Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
1. Trang bìa
- Tiêu đề: “Quan sát và phân biệt một số loại tế bào: vảy hành, trứng cá”
- Tên học sinh, lớp, ngày tháng.
- Có thể thêm hình minh họa nhỏ: hình kính hiển vi, tế bào.
2. Mục tiêu
- Hiểu khái niệm tế bào và cấu trúc cơ bản.
- Quan sát được tế bào hành và tế bào trứng cá dưới kính hiển vi.
- Phân biệt được sự khác nhau về hình dạng, cấu trúc giữa hai loại tế bào.
3. Chuẩn bị
- Dụng cụ: Kính hiển vi, lam kính, vật kính, giọt nước, kẹp gắp, đèn chiếu sáng.
- Mẫu vật:
- Hành tây (để quan sát tế bào vảy hành).
- Trứng cá (để quan sát tế bào trứng cá).
- Thuốc nhuộm: Lugol (iodine) để nhuộm tế bào hành.
4. Cách quan sát
Tế bào vảy hành:
- Lấy 1 mảnh mỏng của vảy hành.
- Đặt lên lam kính, nhỏ giọt nước hoặc thuốc nhuộm Lugol.
- Đặt lam kính dưới kính hiển vi và quan sát.
- Vẽ hình tế bào: nhìn thấy màng tế bào, nhân tế bào rõ ràng.
Tế bào trứng cá:
- Lấy một ít trứng cá, đặt lên lam kính, nhỏ giọt nước.
- Quan sát dưới kính hiển vi.
- Vẽ hình tế bào: hình tròn, có nhân ở giữa và bào tương trong suốt.
5. Nhận xét và phân biệt
Tiêu chí | Tế bào hành | Tế bào trứng cá |
|---|---|---|
Hình dạng | Hình chữ nhật | Hình tròn |
Nhân | Rõ ràng, nằm gần giữa | Rõ ràng, nằm giữa |
Bào tương | Trong suốt, dễ quan sát | Trong suốt, đồng nhất |
Màng tế bào | Rõ nét | Rõ nhưng mỏng |
- Kết luận: Hai loại tế bào khác nhau về hình dạng và cấu trúc, phản ánh chức năng khác nhau trong cơ thể.
6. Hình ảnh minh họa
- Chèn hình tế bào hành và tế bào trứng cá dưới kính hiển vi.
- Vẽ sơ đồ đơn giản để dễ nhớ.
7. Kết luận
- Tế bào là đơn vị cơ bản của sự sống.
- Quan sát tế bào giúp em hiểu cấu tạo, chức năng và phân biệt được các loại tế bào.
- Thí nghiệm đơn giản nhưng rất quan trọng trong sinh học.
💡 Mẹo trình bày:
- Mỗi slide: 1 ý chính + hình minh họa.
- Dùng màu sắc nhẹ nhàng, chữ dễ đọc.
- Khi thuyết trình: Giải thích bằng lời cho từng hình ảnh.
bạn làm theo như bạn ''Vũ Trường An'' sẽ hiểu hơn
Đoạn đường còn lại đi trong số thời gian là:
4 : 12 = 1/3 (giờ)
Đổi 1/3 giờ = 20 phút
Vận tốc đi đoạn đường đầu là
2x3=6(km/h)
(Lí do có 2 là vì 20 phút gấp đôi 10 phút)
Còn lại bạn tự tính vì mình mới học lớp 5
Công cụ Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Bài này viết về một từ viết tắt từ chữ đầu. Đối với cộng đồng mà nó đề cập đến, xem cộng đồng LGBT. Đối với các cách dùng khác, xem LGBT (định hướng). Lá cờ cầu vồng 6 màu đại diện cho LGBTQ+, tượng trưng sự đa dạng giới tính, sự đa dạng định giới và đa dạng xu hướng tính dục. Một phần của loạt bài về Người đồng tính, song tính và hoán tính trên thế giới Đồng tính luyến ái ở Ấn Độ Cộng hòa Séc Trung Quốc Đồng tính, song tính và hoán tính ở Việt Nam New Zealand Nhật Bản xts LGBT hoặc LGBT+ là một từ viết tắt từ chữ đầu, thay thế cho cho Lesbian (đồng tính luyến ái nữ), Gay (đồng tính luyến ái nam), Bisexual (song tính luyến ái), Transgender (chuyển giới) và Queer (có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác biệt, hoặc không nhận định mình theo bất kỳ nhãn nào) hoặc Questioning (đang trong giai đoạn tìm hiểu bản thân). Dấu cộng đại điện cho sự tồn tại đa dạng của các nhóm khác trong cộng đồng như: N là Non-binary (phi nhị nguyên giới), I Intersex (liên giới tính), A Asexual (vô tính luyến ái)[1]... LGBTQ+ thể hiện sự đa dạng của con người dựa trên xu hướng tính dục (sexual orientation), bản dạng giới (gender identity),[2] thể hiện giới (gender expression) và thiên hướng tình dục (sexual attraction). Xu hướng tính dục có các nhóm phổ biến: dị tính luyến ái (heterosexual), đồng tính luyến ái (homosexual), song tính luyến ái (bisexual), toàn tính luyến ái (pansexual), vô tính luyến ái (asexual),... Theo bản dạng giới có thể có: nam, nữ, phi nhị nguyên giới, linh hoạt giới, vô giới,... và người có bản dạng giới trái với giới tính chỉ định (sex assigned at birth) của mình là người chuyển giới, ngược lại người người có bản dạng giới phù hợp với giới tính chỉ định là người hợp giới (cisgender). Lịch sử thuật ngữ Quán bar Stonewall Inn ở làng cho người LGBT+ ở Làng Greenwich, Manhattan, địa điểm diễn ra cuộc bạo động Stonewall tháng 6 năm 1969, cái nôi của phong trào giành quyền LGBT+ thời nay và là một biểu tượng của văn hóa LGBT+, được trang trí bởi những lá cờ lục sắc.[3][4][5] Các ấn phẩm LGBT+, diễu hành tự hào và những sự kiện liên quan như sân khấu này tại Bologna Pride 2008 ở Ý, thường xuyên sử dụng thuật ngữ LGBT thay vì thêm các chữ cái mới và giải quyết các vấn đề về vị trí của các chữ cái trong tiêu đề mới.[6] Lá cờ kiểu mới được thiết kế bởi Daniel Quasar vào năm 2018 nhằm nâng cao nhận thức về những người queer da màu, người chuyển giới và những người đã mất mạng vì căn bệnh HIV/AIDS. Bài chi tiết: Thuật ngữ đồng tính luyến ái Thuật ngữ LGBT bắt đầu được sử dụng từ những năm 1990, tên viết tắt này bắt nguồn từ LGB, được dùng để thay thế thuật ngữ gay do sự xuất hiện của cộng đồng LGBT+ vào nửa cuối thập niên 1980, khi những nhà hoạt động xã hội tin rằng cụm từ cộng đồng gay không đại diện chính xác và bao gồm những người mà nó nói đến. Người đồng tính (homosexual), cụm từ được sử dụng rộng rãi đầu tiên giờ đây mang một hàm ý tiêu cực ở nước Mỹ.[7] Sau đó, nó được thay thế bởi homophile vào những năm 1950 và 1960,[8][9][10][Còn mơ hồ – thảo luận] và tiếp theo là gay vào những năm 1970; cụm từ gay được chấp nhận trước bởi cộng đồng người đồng tính.[11] Khi mà những người đồng tính nữ ngày càng tạo dựng được sự hiện diện, thì cụm từ “đồng tính nam (Gay) và đồng tính nữ (Lesbian)” cũng trở nên thông dụng hơn.[12] Một cuộc tranh cãi về việc liệu mục tiêu chính trị của người đồng tính nữ nên là nữ quyền hay quyền của người đồng tính đã dẫn đến sự tan rã của một số tổ chức dành cho người đồng tính nữ, bao gồm Daughters of Bilitis, tan rã vào 1970, theo đó là tranh cãi về việc nên đặt vấn đề nào là ưu tiên hàng đầu trước.[13] Khi mà sự bình đẳng là ưu tiên hàng đầu đối với những nhà nữ quyền đồng tính nữ, sự bất tương xứng vai vế giữa nam và nữ cũng như giữa butch (tính nam) và femme (tính nữ) bị coi là biểu hiện của chế độ phụ quyền. Các nhà nữ quyền đồng tính nữ đã né tránh vai trò về giới - thứ đang phổ biến ở các quán bar khi đó - cũng như "chủ nghĩa sô vanh" của những người đồng tính nam; nhiều nhà nữ quyền đồng tính nữ từ chối hợp tác với người đồng tính nam, hoặc đảm nhiệm sứ mệnh của họ.[14] Những người đồng tính nữ giữ quan điểm bản chất luận, rằng họ sinh ra đã là đồng tính luyến ái và sử dụng từ "đồng tính nữ" để định nghĩa sự hấp dẫn về tình dục, thường coi những ý kiến ly khai của những người theo chủ nghĩa nữ quyền là bất lợi cho bản chất quyền của người đồng tính.[15] Những người song tính và chuyển giới cũng tìm kiếm sự công nhận là những nhóm chính thức trong cộng đồng thiểu số lớn hơn.[12] Trước sự phấn khởi về sự thay đổi sau hành động nhóm trong cuộc bạo loạn Stonewall năm 1969 ở thành phố New York, vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980, một số người đồng tính nam và đồng tính nữ dần trở nên ít chấp nhận người song tính hoặc chuyển giới hơn.[16][17] Các nhà phê bình[ai nói?] nói rằng những người chuyển giới thể hiện không đúng theo các khuôn mẫu về họ và những người song tính chỉ đơn giản là những người đồng tính nam hoặc đồng tính nữ người e sợ phải công khai và thành thật về bản dạng của họ.[16] Mỗi cộng đồng đã phải đấu tranh để phát triển bản sắc riêng của mình bao gồm cả việc liệu có nên hay không và làm thế nào, để hòa hợp với những cộng đồng dựa trên giới và tính dục khác, dẫn đến việc đôi khi loại trừ các phân nhóm nhỏ hơn; những xung đột này vẫn tiếp tục cho đến ngày nay.[17] Các nhà hoạt động LGBT+ và các nghệ sĩ đã sử dụng những áp phích để nâng cao nhận thức về vấn đề này kể từ khi phong trào bắt đầu.[18] Từ khoảng năm 1988, các nhà hoạt động bắt đầu sử dụng thuật ngữ LGBT ở Hoa Kỳ.[19] Mãi đến những năm 1990, trong phong trào này, người đồng tính nam, đồng tính nữ, song tính và chuyển giới mới được tôn trọng một cách bình đẳng.[17] Điều này đã thúc đẩy một số tổ chức áp dụng những cái tên mới, như Hiệp hội Lịch sử GLBT đã làm vào năm 1999. Mặc dù cộng đồng LGBT+ đã chứng kiến nhiều tranh cãi liên quan đến việc chấp nhận phổ biến đến các nhóm thành viên khác nhau (đặc biệt là các cá nhân song tính và chuyển giới, đôi khi bị cho ra rìa bởi cộng đồng LGBT lớn hơn), thuật ngữ LGBT đã là một biểu tượng tích cực của sự hòa nhập.[17][20] Mặc dù trên danh nghĩa, LGBT không bao gồm tất cả những từ viết tắt chỉ các cá nhân trong các cộng đồng nhỏ hơn (xem Các biến thể bên dưới), thuật ngữ này thường được chấp nhận để bao gồm những người không được xác định cụ thể trong nghĩa viết tắt của bốn chữ cái.[17][20] Nhìn chung, việc sử dụng thuật ngữ LGBT theo thời gian đã hỗ trợ phần lớn trong việc đưa những cá nhân bị thiệt thòi vào cộng đồng chung.[17][20] Nữ diễn viên chuyển giới Candis Cayne vào năm 2009 đã mô tả cộng đồng LGBT+ là "nhóm thiểu số cuối cùng", và lưu ý rằng "Chúng ta vẫn có thể bị quấy rối một cách công khai" và "bị gọi tên trên truyền hình".[21] Vào năm 2016, Hướng dẫn tham khảo về phương tiện truyền thông của GLAAD tuyên bố rằng LGBTQ là thuật ngữ được ưa thích hơn, bởi vì nó bao gồm các thành viên trẻ của cộng đồng chấp nhận từ Queer là một từ tự mô tả bản thân.[22] Tuy nhiên, một số người xem "Queer" là một thuật ngữ xúc phạm có nguồn gốc ngôn từ kích động thù địch và từ chối nó, đặc biệt là một số thành viên lớn tuổi.[23] Đến nay, có thêm nhiều chữ cái mới và vấn đề vị trí giữa các chữ cái vẫn chưa được giải quyết. Nên nhiều người thường dùng LGBT+ để biểu thị rằng cộng đồng còn bao gồm những nhóm khác. Các biến thể của thuật ngữ Tổng quan Lễ diễu hành tự hào năm 2010 ở Plaza de Mayo, Buenos Aires, cái mà sử dụng thuật ngữ LGBTIQ.[24] Mọi người tập trung ở Quảng trường Senate, Helsinki, ngay trước khi lễ diễu hành Tự hào Helsinki 2011 diễn ra. Nhiều biến thể bao gồm các thuật ngữ thay đổi vị trí của cái chữ cái như LGBT hay GLBT là những thuật ngữ thông dụng nhất.[17] Tuy giống nhau về nghĩa, LGBT thường mang hàm ý nghiêng về nữ quyền hơn GLBT vì chữ cái “L” (đồng tính nữ) được đặt lên đầu.[17] LGBT cũng bao gồm chữ cái Q tượng trưng cho người "queer" hoặc "băn khoăn về xu hướng tính dục của bản thân" (đôi khi được viết tắt với một dấu hỏi chấm và được dùng cho những người không hẳn là L, G, B hay T), tạo ra những thuật ngữ LGBTQ hay LGBTQQ.[25][26][27] Ở Anh, thuật ngữ được cách điệu thành LGB&T,[28][29], trong khi Đảng Xanh nước Anh và xứ Wales dùng thuật ngữ LGBTIQ trong các ấn phẩm và tuyên ngôn chính thức của mình.[30][31][32] Thứ tự của các chữ cái cũng không được tiêu chuẩn hóa, ngoài các biến thể giữa các chữ “L” hay “G”, những chữ cái ít thông dụng hơn, nếu được sử dụng, thì có thể được đặt ở bất kỳ vị trí nào.[17] Những thuật ngữ dài dựa trên LGBT thường bị cho là hỗn tạp và quá khó hiểu.[33][34] Các thuật ngữ biến thể thường không tượng trưng cho sự khác biệt về quan điểm chính trị trong cộng đồng, mà thường chỉ đơn giản là nêu lên sự lựa chọn của các cá nhân và nhóm.[35] Các thuật ngữ như toàn tính (pansexual), omnisexual, fluid (linh hoạt) và queer-identified thường được xem như là những thuật ngữ con thuộc về thuật ngữ song tính (bisexual) (và vì vậy chúng được xem như là một phần của cộng đồng người song tính). Một vài người dùng LGBT+ để nói về “LGBT và những cộng đồng có liên quan”.[36] Bên cạnh đó, thuật ngữ LGBTQIA cũng thường hay được sử dụng và ba chữ cái viết tắt thêm là "queer, liên giới tính (intersex), và vô tính (asexual)".[37] Những biến thể khác có thể bao gồm chữ “U” (unsure) cho "không chắc chắn"; "C" (curious) cho "sự tò mò"; thêm một chữ "T" (transvestite) cho "người ăn mặc xuyên giới"; "TS", hoặc "2" cho "hai tâm hồn" (two-spirit); "SA" (strangiht allies) cho những "đồng minh dị tính".[38][39][40][41][42] Tuy nhiên sự bao gồm đồng minh dị tính vào thuật ngữ LGBT đã dấy lên tranh cãi khi mà những người dị tính đã dùng phong trào LGBT để tăng sự nổi tiếng và địa vị trong những năm gần đây,[43] và nhiều nhà hoạt động xã hội LGBT đã chỉ trích thế giới quan định chuẩn hóa dị tính của những người dị tính...
Hô hấp và quang hợp là 2 quá trình song song, phụ thuộc vào nhau. - Sản phẩm của quang hợp (tinh bột và oxy) là nguồn nguyên liệu và chất oxy hóa trong quá trình hô hấp. - Sản phẩm của hô hấp (cacbonic và nước) là nguyên liệu giúp tổng hợp nên tinh bột và giải phóng ra oxy trong quá trình quang hợp.
Chúc ban chiều nay thi tốt nhé .
Hô hấp và quang hợp là 2 quá trình song song, phụ thuộc vào nhau. - Sản phẩm của quang hợp (tinh bột và oxy) là nguồn nguyên liệu và chất oxy hóa trong quá trình hô hấp. - Sản phẩm của hô hấp (cacbonic và nước) là nguyên liệu giúp tổng hợp nên tinh bột và giải phóng ra oxy trong quá trình quang hợp.
Chiều nay chúc bạn thi tốt
tính thời gian người đó đi từ A đến B là 0,5h
v người đó là :
20:0,5 bằng 40 km/h
- Mô hình nắp chai nhựa: Sử dụng 118 nắp chai nhựa tái chế để đại diện cho các nguyên tố. Bạn có thể dán nhãn tên nguyên tố, số nguyên tử lên bề mặt nắp. Ưu điểm là rẻ, dễ tìm và có màu sắc đa dạng để phân loại nhóm nguyên tố (kim loại, phi kim, khí hiếm...).
- Bảng tuần hoàn dạng "Tổ ong": Thay vì hình vuông truyền thống, bạn có thể cắt bìa carton thành các hình lục giác và ghép lại như tổ ong để tạo hiệu ứng 3D độc đáo.
- Bảng tuần hoàn tương tác (Flip-flap): Sử dụng các ô giấy có thể mở ra (như cửa sổ). Mặt ngoài ghi ký hiệu nguyên tố, mặt trong ghi thông tin chi tiết hoặc hình ảnh ứng dụng của nguyên tố đó trong thực tế.
- Sử dụng khối lập phương (Cube): Mỗi nguyên tố là một khối lập phương nhỏ (bằng giấy hoặc gỗ), mỗi mặt hiển thị một thông tin khác nhau như cấu hình electron, khối lượng nguyên tử hoặc hình ảnh thực tế.
- Tái chế: Nắp chai, bìa carton, que kem gỗ, hộp diêm cũ.
- Trang trí: Đất sét nặn (làm mô hình nguyên tử), màu nước, bút dạ quang để làm nổi bật các quy luật biến đổi.
- Tính chính xác: Đây là yếu tố hàng đầu. Cần kiểm tra kỹ số hiệu nguyên tử, ký hiệu và vị trí của các nguyên tố trong bảng tuần hoàn hiện hành.
- Mã hóa màu sắc: Sử dụng màu sắc thống nhất để phân biệt các nhóm nguyên tố (ví dụ: nhóm kim loại kiềm một màu, khí hiếm một màu) giúp bảng trông khoa học và dễ học hơn.
- Tính ứng dụng: Điểm nhấn của dự án STEM là liên hệ thực tế. Bạn có thể dán kèm hình ảnh nhỏ minh họa cho ứng dụng của nguyên tố, ví dụ: dán hình viên pin vào ô Lithium (Li), hình cái đinh vào ô Sắt (Fe).

Nếu thi KHTN 7 mà cần ôn cấp tốc thì đây là bản tóm tắt ngắn gọn từ đầu năm → giữa năm/cuối năm (theo chương trình phổ biến). Bạn xem đối chiếu với sách trường mình nhé:
KHTN 7 – TÓM TẮT ÔN THI
PHẦN 1. VẬT LÍ
1. Nguyên tử – nguyên tố – phân tử
2. Tốc độ
\(v = \frac{s}{t}\)
Đổi đơn vị:
3. Âm thanh
4. Ánh sáng
PHẦN 2. HÓA HỌC
1. Chất
2. Tách chất
3. Công thức hóa học
Ví dụ:
4. Hóa trị (hay gặp)
PHẦN 3. SINH HỌC
1. Tế bào
2. Trao đổi chất
3. Quang hợp
\(C O_{2} + H_{2} O \rightarrow \text{ch} \overset{ˊ}{\hat{\text{a}}} \text{t}\&\text{nbsp};\text{h}ữ\text{u}\&\text{nbsp};\text{c}o\&\text{nbsp};+\&\text{nbsp}; O_{2}\)
Điều kiện:
4. Hô hấp tế bào
PHẦN 4. TRÁI ĐẤT – KHOA HỌC TRÁI ĐẤT
1. Chuyển động Trái Đất
2. Thời tiết – khí hậu
CÔNG THỨC DỄ RA THI
\(v = \frac{s}{t}\) \(s = v \times t\) \(t = \frac{s}{v}\)
MẸO ÔN CẤP TỐC (còn tới thứ 2)
Nếu bạn cho mình biết đang học bộ sách nào (Kết nối tri thức / Chân trời sáng tạo / Cánh diều) thì mình tóm đúng từng chương KHTN 7 cho luôn.