K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Nhà văn Nam Cao là một trong những cây bút hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Truyện ngắn Chí Phèo (1941) là tác phẩm tiêu biểu của ông khi viết về người nông dân nghèo trong xã hội cũ. Tác phẩm không chỉ gây ấn tượng bởi nội dung sâu sắc mà còn ở chủ đề và hình tượng nhân vật độc đáo.
Trước hết, tác phẩm tập trung thể hiện bi kịch của người nông dân bị tha hóa và bị tước đoạt quyền làm người. Đây là một chủ đề quen thuộc trong văn học hiện thực, nhưng qua cách thể hiện của Nam Cao lại trở nên mới mẻ và giàu ý nghĩa. Nhan đề Chí Phèo không chỉ là tên nhân vật mà còn gợi lên một số phận tiêu biểu. Thông qua cốt truyện về cuộc đời Chí Phèo – từ một người lương thiện trở thành “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại – tác giả đã làm nổi bật chủ đề. Những chi tiết như việc Chí bị đẩy vào tù, trở nên lưu manh, rồi gặp Thị Nở và khao khát hoàn lương đã góp phần làm sáng rõ nội dung tư tưởng của tác phẩm. Qua đó, Nam Cao không chỉ tố cáo xã hội tàn bạo mà còn thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc khi khẳng định khát vọng được sống lương thiện của con người .

Bên cạnh chủ đề, hệ thống nhân vật trong truyện cũng được xây dựng rất đặc sắc. Truyện không có nhiều nhân vật, trong đó Chí Phèo là nhân vật trung tâm, còn Bá Kiến và Thị Nở giữ vai trò hỗ trợ làm nổi bật chủ đề.
Nhân vật Chí Phèo hiện lên với một số phận đầy bi kịch. Hắn là một người mồ côi, nghèo khổ, lớn lên trong sự thiếu thốn tình thương. Trước khi bị đẩy vào tù, Chí là người hiền lành, chăm chỉ, có ước mơ giản dị. Tuy nhiên, sau khi ra tù, hắn trở thành một kẻ hung hãn, say rượu, chuyên rạch mặt ăn vạ và bị cả làng xa lánh. Ngoại hình đầy sẹo và những hành động mất kiểm soát đã thể hiện rõ sự tha hóa của nhân vật. Nhưng đằng sau vẻ ngoài đó, Chí Phèo vẫn còn phần người. Khi gặp Thị Nở, hắn lần đầu tiên cảm nhận được tình yêu thương và khao khát trở lại làm người lương thiện. Tuy nhiên, xã hội lại không chấp nhận hắn, đẩy hắn vào bi kịch đau đớn: muốn làm người mà không được. Hành động giết Bá Kiến rồi tự kết liễu cuộc đời chính là đỉnh điểm của bi kịch ấy.
Các nhân vật phụ cũng góp phần quan trọng trong việc làm nổi bật chủ đề. Bá Kiến là đại diện cho giai cấp thống trị tàn ác, là nguyên nhân trực tiếp đẩy Chí Phèo vào con đường tha hóa. Trong khi đó, Thị Nở lại là biểu tượng của tình người giản dị, là ánh sáng hiếm hoi trong cuộc đời tăm tối của Chí. Thông qua các nhân vật này, Nam Cao đã làm nổi bật hơn số phận và bi kịch của nhân vật chính.
Không chỉ thành công về nội dung, tác phẩm còn đặc sắc về nghệ thuật. Nam Cao đã xây dựng tình huống truyện độc đáo, khắc họa nhân vật chân thực, sử dụng ngôn ngữ giản dị mà giàu sức biểu cảm. Tất cả đã góp phần làm nên giá trị của tác phẩm. Chí Phèo mang đến thông điệp sâu sắc: dù bị xã hội vùi dập, con người vẫn luôn có khát vọng sống lương thiện và cần được công nhận như một con người đúng nghĩa.

Khép lại truyện ngắn Chí Phèo ,Nam Cao đã để lại trong lòng người đọc suy ngẫm sâu sắc về số phận con người trong xã hội cũ .Qua đó tác giả đã thể hiện tấm lòng nhân đạo khi trân trọng khát vọng lương thiện dù nhỏ bé tác phẩm vẫn được giữ nguyên giá trị cho đến hôm nay.


2
28 tháng 8 2016

+ “Họ đều là những người nông dân nghèo thương con”. Nhưng tình thương con của mỗi người có biểu hiện và kết cục khác nhau: chị Dậu thương con mà không bảo vệ được con, phải bán con lấy tiền nộp sưu cứu chồng; lão Hạc phải tìm đến cái chết để giữ mảnh vườn cho con; còn ông Hai, khi nghe tin làng theo giặc lại lo cho con vì chúng nó cũng là con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?...Rõ ràng, ông đặt tình cảm riêng trong mối quan hệ với làng, với nước; ông hiểu danh dự của mỗi con người – dù còn ít tuổi – cũng gắn với danh dự của làng, gắn với vận mệnh của đất nước.
+ “Họ đều có sức phản kháng, đấu tranh”. Trong hoàn cảnh xã hội trước Cách mạng tháng Tám, chị Dậu phản kháng một cách tự phát, để bảo vệ chồng trước sự dã man vô nhân đạo của những kẻ đại diện cho cái gọi là “nhà nước” bấy giờ. Còn ông Hai, ông có ý thức trách nhiệm với làng, có tinh thần kháng chiến rất rõ ràng: ông trực tiếp tham gia các hoạt động kháng chiến ở làng, ông muốn trở về làng để được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá…khi đi tản cư ông vẫn lo cho các công việc kháng chiến ở làng.
- Đặc biệt, cần phân tích để thấy những chuyển biến “rất mới” trong tình cảm của ông Hai đối với làng. Ở ông Hai, “tình yêu làng mang tính truyền thống đã hòa nhập với tình yêu nước trong tinh thần kháng chiến của toàn dân tộc”.
+ Tình yêu làng thể hiện ở việc hay khoe làng của ông. Phân tích để thấy sự thay đổi ở việc khoe làng ấy: trước Cách mạng, ông khoe sự giàu có, hào nhoáng của làng; sau Cách mạng tháng Tám, ông khoe không khí cách mạng ở làng ông…Ông tin vào ý thức cách mạng của người dân làng ông cũng như thắng lợi tất yếu nếu giặc đến làng nên nghe giặc “rút ở Bắc Ninh, về qua làng chợ Dầu…” thì ông hỏi ngay “ta giết được bao nhiều thằng?”.
+ Tình yêu làng gắn với tình yêu nước của ông Hai bộc lộ sâu sắc trong tâm lí ông khi nghe tin đồn làng theo giặc. Từ khi chợt nghe tin đến lúc về nhà, nhìn lũ con; rồi đến những ngày sau…nỗi tủi hổ ám ảnh ông Hai thật nặng nề, mặc cảm tội lỗi ngày một lớn hơn. Tình yêu làng, yêu nước của ông còn thể hiện sâu sắc trong cuộc xung đột nội tâm gay gắt. Ông thấy tuyệt vọng vì ở nơi tản cư có tin không đâu chứa người làng Chợ Dầu. Lòng trung thành với cách mạng, với đất nước thật mạnh mẽ, hiểu rõ những điều quý giá mà cách mạng đã mang lại cho mình cũng như trách nhiệm với cách mạng nên ông Hai đã quyết định dứt khoát “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù”.
+ Tình cảm với kháng chiến, với cụ Hồ của ông Hai được thể hiện cảm động, chân thành khi ông tâm sự với đứa con út. Và, tinh thần kháng chiến, niềm tự hào về làng Chợ Dầu kháng chiến được thể hiện cụ thể khi ông Hai nghe tin cải chính về làng.
- Phân tích để thấy “nguyên nhân của những đổi thay rất mới đó ở nhân vật ông Hai”. Những đổi thay đó là do tác động của hoàn cảnh lịch sử. Sự mở rộng và thống nhất giữa tình yêu quê hương với tình yêu đất nước là nét rất mới trong nhận thức và tình cảm của người nông dân sau Cách mạng tháng Tám mà nhà văn Kim Lân đã thể hiện qua nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy có được bởi cách mạng đã mang lại cho người nông dân cuộc sống mới, họ được giác ngộ và cũng có ý thức tự giác vươn lên cho kịp thời đại. Vậy nên, tầm nhìn, suy nghĩ của ông Hai đã được mở rộng, đúng đắn.

*Chuyện người con gái Nam Xương.Chuyện người con gái Nam Xương là một truyện ngắn nổi bật trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, sáng tác vào thế kỷ XVI. Tác phẩm kể về cuộc đời bi kịch của Vũ Nương, một người phụ nữ nết na, thùy mị.-Tóm tắt cốt truyện:Vũ Nương lấy Trương Sinh, một người chồng tính ghen. Khi Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương ở nhà một mình nuôi con và chăm...
Đọc tiếp

*Chuyện người con gái Nam Xương.
Chuyện người con gái Nam Xương là một truyện ngắn nổi bật trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, sáng tác vào thế kỷ XVI. Tác phẩm kể về cuộc đời bi kịch của Vũ Nương, một người phụ nữ nết na, thùy mị.
-Tóm tắt cốt truyện:
Vũ Nương lấy Trương Sinh, một người chồng tính ghen. Khi Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương ở nhà một mình nuôi con và chăm sóc mẹ chồng già yếu. Để dỗ con, nàng thường chỉ bóng mình trên tường và nói đó là cha bé Đản.
Khi chiến tranh kết thúc, Trương Sinh trở về. Nghe lời con trẻ, chàng nghi oan cho vợ không chung thủy. Mặc dù Vũ Nương hết lời phân trần, Trương Sinh vẫn không tin. Quá đau khổ và oan ức, Vũ Nương gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự vẫn.
Sau đó, Trương Sinh mới phát hiện ra sự thật khi con trai chỉ cái bóng của cha mình trên tường và nói "Ông già đêm nào cũng đến". Quá ân hận, chàng lập đàn giải oan cho vợ. Vũ Nương hiện về nhưng không thể quay lại dương thế.
-Ý nghĩa tác phẩm:
+Giá trị hiện thực: Tác phẩm tố cáo sự bất công của xã hội phong kiến, đặc biệt là chế độ gia trưởng và chiến tranh đã gây ra bi kịch cho người phụ nữ.
+Giá trị nhân đạo: Ca ngợi vẻ đẹp phẩm chất của Vũ Nương: một người vợ thủy chung, một người con hiếu thảo, một người mẹ hết lòng vì con. Tác giả đã thể hiện sự cảm thông sâu sắc trước số phận oan nghiệt của nàng.
-Đặc điểm nghệ thuật:
+Cốt truyện kịch tính: Tình tiết "cái bóng" là điểm nhấn bất ngờ, đẩy bi kịch lên cao trào.

=>Kết luận: Qua câu chuyện "người con gái Nam Xương" ta thấy tác phẩm không chỉ tố cáo xã hội phong kiến đã gây ra sự bất công dành cho người phụ nữ, mà tác phẩm còn ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ. Tác phẩm đã để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong lòng người đọc cho dù trải qua nhiều thế hệ nhưng tác phẩm đã không bị quên lãng mà chính tác phẩm cũng đã nắm giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học trung đại Việt Nam.

0
1. Giới thiệu tác phẩm:“Tấm Cám” là một trong những truyện cổ tích tiêu biểu và quen thuộc nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Truyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người lương thiện và kẻ độc ác, qua số phận nhân vật Tấm.2. Nội dung chính:Tấm là cô gái mồ côi hiền lành, bị mẹ con Cám đối xử tàn nhẫn. Trải qua nhiều kiếp hóa thân, Tấm cuối...
Đọc tiếp

1. Giới thiệu tác phẩm:
“Tấm Cám” là một trong những truyện cổ tích tiêu biểu và quen thuộc nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Truyện phản ánh cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người lương thiện và kẻ độc ác, qua số phận nhân vật Tấm.

2. Nội dung chính:
Tấm là cô gái mồ côi hiền lành, bị mẹ con Cám đối xử tàn nhẫn. Trải qua nhiều kiếp hóa thân, Tấm cuối cùng được trở lại làm người và giành lại hạnh phúc xứng đáng. Câu chuyện mang màu sắc kỳ ảo, đậm chất nhân văn và gắn liền với tín ngưỡng dân gian.

3. Giá trị nội dung và nghệ thuật:

Giá trị đạo đức: Tấm là biểu tượng cho lòng thiện lương, sự kiên cường vượt qua nghịch cảnh. Truyện gửi gắm niềm tin rằng: “Ở hiền gặp lành, cái ác rồi cũng bị trừng trị.

Giá trị nghệ thuật: Tác phẩm sử dụng yếu tố kỳ ảo (Bụt hiện ra, hóa thân thành chim vàng anh, cây thị…) để thể hiện khát vọng sống, ước mơ công lý và hạnh phúc của nhân dân.

4. Cảm nhận cá nhân:
Em yêu truyện “Tấm Cám” không chỉ vì cốt truyện hấp dẫn mà còn bởi sức sống mãnh liệt của nhân vật Tấm – từ cam chịu đến vùng lên mạnh mẽ. Truyện dạy em rằng: trong cuộc sống, dù gặp bất công đến đâu, chỉ cần giữ vững lòng tin và sự lương thiện, cuối cùng ta vẫn có thể chiến thắng.

0
1. Mở đầuVăn học dân gian Việt Nam chứa đựng nhiều truyền thuyết anh hùng, thể hiện lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Thánh Gióng là tác phẩm tiêu biểu, ca ngợi sức mạnh phi thường của dân tộc và ý chí bảo vệ Tổ quốc.2. Nội dung nghiên cứua. Tóm tắt truyệnGióng là cậu bé lạ lùng: ba tuổi chưa biết nói cười. Khi giặc Ân xâm lược, Gióng vươn mình lớn nhanh như thổi, cưỡi...
Đọc tiếp

1. Mở đầu

Văn học dân gian Việt Nam chứa đựng nhiều truyền thuyết anh hùng, thể hiện lòng yêu nước và khát vọng độc lập. Thánh Gióng là tác phẩm tiêu biểu, ca ngợi sức mạnh phi thường của dân tộc và ý chí bảo vệ Tổ quốc.

2. Nội dung nghiên cứu

a. Tóm tắt truyện
Gióng là cậu bé lạ lùng: ba tuổi chưa biết nói cười. Khi giặc Ân xâm lược, Gióng vươn mình lớn nhanh như thổi, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt đánh tan giặc, rồi bay về trời.

b. Đặc điểm nghệ thuật

Yếu tố kì ảo, phóng đại: lớn nhanh, ngựa sắt, roi sắt… làm nổi bật hình tượng siêu phàm, biểu tượng sức mạnh dân tộc.

Kết cấu giàu kịch tính: từ cậu bé bình thường đến anh hùng giải cứu đất nước.

Ngôn ngữ truyền miệng mộc mạc, nhịp điệu dồn dập, hào hùng.

c. Giá trị nội dung

Ca ngợi tinh thần yêu nước: Thánh Gióng là hiện thân của ý chí quật cường chống ngoại xâm.

Niềm tin vào sức mạnh nhân dân: từ một đứa trẻ làng quê, nhờ lòng yêu nước mà hóa thành anh hùng.

Giáo dục thế hệ sau: bồi dưỡng tự hào dân tộc, ý thức bảo vệ Tổ quốc.

3. Kết luận

Truyền thuyết Thánh Gióng không chỉ là câu chuyện kì ảo hấp dẫn mà còn là bản anh hùng ca bất diệt về sức mạnh đoàn kết và tinh thần yêu nước. Tác phẩm góp phần khơi dậy niềm tự hào dân tộc, thôi thúc mỗi người gìn giữ và bảo vệ quê hương.

0
1.Tên báo cáo: Tấm Cám2.Lý do chọn đề tài:Truyện cổ tích Tấm Cám là một trong những tác phẩm nổi bật và quen thuộc nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Câu chuyện không chỉ hấp dẫn bởi yếu tố thần kì, kịch tính mà còn phản ánh rõ mâu thuẫn xã hội xưa: thiện – ác, người lao động lương thiện – kẻ áp bức tàn nhẫn. Đặc biệt, tác phẩm gửi gắm khát vọng công bằng,...
Đọc tiếp

1.Tên báo cáo: Tấm Cám
2.Lý do chọn đề tài:Truyện cổ tích Tấm Cám là một trong những tác phẩm nổi bật và quen thuộc nhất trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam. Câu chuyện không chỉ hấp dẫn bởi yếu tố thần kì, kịch tính mà còn phản ánh rõ mâu thuẫn xã hội xưa: thiện – ác, người lao động lương thiện – kẻ áp bức tàn nhẫn. Đặc biệt, tác phẩm gửi gắm khát vọng công bằng, hạnh phúc và thể hiện sâu sắc giá trị nhân đạo của dân gian. Vì vậy, việc nghiên cứu Tấm Cám vừa giúp ta hiểu rõ giá trị văn hóa, vừa gợi ra nhiều bài học ý nghĩa cho cuộc sống hôm nay.
3. Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ giá trị nhân đạo trong Tấm Cám qua số phận nhân vật, sự đấu tranh giữa thiện và ác.
Tìm hiểu ý nghĩa hiện thực: phản ánh cuộc sống bất công của người lao động dưới chế độ phong kiến.
Khẳng định vai trò của truyện cổ tích trong việc giáo dục đạo đức, nuôi dưỡng ước mơ về công lý và hạnh phúc.
Rút ra bài học nhân sinh cho con người hiện đại.
4. Đối tượng nghiên cứu:
Truyện cổ tích Tấm Cám trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Các chi tiết, nhân vật, tình huống tiêu biểu thể hiện giá trị nhân đạo và hiện thực.
4. Ý nghĩa hiện thực:
Phản ánh rõ bất công xã hội phong kiến: mẹ kế – con chồng, quyền lực gia đình đè nén người yếu.
Thể hiện khát vọng giải phóng con người, ước muốn đổi đời của người lao động xưa.
5 Kết luận:Truyện cổ tích Tấm Cám là minh chứng rõ nét cho sức sống lâu bền của văn học dân gian Việt Nam. Tác phẩm vừa phản ánh hiện thực xã hội, vừa thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc: bênh vực người lương thiện, trừng trị kẻ ác, khẳng định khát vọng hạnh phúc, công bằng. Đây là bài học quý giá về niềm tin, nghị lực và công lý cho mỗi con người trong đời sống.

0
a) Hãy phân tích và chữa lại những từ dùng không phù hợp với phong cách ngôn ngữ: – Trong một biên bản về một vụ tai nạn giao thông: Hoàng hôn ngày 25-10, lúc 17h 30, tại km 19 quốc lộ 1A đã xảy ra một vụ tai nạn giao thông. – Trong một bài văn nghị luận: “Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã nêu cao một tư tưởng nhân đạo hết sức là cao đẹp. b) Hãy nhận xét về các từ ngữ...
Đọc tiếp
a) Hãy phân tích và chữa lại những từ dùng không phù hợp với phong cách ngôn ngữ:
– Trong một biên bản về một vụ tai nạn giao thông:
Hoàng hôn ngày 25-10, lúc 17h 30, tại km 19 quốc lộ 1A đã xảy ra một vụ tai nạn giao thông.
– Trong một bài văn nghị luận:
“Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã nêu cao một tư tưởng nhân đạo hết sức là cao đẹp.
b) Hãy nhận xét về các từ ngữ thuộc ngôn ngữ nói trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ở đoạn sau đây:
   Bẩm cụ, từ ngày cụ bắt con đi ở tù, con lại sinh ra thích đi ở tù; bẩm có thế, con có dám nói gian thì trời tru đất diệt, bẩm quả đi ở tù sướng quá. Đi ở tù còn có cơm để mà ăn, bây giờ về làng về nước một thước cắm dùi không có, chả làm gì nên ăn. Bẩm cụ, con lại đến kêu cụ, cụ lại cho con đi ở tù.
(Nam Cao, Chí Phèo)
(Chú ý dùng các từ xưng hô, từ ngữ đưa đẩy, thành ngữ, tục ngữ, cách nói ấp úng,… của Chí Phèo).
Những từ ngữ và cách nói như trên có thể sử dụng trong một lá đơn đề nghị được không? Vì sao?
1
14 tháng 9 2019

- Từ “hoàng hôn” dùng trong biên bản vụ tai nạn giao thông không phù hợp, từ này thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

- Cụm từ “hết sức là” thường được dùng trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Đây là văn bản nghị luận, dùng cụm từ này không phù hợp phong cách. Cần thay thế bằng từ “rất”, “vô cùng”

b, Trong lời thoại của Chí Phèo có nhiều từ ngữ thuộc ngôn ngữ nói trong phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

- Các từ ngữ “bẩm”, “cụ”, “con”

- Các thành ngữ: “trời tru đất diệt”, “thước đất cắm dùi”

- Các từ ngữ mang sắc thái khẩu ngữ: “sinh ra”, “có dám nói gian”, “quả”, về làng về nước”, “chả làm gì nên ăn”

- Những từ ngữ và cách nói trên không thể sử dụng trong lá đơn đề nghị:

    + Đơn từ thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính, câu văn trang trọng

a) Trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, sau khi dẫn ra những tấm gương của sự cống hiến, hi sinh cho kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết :Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước.Tác giả phải dùng tháo tác nào để có thể nhận rõ sự khác nhau và giống nhau ? Câu văn trên được viết nhằm nhấn mạnh đến sự khác...
Đọc tiếp

a) Trong bài Tinh thần yêu nước của nhân dân ta, sau khi dẫn ra những tấm gương của sự cống hiến, hi sinh cho kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết :

Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm, nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước.

Tác giả phải dùng tháo tác nào để có thể nhận rõ sự khác nhau và giống nhau ? Câu văn trên được viết nhằm nhấn mạnh đến sự khác nhau hay sự giống nhau ?

b) Đoạn bàn về việc so sánh đức nhà Lí và nhà Lê trong Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu dẫn dưới đây có cùng mục đích nhấn mạnh sự khác nhau (hoặc giống nhau) như câu trên không ?

Có người hỏi Lê Đại Hành với Lí Thái Tổ ai hơn ?

Trả lời rằng : Về mặt dẹp gian bên trong, đánh giặc bên ngoài để làm mạnh nước Việt ta và ra uy với người Tống thì công của Lí Thái Tổ không bằng Lê Đại Hành gian nan khó nhọc. Về mặt ân uy rõ rệt, lòng người vui vẻ suy tôn, làm cho vận nước lâu dài, để phúc lại cho con cháu thì Đại Hành không biết lo xa bằng Lí Thái Tổ. Thế thì Lí Thái Tổ hơn.

Từ đó suy ra: Thao tác so sánh bao gồm mấy loại chính ?

c) Có người hoài nghi tác dụng của so sánh, vì “mọi so sánh đều khập khiễng”. Anh (chị) có tán thành ý kiến đó không ? Vì sao ?

Theo anh (chị), để có thể so sánh đúng cách thì ta cần phải chú ý những điều gì ? Hãy chọn những câu trả lời đúng trong số các câu sau :

- Những đối tượng (sự vật, hiện tượng) được so sánh phải có mối liên quan với nhau về một mặt (một phương diện) nào đó

- Những đối tượng được so sánh phải hoàn toàn tương đồng hoặc tương phản với nhau.

- Sự so sánh phải dựa trên những tiêu chí cụ thể, rõ ràng và có ý nghĩa quan trọng đối với sự nhận thức bản chất của vấn đề (sự vật, hiện tượng).

- Những kết luận rút ra từ sự so sánh phải chân thực, mới mẻ, bổ ích, giúp cho việc nhận thức sự vật (hiện tượng, vấn đề) được sáng tỏ và sâu sắc hơn.

1
9 tháng 12 2017

Thao tác so sánh. So sánh tinh thần yêu nước của nhân dân ta với đồng bào ta ngày nay

- Câu văn: “Những cử chỉ cao quý đó, tuy khác nhau nơi việc làm nhưng đều giống nhau nơi lòng nồng nàn yêu nước nhằm nhấn mạnh sự giống nhau.

b, Đoạn văn của sử gia Lê Văn Hưu sử dụng thao tác so sánh nhằm nhấn mạnh đến sự khác nhau giữa Lý Thái Tổ và Lê Đại hành trong hai việc: “dẹp gian bên trong… để phúc lại cho con cháu”

- Từ (a) và (b) suy ra hao tác so sánh gồm hai loại chính, so sánh nhằm nhận ra sự giống nhau, sự khác nhau

c, Không đồng ý với ý kiến trên. Vì So sánh là một trong những thao tác quan trọng, cần thiết trong lập luận, đời sống, góp phần hỗ trợ tích cực vào quá trình nhận thức của con người

→ Lựa chọn khẳng định 1, 3, 4

Nguyễn Dữ là một trong những tác giả nổi tiếng về truyện truyền kỳ. Trong những tác phẩm của ông, có lẽ “Chuyện người con gái Nam Xương” là câu chuyện đặc sắc nhất. Tác phẩm viết về số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của họ. Đồng thời, qua đó ta thấy được sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với hoàn cảnh của họ.Vũ Nương...
Đọc tiếp

Nguyễn Dữ là một trong những tác giả nổi tiếng về truyện truyền kỳ. Trong những tác phẩm của ông, có lẽ “Chuyện người con gái Nam Xương” là câu chuyện đặc sắc nhất. Tác phẩm viết về số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của họ. Đồng thời, qua đó ta thấy được sự đồng cảm sâu sắc của tác giả với hoàn cảnh của họ.

Vũ Nương là người con gái “tính tình thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp”. Chồng nàng là Trương Sinh, một người đa nghi và hay ghen. Mặc dù vậy, với tính cách dung hòa của mình, “nàng luôn giữ gìn khuôn phép”, cuộc sống gia đình của hai người luôn ổn định, không hề xảy ra bất hòa. Khi Trương Sinh phải sung binh, nàng lại là người vợ chung thủy, một lòng một dạ với chồng, chỉ mong chàng lên đường bình an trở về, không mong đeo được ấn phong hầu. Tình yêu và ước mơ của nàng thật giản dị và ý nghĩa. Chồng đi xa, nàng sinh con và chăm sóc mẹ chồng một cách chu đáo. Khi mẹ ốm, “nàng hết sức thuốc thang, lễ Phật cầu thần”, câu nói “Sau này trời giúp người lành, ban cho phúc trạch, giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, mong ông xanh kia chẳng phụ con cũng như con đã chẳng nỡ phụ mẹ.” của mẹ chồng nàng đã cho ta thấy Vũ Nương là một người vợ chu đáo, một người con hiếu thảo biết chừng nào. Khi mẹ chồng mất, nàng đau xót, lo liệu ma chay như với cha mẹ đẻ của mình.

Tuy nhiên, người phụ nữ đức hạnh ấy lại phải chịu đựng một nỗi oan và dẫn đến cái chết thương tâm của nàng. Trong thời gian chồng đi tòng quân, nàng thường hay đùa với con bằng cách trỏ vào bóng mình trên tường và nói đó là cha Đản. Khi bị Trương Sinh nghi ngờ, nàng vẫn cố gắng hỏi rõ sự tình và thanh minh với chàng: “Thiếp vốn nhà nghèo, được vào cửa tía. Sum họp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn, từng đã nguội lòng, ngõ liễu đường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói.” Tuy nhiên, khi Trương Sinh một mực không tin, nàng đã gieo mình xuống bến Hoàng Giang mà chết. Chi tiết này đã nói lên nét đẹp con người Vũ Nương, nàng sẵn sàng lấy cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Hành động mà Vũ Nương nhờ Phan Lang về nói với Trương Sinh yêu cầu của nàng cũng một lần nữa nói nên tấm lòng chung thủy, một lòng son sắt của nàng. Khi hiểu ra sự tình, Trương Sinh đã vô cùng ân hận, đàn giải oan đã khiến cho Vũ Nương được trả lại sự trong sạch, yên lòng, nàng đã được đức Linh Phi cho hiện về, dẫu không thể trở lại cõi trần được nữa.

Tác phẩm của Nguyễn Dữ, một tác phẩm truyền kỳ có sử dụng những yếu tố hoang đường kỳ ảo. Nhưng từ đó lại thấy được cái nhìn, sự trân trọng và cảm thông của tác giả đối với số phận người phụ nữ xưa, ca ngợi phẩm chất cao đẹp của họ.

0
Về bộ phận văn học dân gian, có các trọng tâm kiến thức: – Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian. – Hệ thống thể loại văn học dân gian Việt Nam. – Những giá trị của văn học dân gian Việt Nam. Để nắm được những trọng tâm kiến thức nói trên, có thể ôn tập theo các gợi‎ ý‎ sau: a) Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian. Văn học dân gian bao...
Đọc tiếp

Về bộ phận văn học dân gian, có các trọng tâm kiến thức:

– Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian.
– Hệ thống thể loại văn học dân gian Việt Nam.
– Những giá trị của văn học dân gian Việt Nam.
Để nắm được những trọng tâm kiến thức nói trên, có thể ôn tập theo các gợi‎ ý‎ sau:
a) Những đặc trưng cơ bản của văn học dân gian. Văn học dân gian bao gồm những thể loại nào? Chỉ ra những đặc trưng chủ yếu nhất của từng thể loại.
b) Chọn phân tích một số tác phẩm (hoặc trích đoạn tác phẩm) văn học dân gian đã học (hoặc đã đọc) để làm nổi bật đặc điểm nội dung và nghệ thuật của sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện thơ, truyện cười, ca dao, tục ngữ.
c) Kể lại một số truyện dân gian, đọc thuộc một số câu ca dao, tục ngữ mà anh (chị) thích.
1
27 tháng 12 2017

a, Những đặc điểm cơ bản của nền văn học dân gian. Các thể loại, đặc trưng chủ yếu của từng thể loại

- Các thể loại chủ yếu của văn học dân gian là: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, ca dao, tục ngữ...

    + Truyền thuyết thuộc thể loại văn học dân gian nhằm lí giải các hiện tượng tự nhiên, lịch sử, xã hội. Sử dụng các yếu tố hoang đường kì ảo để kể chuyện.

    + Truyện cổ tích: kể về các kiểu nhân vật thông minh, ngốc nghếch, bất hạnh... nhằm thể hiện ước mơ cái thiện thắng ác, sự công bằng xã hội... Truyện cũng sử dụng các yếu tố hoang đường, kì ảo.

...

b, Phân tích truyện cổ tích Sọ Dừa:

- Kiểu nhân vật bất hạnh

- Thể hiện ước mơ cái thiện thắng cái ác, ước mơ về hạnh phúc

- Các yếu tố hoang đường kì ảo:

    + Bà mẹ uống nước trong một chiếc sọ dừa về mang thai

    + Sinh ra Sọ Dừa tròn lông lốc, không tay chân

    + So Dừa thoát khỏi lốt trở thành chàng trai khôi ngô tuấn tú

    + Vợ Sọ Dừa bị cá kình nuốt vào bụng, tự mổ bụng cá, trôi dạt vào đảo và sống sót.

c, Một số tác phẩm văn học dân gian đã học: truyện truyền thuyết Con rồng cháu tiên, Thánh Gióng, Sơn Tinh Thủy Tinh, truyện cổ tích Tấm Cám, Đẽo cày giữa đường, Sọ Dừa, truyện cười Treo biển, lợn cưới áo mới...

Đọc phần trích sau và trả lời câu hỏi     [.…] Tôi sẽ viết chuyện cuộc khởi nghĩa của anh Đề(1), cuộc đời, số phận anh Đề. Tôi có ngay cảm giác phải tìm một cái tên khác cho anh Đề. Tên Đề có “Kinh” quá, người kinh quá. Tnú, tôi gọi anh bằng cái tên ấy. Nó “không khí” hơn nhiều […].    Tôi chưa hình dung câu chuyện, cốt truyện sẽ biễn biến cụ thể ra sao, nhưng đã...
Đọc tiếp
Đọc phần trích sau và trả lời câu hỏi
    [.…] Tôi sẽ viết chuyện cuộc khởi nghĩa của anh Đề(1), cuộc đời, số phận anh Đề. Tôi có ngay cảm giác phải tìm một cái tên khác cho anh Đề. Tên Đề có “Kinh” quá, người kinh quá. Tnú, tôi gọi anh bằng cái tên ấy. Nó “không khí” hơn nhiều […].
   Tôi chưa hình dung câu chuyện, cốt truyện sẽ biễn biến cụ thể ra sao, nhưng đã thấy rõ, cái truyện ngắn này sẽ bắt đầu bằng một khu rừng xà nu – mà tôi sẽ ra sức tả một cách hết sức tạo hình […] và truyện sẽ kết thúc bằng một cánh rừng xà nu, như một vĩ thanh cứ xa mờ dần và bất tận, nghĩa là “bố cục” đã thấy được rồi… Sau đấy mọi sự bỗng trở nên rõ ràng, dễ dàng đến kì lạ. Chị “Dít” đến – như là tất yếu vậy […]. Nhưng tôi muốn Dít sẽ là mối tình sau của Tnú, một mối tình sẽ lờ mờ mà chắc chắn hiện lên ở cuối truyện. Vậy thì phải có Mai, chị của Dít […]. Và cái gì để dẫn đến cuộc bùng dậy ghê gớm như vậy của Tnú (diệt sạch cả một tiểu đội giặc gần như bằng tay không, những năm tháng chưa hề có tiếng súng cách mạng ấy)? Tất cả có một nỗi đau riêng bức bách dữ dội, bật ra từ nỗi đau chung của xóm làng, dân tộc: đứa con bị đánh chết tàn bạo, Mai gục xuống, ngya trước mắt Tnú. Chi tiết ấy đến một cách tất yếu.
   Và ông cụ Mết của tôi cũng tất yếu phải đến. Ông là cội nguồn, là Tây Nguyên của thời “Đất nước đứng lên” trường tồn đến ngày nay […].
   Có lẽ cũng từ đó mà có thằng bé Heng. Nó sẽ còn đi tới đâu, chưa ai lường được…
   Tất cả trở nên dễ dàng đến ngạc nhiên đối với tôi. Tôi hình dung ra, thấy hiển hiện tất cả. Các chi tiết tự nó đến: các cụ bà già lụm cụm bò từ trên thang nhà sàn xuống, các cô gái lấy nước ở vòi nước đầu làng […], cả tiếng nước lanh tanh trong đêm khuya […], cả mười ngọn lửa xà nu cháy rần rật trên mười đầu ngón tay của Tnú […]. Tất cả, tôi không “bịa” thêm gì cả, tô thấy rõ hết, mặc dầu tất cả đây hoàn toàn là một câu chuyện bịa. Mà như thật. Với tôi nó hoàn toàn có thật. Cách sắp xếp các lớp thời gian trong truyện, xen kẽ, đan quyện, những mạch nối…cũng đến dễ dàng và tự nhiên, như tất nó phải vậy.
   “Rừng xà nu” là truyện của một đời, và được kể trong một đêm. Đó là cái đêm dài như cả một đời…
(Nguyên Ngọc, Về truyện ngắn “Rừng xà nu”,
trong Nhà văn nói về tác phẩm, Hà Minh Đức biên soạn,
NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000).
Trong phần trích trên, nhà văn Nguyên Ngọc nói về việc gì?
1
3 tháng 5 2017

- Trong phần trích trên, nhà văn Nguyên Ngọc nói về quá trình ông suy nghĩ, lên ý tưởng để chuẩn bị cho việc sáng tác truyện “Rừng xà nu”.

- Bài học cho quá trình hình thành ý tưởng:

    + Hình thành ý tưởng: nhà văn muốn xây dựng câu chuyện trên một nguyên mẫu có thật là cuộc khởi nghĩa của anh Đề.

    + Nhân vật chính: tên của nhân vật sẽ là Tnú để mang đậm “không khí” của núi rừng Tây Nguyên.

    + Hệ thống nhân vật: Dít, Mai, cụ Mết, bé Heng

    + Dự kiến cốt truyện: Bắt đầu và kết thúc bằng hình ảnh cây xà nu.

    + Tình huống, chi tiết truyện nổi bật: Mỗi nhân vật “phải có một nỗi đau riêng bức bách dữ dội, bật ra từ nỗi đau chung của xóm làng, dân tộc”.

    + Chi tiết đặc biệt tạo điểm nhấn: Nỗi đau đớn nhất của Tnú là phải chứng kiến cảnh đứa con bị đánh một cách tàn bạo, còn người vợ thì gục xuống ngay trước mặt anh.