Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
2.1 Tại một điểm C trong một hộp kín có một bóng đèn điện nhỏ đang sáng (hình2.1)
a) Một người đặt mắt ở gần lỗ nhỏ A trên thành hộp nhìn vào trong hộp, người đó có nhìn thấy bóng đèn không? Vì sao?
b) Vẽ một vị trí đặt mắt để nhìn thấy bóng đèn.
Giải
a) Người đó không nhìn thấy bóng đèn vì ánh sáng từ bóng đèn không truyền vào mắt người đó.
b) Vì ánh sáng đèn phát ra truyền đi theo đường thẳng CA. Mắt ở bên dưới đường CA nên ánh sáng đi từ đèn không truyền vào mắt được. Phải để mắt nằm trên đường thẳng CA.
Phần 1. Hiểu các khái niệm vật lý cơ bản
Học thuộc các hằng số cơ bản. Trong vật lý, một số lực như lực tạo ra gia tốc trọng trường là các hằng số toán học phân bổ chung. Đây đơn giản là cách lý tưởng để nói rằng các lực này thường có giá trị không đổi bất kể vị trí và cách thức tác dụng của chúng. Bạn nên học thuộc các hằng số phổ biến (và đơn vị của chúng) — người ta thường không cung cấp các giá trị này trong bài kiểm tra. Dưới đây là một vài hằng số thường được dùng nhất trong vật lý:
- Gia tốc trọng trường: 9,81 m/s2
- Tốc độ ánh sáng: 3 × 108 m/s
- Hằng số khí lý tưởng: 8,32 J/(mol × Kelvin)
- Hằng số Avogadro: 6,02 × 1023/mol
- Hằng số Planck: 6,63 × 10-34 J × s
Học thuộc các phương trình cơ bản. Trong vật lý, người ta dùng phương trình để mô tả mối quan hệ giữa các lực khác nhau trong vũ trụ. Một số phương trình rất đơn giản, trong khi số khác thì cực kỳ phức tạp. Bạn nên ghi nhớ các phương trình đơn giản nhất và học cách sử dụng chúng để có thể giải các bài tập đơn giản lẫn phức tạp. Ngay cả những bài tập khó và rắc rối vẫn có thể giải bằng nhiều phương trình đơn giản hoặc biến đổi các phương trình này cho phù hợp với bài toán. Học các phương trình cơ bản trong vật lý là việc rất dễ, và khi bạn gặp các bài tập phức tạp thì ít nhất sẽ hiểu được một phần nếu đã nắm vững các phương trình này. Một số phương trình quan trọng nhất là:[1]
- Vận tốc = Quãng đường/Thời gian chuyển động (dx/dt)
- Gia tốc = Độ thay đổi vận tốc/Thời gian thay đổi vận tốc
- Vận tốc hiện tại = Vận tốc ban đầu + (Gia tốc × thời gian)
- Lực = Khối lượng × gia tốc
- Động năng = (1/2)Khối lượng × vận tốc2
- Công = Độ dịch chuyển × lực
- Công suất = Công sinh ra/Thời gian
- Động lượng = Khối lượng × vận tốc
Tìm hiểu nguồn gốc của các phương trình cơ bản. Học thuộc các phương trình cơ bản là một chuyện — nhưng hiểu vì sao có các phương trình này lại là chuyện khác. Nếu có thể thì bạn nên tìm hiểu cách thành lập từng phương trình vật lý cơ bản. Việc này sẽ giúp bạn hiểu sâu sắc mối quan hệ giữa các phương trình và có thể giải các bài tập một cách linh hoạt hơn. Vì bạn hiểu rõ cách "vận hành" của các phương trình nên có thể sử dụng chúng hiệu quả hơn so với việc chỉ học thuộc lòng các chuỗi ký tự một cách máy móc.
- Ví dụ, hãy xem phương trình đơn giản sau: Gia tốc = Độ thay đổi vận tốc/Thời gian thay đổi vận tốc = Delta(v)/Delta(t). Gia tốc là lực khiến vận tốc của vật thay đổi. Nếu một vật có vận tốc ban đầu là v0 tại thời điểm t0 và có vận tốc cuối cùng là v tại thời điểm t, ta có thể nói vật đó đã tăng tốc từ v0 đến v. Gia tốc không phải là đại lượng tức thời — bất kể sự việc diễn ra nhanh thế nào, sẽ có độ chênh lệch thời gian từ lúc vật bắt đầu chuyển động ở vận tốc ban đầu đến khi nó đạt vận tốc cuối cùng. Vì vậy, a = (v - v0/t - t0) = Delta(v)/Delta(t).
Học các kỹ năng toán học cần thiết để giải toán vật lý. Toán học thường được xem là "ngôn ngữ của vật lý". Thông thạo những kiến thức cơ bản của toán học là cách rất tốt để nâng cao khả năng giải các bài tập vật lý. Một số phương trình vật lý phức tạp yêu cầu bạn phải có các kỹ năng toán đặc biệt để giải (như tính đạo hàm và tích phân). Dưới đây là một số chủ đề toán học có thể giúp bạn giải toán vật lý (sắp xếp theo độ phức tạp):
- Tiền đại số và đại số (đối với phương trình cơ bản và các bài tập "tìm đại lượng chưa biết")
- Lượng giác (đối với sơ đồ lực, bài toán quay tròn và các hệ nghiêng)
- Hình học (đối với các bài tập về diện tích, thể tích, v.v...)
- Tiền giải tích và giải tích (để tính đạo hàm và tích phân của các phương trình vật lý — chủ đề vật lý cao cấp)
- Đại số tuyến tính (đối với các phép tính chứa vectơ – thường là các chủ đề vật lý cao cấp)
Phần 2. Sử dụng chiến thuật tập trung lấy điểm
Tập trung vào thông tin quan trọng của mỗi bài toán. Các bài tập vật lý thường có "thông tin thừa" — thông tin không cần thiết cho việc giải bài tập đó. Khi đọc đề bài, bạn cần phân biệt các thông tin được cung cấp, sau đó xác định mục tiêu bạn cần tìm là gì. Viết ra các phương trình cần sử dụng cho bài tập, sau đó gán từng mẩu thông tin được cung cấp vào các biến số phù hợp. Bỏ qua các thông tin không cần thiết vì nó làm mất thời gian và khiến bạn khó nhận ra cách giải đúng.
- Ví dụ, giả sử chúng ta cần tìm gia tốc của một chiếc xe ôtô khi vận tốc của nó thay đổi sau thời gian 2 giây. Nếu xe cân nặng 1.000 kg, bắt đầu chạy với vận tốc 9m/s và vận tốc cuối cùng là 22 m/s, chúng ta có thể nói v0 = 9 m/s, v = 22 m/s, m = 1.000 kg, t = 2 s. Như đã đề cập, phương trình gia tốc là a = (v - v0/t - t0). Lưu ý là phương trình này không có khối lượng, do đó chúng ta có thể bỏ qua thông tin về khối lượng của xe là 1.000 kg.
- Vì vậy, phương trình được giải như sau: a = (v - v0/t - t0) = ((22 - 9)/(2 - 0)) = (13/2) = 6,5 m/s2
Sử dụng đúng đơn vị cho từng bài tập. Bạn sẽ dễ dàng mất điểm nếu quên viết đơn vị hoặc dùng sai đơn vị. Để nhận đủ điểm cho bài làm, bạn phải nhớ viết đúng đơn vị cho đáp án. Dưới đây là một số đơn vị của các đại lượng vật lý thường được sử dụng nhất — theo nguyên tắc chung, các bài tập vật lý hầu như luôn luôn sử dụng hệ đo lường mét/SI:
- Khối lượng: Gam hay kilogam
- Lực: Newton
- Vận tốc: mét/giây (đôi khi kilomét/giờ)
- Gia tốc: mét/giây2
- Năng lượng/Công: Joul hay kilojoul
- Công suất: Watt
Đừng quên các chi tiết nhỏ (như ma sát, lực kéo v.v...). Các bài tập vật lý thường mô phỏng theo tình huống thực tế, nhưng chúng đơn giản hóa cách vận hành thực tế của sự vật để bạn dễ hiểu tình huống đó hơn. Đôi khi họ đơn giản hóa hay chủ ý loại bỏ các lực có thể làm thay đổi kết quả của bài tập (ví dụ như lực ma sát). Tuy nhiên, không phải mọi bài tập đều như vậy. Nếu đề bài không nói rõ đã loại bỏ các chi tiết nhỏ này và bạn có đủ thông tin để tính đến chúng trong đáp án, hãy xem xét các lực này để có đáp án chính xác nhất.
- Ví dụ, giả sử bài tập yêu cầu tìm gia tốc của một khối gỗ nặng 5 kg trượt trên mặt sàn phẳng nếu nó được đẩy với lực 50 newton. Vì F = m × a nên dường như bạn có thể dễ dàng giải phương trình 50 = 5 × a để tìm đáp án. Tuy nhiên, trên thực tế, lực ma sát sẽ chống lại chuyển động của vật và giảm đáng kể lực đẩy tác dụng lên vật. Bỏ qua lực ma sát sẽ dẫn đến kết quả là khối gỗ tăng tốc nhanh hơn thực tế một chút.
Kiểm tra kỹ đáp án. Một bài tập vật lý ở mức độ trung bình đến khó có thể bao gồm nhiều phép toán. Sai sót xảy ra ở bất kì bước nào có thể khiến đáp án sai, do đó bạn phải chú ý kỹ các phép toán khi giải. Nếu có thời gian bạn nên kiểm tra kỹ đáp án để đảm bảo các phép toán được tính đúng
- Mặc dù giải lại là một cách kiểm tra các phép toán, nhưng bạn cũng nên dùng trực giác đánh giá mối tương quan giữa bài tập đó và thực tế để kiểm tra đáp án. Ví dụ, nếu bạn đang tìm động lượng (khối lượng × vận tốc) của một vật di chuyển về phía trước, đáp án sẽ không thể là số âm vì khối lượng là số dương và vận tốc chỉ mang giá trị âm nếu vật di chuyển theo hướng "âm" (nghĩa là ngược lại hướng về "phía trước" trong tọa độ tham chiếu). Do đó nếu đáp án là số âm thì có lẽ bạn đã làm sai phép tính nào đó trong quá trình giải.
Phần 3. Tập trung học trong giờ vật lý
Xem trước bài học trước khi đến lớp. Lý tưởng nhất là bạn nên có sự chuẩn bị để tránh bị lúng túng với các khái niệm vật lý mới trong lớp. Bạn nên xem trước bài học trong sách giáo khoa trước khi đến lớp vào ngày hôm sau. Tránh tập trung vào khía cạnh toán học của chủ đề vật lý — giai đoạn này bạn nên cố gắng nắm bắt các khái niệm chung và hiểu những gì giáo viên nói. Điều này sẽ tạo nền tảng kiến thức vững chắc để từ đó bạn có thể áp dụng các kỹ năng toán học sẽ được học trong lớp.
Tập trung trong giờ học. Trong giờ học, giáo viên sẽ giảng các khái niệm mà bạn đã xem trước ở nhà và giải thích những vấn đề bạn chưa hiểu rõ. Ghi chép và đặt nhiều câu hỏi. Có thể giáo viên sẽ đi lướt qua vấn đề toán học của chủ đề vật lý. Nếu họ làm như vậy, bạn phải cố gắng nắm ý chính của "điều họ đang giảng" cho dù không nhớ chính xác cách tính đạo hàm của phương trình — rèn luyện được cách "nghe" giảng này là rất tốt.
- Nếu bạn còn câu hỏi vương vấn trong đầu sau giờ học, hãy trao đổi với giáo viên. Cố gắng đặt câu hỏi càng cụ thể càng tốt — điều này cho thấy bạn đã lắng nghe giáo viên giảng bài. Nếu giáo viên không bận, có thể họ sẽ lên lịch hẹn để giảng lại bài cho bạn và giúp bạn hiểu vấn đề.
- Bạn có thể hỏi xem giáo viên có cho phép bạn ghi âm lại bài giảng để nghe lại không. Nhờ đó, bạn cũng có thể nhờ thầy cô làm rõ nếu có gì đó khó hiểu sau khi đã nghe lại bài giảng.
Xem lại các ghi chép ở nhà. Để hoàn thành việc học và có kiến thức vật lý đầy đủ hơn, bạn nên dành thời gian xem lại các ghi chép ở nhà ngay khi có cơ hội. Thói quen này sẽ giúp bạn nhớ các kiến thức đã học trên lớp. Trì hoãn xem lại bài càng lâu thì bạn càng khó nhớ những gì đã nghe, và các khái niệm đó dường như "xa lạ" hơn, do đó bạn phải chủ động củng cố kiến thức bằng cách xem lại các ghi chép ở nhà.
Giải bài tập luyện tập. Cũng như toán học, viết văn hay lập trình máy tính, giải toán vật lý là một kỹ năng tư duy. Bạn sử dụng kỹ năng này càng nhiều thì sẽ càng thành thạo hơn. Nếu gặp khó khăn với vật lý thì bạn nên giải thật nhiều bài tập. Việ...
a)
- Vì bóng tối nằm ở phía sau vật cản, không nhận được ánh sáng từ nguồn sáng truyền tới. Sở dĩ gọi nó là bóng đen của miếng bìa vì bóng đó nằm sau vật cản là miếng bìa, đã bị miếng bìa che mất một phần ánh sáng.
- Nếu di chuyển miếng bìa lại gần màn chắn, chắc là miếng bìa sẽ càng ngày càng nhỏ dần theo đúng kích thước của nó. (cái này dựa vào thực tế ko phải trong bài nên không chắc)
b)
- Vì bóng nửa tối cũng nằm ở phía sau vật cản, chỉ nhận được 1 phần ánh sáng từ nguồn sáng truyền tới. Sở dĩ nó chỉ được 1 phần nguồn sáng là do hiện tượng nhiễm xạ, ánh sáng không còn đi theo đường thẳng khi gặp mép vật cản. Do đó một phần ánh sáng sẽ bị lệch theo phương truyền tối, gây ra bóng nửa tối hay bóng mờ như đề bài.
không hẳn là khó lắm, dựa theo lí thuyết thêm một chút mắm muối là hoàn thành. Chúc bạn học tốt.
Khi miếng bìa lại gần màn chắn hơn, thì bóng tối và bóng nửa tối thu hẹp lại.
Khi miếng bìa sát màn chắn, thì ko còn bóng nửa tối, chỉ còn bóng tối.
bóng tối và bóng nửa tối sẽ nhỏ dần còn vùng sáng rộng ra
a) đặt 1 đèn pin đang sáng trước 1 màn chắn. trong khoảng từ bóng đèn pin đến màn chắn, đặt 1 miếng bìa. trên màn có vùng sáng, vùng tối. vùng tối đó gọi là bóng đen của miếng bìa. Giải thích vì sao? nếu di chuyển tấm bìa lại gần màn chắn thì kích thước vùng tối thay đổi như thế nào?
Trả lời :
Giải thích : Vì khi ánh sáng của đèn chiếu vào miếng bìa, bóng của miếng bìa sẽ in vào màn chắn.
- Nếu di chuyển tấm bìa lại gần màn chắn thì kích thước vùng tối càng giảm đi.
b) thay bóng đèn pin bằng 1 dãy gồm 3 bóng đèn. Ta thấy xuất hiện trên màn: Vùng sáng, vùng tối và vùng nửa sáng nửa tối. vừng nửa sáng nửa tối gọi là bóng mờ của miếng bìa. Giải thích vì sao?
Giải thích :
Vì bóng nửa tối cũng nằm ở phái sau vật cản, chỉ nhận được một phần ánh sáng của ánh sáng truyền tới . Sở dĩ nó chỉ được 1 phần nguồn sáng là do hiện tượng nhiễm xạ, ánh sáng không còn đi theo đường thẳng khi gặp mép vật cản. Do đó một phần sánh sáng sẽ bị lệch theo phương truyền tối , gây ra bóng nửa tối hay bóng mờ .
1. Bóng tối: Tấm bìa có vùng tối là do ánh sáng truyền thẳng vào tấm chắn sáng, không nhận được ánh sáng từ nguồn sáng truyền tới
2. Bóng nửa tối: Bóng nửa tối nằm phía sau vật cản, nhận được ánh sáng từ 1 phần của ánh sáng truyền tới.
3. Nhật thực: Là hiện tượng ở chỗ có bóng tối hay bóng nửa tối của Mặt Trăng trên Trái Đất.
4. Nguyệt thực: Nguyệt thực xảy ra khi Mặt Trăng bị Trái Đất che khuất, không nhận được ánh sáng từ phía Mặt Trời.
Vì :
- KHi để gần nguồn sáng, vật đó che đc nhiều ánh sáng hơn nên có bóng to.
- Khi để xa nguồn sáng, vật đó che đc ít ánh sáng hơn nên có bóng nhỏ hơn.
– Đèn điện dây tóc là một nguồn sáng hẹp. Do đó, vùng bóng nửa tối rất hẹp ở xung quanh vùng bóng tối. Bởi thế ở phía sau bàn tay ta nhìn thấy chủ yếu là vùng bóng tối rõ nét, còn vùng bóng nửa tôi ở xung quanh không đáng kể.
– Đèn ông là nguồn sáng rộng, do đó vùng bóng tối ở sau bàn tay hầu như không đáng kể, phần lớn là vùng bóng nửa tôi ở xung quanh, nên bóng bàn tay bị nhòe.
Trả lời:
- Đèn điện dây tóc là một nguồn sáng hẹp. Do đó, vùng bóng nửa tối rất hẹp ở xung quanh vùng bóng tối. Bởi thế ở phía sau bàn tay ta nhìn thấy chủ yếu là vùng bóng tối rõ nét, còn vùng bóng nửa tôi ở xung quanh không đáng kể.
- Đèn ông là nguồn sáng rộng, do đó vùng bóng tối ở sau bàn tay hầu như không đáng kể, phần lớn là vùng bóng nửa tôi ở xung quanh, nên bóng bàn tay bị nhòe.
Vật có tần số lớn hơn sẽ dao động nhanh hơn
=> Vật phát ra âm có tần số 70Hz dao động nhanh hơn.
=>Vật phát ra âm có tần số 50 Hz dao động chậm hơn.
Nguyên nhân do hiện tượng nhiễu xạ, ánh sáng không còn tuân theo định luật truyền thẳng khi gặp mép vật cản. Do đó, 1 phần ánh sáng sẽ bị lệch phương truyền vào trong phần tối, gây ra hiện tượng nửa tối.
Khi có một vật cản ánh sáng, ánh sáng không đi xuyên qua được vật đó, nên phía sau vật sẽ có vùng không nhận được ánh sáng. Vùng đó gọi là bóng tối.
Bóng tối xuất hiện do ánh sáng truyền theo đường thẳng. Khi ánh sáng chiếu tới một vật không trong suốt, vật đó sẽ cản các tia sáng không cho truyền qua. Vì vậy, phía sau vật sẽ không nhận được ánh sáng và tạo thành vùng tối gọi là bóng tối. Kích thước và vị trí của bóng phụ thuộc vào khoảng cách giữa vật với nguồn sáng và màn chắn (như tường hoặc mặt đất). Khi vật đặt càng gần nguồn sáng thì bóng tạo ra càng lớn vì vật che được nhiều tia sáng hơn. Ngược lại, khi vật ở xa nguồn sáng thì bóng sẽ nhỏ lại. Ngoài ra, nếu thay đổi vị trí của màn chắn thì bóng cũng thay đổi vị trí gần hay xa.
Có bóng tối vì ánh sáng truyền theo đường thẳng. Khi gặp vật cản không trong suốt, ánh sáng không chiếu tới phía sau vật nên tạo ra vùng không nhận được ánh sáng, gọi là bóng tối.
Nói ngắn gọn để trả lời Vật lí 7: