tình huống ấy, Kiều không còn đủ tỉnh táo cân nhắc từng lời nói, cử chỉ.

C. Vì làm như thế, Kiều tỏ rõ được tấm lòng trân trọng của mình với tình yêu và những kỉ vật Kim trọng đã dành cho nàng.

D. Vì Kiều muốn tỏ lòng tôn kính và biết ơn sự hi sinh, chia sẻ cao thượng của Thúy Vân dành cho nàng.

3. Đoạn “Thề nguyền” được trích từ câu bao nhiêu đến câu bao nhiêu trong “Truyện Kiều”

A. 431-452

B. 421- 442

C. 411- 432

D. 441- 462

1
26 tháng 6 2018
Câu 1 2 3
Đáp án B D A