Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Cách 1Ta biến đổi tương đương:
a/b + b/a \(\ge\) 2
<=> (a^2+b^2)/ab \(\ge\)2
<=> a^2+b^2\(\ge\)2ab
<=> a^2-2ab+b^2\(\ge\)0
<=> (a-b)^2 \(\ge\) 0 (*)
Biểu thức (*) đúng; quá trình biến đổi là tương đương do vậy biểu thức đã được chứng minh.
Cách 2 ta luôn có (a - b)² ≥ 0 <=> a² + b² ≥ 2ab ,vì ab > 0 nên suy ra
a² + b² / ab ≥ 2 <=> a²/ab + b²/ab ≥ 2 <=> a/b + b/a ≥ 2
Trường hợp xấu nhất bốc phải:
1bóng đen+1bóng xanh+2bóng vàng+2bóng trắng+2bóng đỏ=9bóng
Để chắc chắn có 3 quả bóng cùng màu thì cần bốc ít nhất số bóng:
9 + 1 = 10 ( bóng)
A= / 2x - 2 / + / 2015 -2x/ >/ / 2x-2 + 2015 -2x / = 2013
A nhornhat = 2013 khi (2x-2).(2015-2x) >/0 => 1</ x </ 2015
Xin lỗi!Em lớp 6 nên chưa học căn bậc,nhưng em gợi ý nhé:
Căn x.(x2 -1)=0
=> Căn x =0 hoặc x2-1=0
Căn x=0
=>x=...(anh tự làm)
x2-1=0
=> x2=0+1=1
=>x2=12
=>x=1
Căn x.(x2 -1)=0
=> Căn x =0 hoặc x2-1=0
Căn x=0
=>x=...(anh tự làm)
x2-1=0
=> x2=0+1=1
=>x2=12
=>x=1
Người xưa tìm ra số π bằng hai cách chính: Thứ nhất, các nhà toán học Ai Cập và Babylon cổ đại ước lượng π thông qua đo đạc thực tế các hình tròn, cho giá trị khoảng 3,125 đến 3,16. Thứ hai, Archimedes của Hy Lạp sử dụng phương pháp đa giác nội tiếp và ngoại tiếp đường tròn, tính toán với đa giác 96 cạnh để ước lượng π nằm giữa 3,1408 và 3,1429, đạt độ chính xác cao thời bấy giờ.
- Cách làm: Archimedes vẽ một đa giác đều nội tiếp (bên trong) và một đa giác đều ngoại tiếp (bên ngoài) một đường tròn.
- Nguyên lý: Chu vi của đường tròn sẽ nằm giữa chu vi của đa giác nội tiếp (nhỏ hơn) và chu vi của đa giác ngoại tiếp (lớn hơn).
- Thực hiện: Ông bắt đầu với hình lục giác (6 cạnh) và liên tục gấp đôi số cạnh lên (12, 24, 48, và cuối cùng là 96 cạnh).
- Kết quả: Với đa giác 96 cạnh, ông xác định được giá trị của \(\pi \) nằm trong khoảng \(\frac{223}{71} < \pi < \frac{22}{7}\), tức là khoảng 3,1408 - 3,1429. [1, 2, 3]
2. Phương pháp đo đạc và tỷ lệ thực tế (Babylon/Ai Cập) Trước Archimedes, các nền văn minh cổ đại đã biết đến sự tồn tại của số \(\pi \) thông qua việc đo đạc thủ công các vật thể tròn.theo những thước phim tớ xem thì tớ chỉ bt một cách thôi
đó là dùng những hình lục giác và hình vuông để xấp xỉ giá trị pi
càng nhiều cạnh thì càng chuẩn
công thức:\(\sqrt2+\sqrt3\) =3.14626337
còn pi=3,141592654
ko nhớ cách thực hiện chia sẻ cho các cậu thôi:v
Dưới đây là hai cách cổ xưa người ta đã dùng để tìm ra (xấp xỉ) số pi, giải thích ngắn gọn và rõ ràng:
Ngoài hai cách trên, còn nhiều phương pháp khác trong lịch sử (ví dụ chuỗi vô hạn, phương pháp tích phân sau này), nhưng hai cách trên là tiêu biểu cho cách người xưa tìm π bằng quan sát và hình học.
Người xưa tìm ra số pi bằng cách quan sát và tính toán liên quan đến hình tròn. Có thể nêu ít nhất 2 cách như sau:
Cách 1: Đo chu vi và đường kính của nhiều hình tròn
Người xưa lấy nhiều vật có dạng hình tròn như bánh xe, miệng chum, miệng bát, vòng tròn,...
Sau đó họ đo:
Chu vi của hình tròn
Đường kính của hình tròn
Rồi lấy:
Chu vi : Đường kính
Khi làm với nhiều hình tròn khác nhau, họ nhận thấy kết quả luôn gần bằng 3,14.
Từ đó, người ta phát hiện ra:
Chu vi hình tròn : Đường kính ≈ 3,14
Số 3,14 đó chính là số pi.
Cách 2: Dùng đa giác đều nội tiếp và ngoại tiếp đường tròn
Một số nhà toán học cổ đại, tiêu biểu là Ác-si-mét, đã dùng các đa giác đều để ước lượng số pi.
Ông vẽ một đa giác đều nằm bên trong đường tròn và một đa giác đều nằm bên ngoài đường tròn.
Chu vi đa giác nội tiếp nhỏ hơn chu vi đường tròn.
Chu vi đa giác ngoại tiếp lớn hơn chu vi đường tròn.
Vì vậy:
Chu vi đa giác nội tiếp < Chu vi đường tròn < Chu vi đa giác ngoại tiếp
Sau đó, ông tăng số cạnh của đa giác lên, ví dụ từ 6 cạnh, 12 cạnh, 24 cạnh, 48 cạnh, 96 cạnh,...
Khi số cạnh càng nhiều, đa giác càng giống hình tròn. Nhờ vậy, ông tính được số pi nằm trong một khoảng rất gần với 3,14.
Cách 3: Dùng diện tích hình tròn
Người xưa cũng có thể ước lượng số pi bằng cách so sánh diện tích hình tròn với bình phương bán kính.
Họ nhận thấy:
Diện tích hình tròn : bán kính² ≈ 3,14
Từ đó suy ra công thức:
Diện tích hình tròn = pi x bán kính x bán kính
Tóm lại, người xưa tìm ra số pi chủ yếu bằng cách đo chu vi và đường kính của hình tròn, hoặc dùng các đa giác đều nội tiếp và ngoại tiếp đường tròn để tính gần đúng.