Đọc văn bản dưới đây.

...">
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Đọc văn bản dưới đây.

CHÀNG TRAI LÀNG PHÙ ỦNG

Ông Phạm Ngũ Lão là chàng trai làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Ông có sức khoẻ lạ thường, muôn người không địch nổi. Phạm Ngũ Lão mặt mũi khôi ngô, văn võ đều giỏi. Nhà vốn chỉ có nghề làm ruộng, đến ông mới theo nghiệp bút nghiên. Mới hai mươi tuổi ông đã có tính khảng khái. Trong làng có người tên là Bùi Công Tiến đỗ tiến sĩ làm lễ ăn mừng, cả làng kéo đến mừng rỡ, chỉ Ngũ Lão không đến.

Bà mẹ Ngũ Lão bảo rằng:

− Con làm thế nào cho bằng người ta thì làm. Nay người ta ăn mừng, cả làng mừng rỡ, sao con không đến mừng một chút?

Phạm Ngũ Lão thưa rằng:

− Thưa mẹ, con chưa làm nên gì để vui lòng mẹ mà con đi mừng người ta thì con lấy làm nhục lắm.

Nhà ở bên cạnh đường cái, có một hôm, Phạm Ngũ Lão ngồi vệ đường vót tre đan sọt. Chợt có Hưng Đạo Vương đi qua để vào kinh, quan quân kéo đi rất đông. Quân đi mở đường thấy Ngũ Lão ngồi xếp bằng bên cạnh đường, quát lên bắt phải đứng dậy. Ngũ Lão cứ ngồi nghiễm nhiên như không nghe tiếng. Quân lính cầm ngọn giáo đâm vào đùi, Ngũ Lão cũng cứ ngồi vững không động mình. Đến lúc xe Hưng Đạo Vương đến nơi, trông thấy thế lấy làm lạ gọi đến hỏi, bấy giờ Ngũ Lão mới biết là có quan quân đi qua và quân lính đã đâm vào đùi mình.

Hưng Đạo Vương hỏi rằng:

− Nhà thầy kia ở đâu, sao ta đi qua đây mà cứ ngồi chững chàng làm vậy?

Ngũ Lão thưa rằng:

− Tôi đang mải nghĩ một việc cho nên không biết là ngài trẩy qua đây.

Hưng Đạo Vương lấy làm kì, hỏi đến việc học hành kinh sử thì Phạm Ngũ Lão hỏi đâu nói đấy, không sót chỗ nào, ứng đối nhanh như nước chảy.

Hưng Đạo Vương bèn sai quân lấy thuốc dấu dịt vào vết đâm, rồi cho Ngũ Lão ngồi xe đem về kinh, tiến cử lên vua Trần Thánh Tông.

Vua thấy người có sức khoẻ, lại có học thức, cho sung chức quản vệ sĩ. Các vệ sĩ không chịu, xin đấu sức với Ngũ Lão. Ngũ Lão xin vâng, nhưng xin vua cho về nhà ba tháng để thu xếp việc nhà, rồi sẽ xin đấu sức và nhận chức luôn thể.

Vua cho về, Ngũ Lão về nhà, ra ngoài đồng, tìm chỗ gò cao tập nhảy, cứ cách mười trượng chạy đến nhảy vọt qua gò. Tập luyện xong xuôi rồi, vào kinh đấu sức. Khi đấu quyền với các vệ sĩ thì không ai địch nổi. Sau Ngũ Lão thách tất cả các vệ sĩ cùng ra đấu. Các vệ sĩ xúm xít chung quanh hàng trăm người, Ngũ Lão tay đấm chân đá, nhảy nhót như bay, chạm phải ai kẻ ấy không ngã đau thì què tay. Các vệ sĩ không tài gì mà đánh lại được, bấy giờ mới xin chịu phục.

Vua thấy người kiên dũng làm vậy, cho theo Hưng Đạo Vương đi đánh giặc Nguyên thì đánh trận nào cũng thắng, lập nên công trạng rất nhiều. Hưng Đạo Vương có lòng yêu mến, gả con gái nuôi là Nguyên quận chúa cho.

Về sau, vua nước Ai Lao đem hơn một vạn quân và voi sang cướp đất Thanh, Nghệ. Vua sai Ngũ Lão cầm quân đi đánh. Ngũ Lão sai dẫn chặt tre đực dài độ một trượng, chồng chất trên các vệ đường. Khi Ngũ Lão kéo quân vào đánh giặc, giặc thúc voi sấn lên, Ngũ Lão chỉ chân tay không mà sấn vào gặp đồng tre nào thì vớ lấy đống tre chỗ ấy, đập vào chân voi. Voi bị đau, gầm rống lên chạy trở về, giày xéo lên cả quân Ai Lao. Ngũ Lão mới thúc quân đánh tràn sang, quân giặc tan vỡ, phải trốn về nước.

Vì có những công to ấy, Ngũ Lão được cất lên làm Điện tiền thượng tướng quân. Đến khi mất, được phong làm Thượng Đẳng Phúc Thần, và được dân làng Phù Ủng lập miếu thờ ngay ở chỗ nhà Ngũ Lão.

(In trong Nam Hải dị nhân lược truyện, Phan Kế Bính)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5.

Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản "Chàng trai làng Phù Ủng".

Câu 2. Vì sao quân lính đâm giáo vào đùi mà Phạm Ngũ Lão không hay biết?

Câu 3. Tại sao Hưng Đạo Vương (Trần Quốc Tuấn) không trách phạt kẻ chắn đường mà lại đưa Phạm Ngũ Lão về kinh đô và tiến cử lên vua? Điều này cho thấy tầm nhìn của Hưng Đạo Vương như thế nào?

Câu 4. Nhân vật Phạm Ngũ Lão hiện lên với những đặc điểm gì nổi bật?

Câu 5. Từ câu chuyện Phạm Ngũ Lão "xấu hổ vì chưa làm được việc lớn", em có suy nghĩ gì về vai trò của việc sống có lí tưởng? (Trình bày ngắn gọn khoảng 5 − 7 dòng)

23

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là : tự sự.

Câu 2:

Phạm Ngũ Lão không hay biết bị quân lính đâm vào đùi là : ông đang suy nghĩ về một việc nào đó.

Câu 3:

Hưng Đạo Vương không trách phạt Phạm Ngũ Lão vì :

Nhận thấy Ngũ Lão Vương không phải là người vô lễ , ngông cuồng , tự đại .

Câu 4:

Nhân vật Ngũ Lão Vương hiện lên là người :

Văn võ song toàn :ngoại hình khôi ngô tuấn tú , am hiểu kinh sử.

Câu 5:

Sống có lí tưởng đóng vai trò như ngọn hải đăng soi sáng, giúp con người xác định mục tiêu và hướng đi rõ ràng trong cuộc sống. Nó tạo ra động lực mạnh mẽ, thúc đẩy chúng ta nỗ lực học tập, làm việc và kiên trì vượt qua khó khăn, nghịch cảnh .



Câu 1:

- Phương thức biểu đạt chính của văn bản " Chàng trai làng Phù Ủng " là tự sự.

Câu 2:

- Quân lính cầm giáo đâm vào đùi

mà Phạm Ngũ Lão không hay biết vì ông đang tập trung suy nghĩ một chuyện quan trọng.

Câu 3:

- Hưng Đạo Vương( Trần Quốc Tuấn) không trách phạt kẻ chắn đường mà lại đưa Phạm Ngũ Lão về kinh đô và tiến cử lên vua vì ông nhận thấy Phạm Ngũ Lão là người thông minh, tài năng, học thức, bản lĩnh , có sức khỏe.

- Điều này cho thấy tầm nhìn của hưng Đạo Vương sáng suốt, nhìn xa trông rộng, đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu.

Câu 4:

- Nhân vật Phạm Ngũ Lão hiện lên với những đặc điểm nổi bật là: văn võ song toàn, giàu lòng tự trọng, cẩn trọng, bản lĩnh, tập trung cao.

Câu 5:

- Từ câu chuyện Phạm Ngũ Lão " xấu hổ vì chưa làm được việc lớn " em thấy vai trò của việc sống có lí tưởng là rất lớn. Sống có lí tưởng sẽ giúp ta có sự lạc quan hơn trong cuộc sống thường ngày, có sự nỗ lực để đạt được lí tưởng ấy. Lối sống này giúp ta có trách nhiệm hơn đối với cộng đồng. Khi sống có lí tưởng, ta sẽ biến " cái thẹn " thành động lực giúp ta hoàn thiện và phát triển bản thân, góp phần nhỏ bé vào sự phát triển của đất nước.











Câu 1

Phương thức biểu đạt chính là tự sự

Câu 2

Phạm Ngũ Lão không hay biết đến viễ bị đâm giáo vào đùi vì lúc đó ông đang tập trung suy nghĩ về việc lớn

Câu 3

Hưng Đạo Vương không trách phạt Phạm Ngũ Lão vì:

Nhận thấy Phạm Ngũ Lão không phải người vô lễ mà là người có khí chất đặc biệt: bản lĩnh, dũng cảm, chăm chú suy nghĩ

Khi hỏi về chuyện học cho thấy Phạm Ngũ Lão có nhiều biết ham học hỏi và rộng kiến thức

=> Hưng Đạo Vương thấy Phạm Ngũ Lão là nhân tài hiếm có

Tầm nhìn của Hưng Đạo Vương :

+ Cho biết Hưng Đạo Vương có con mắt nhìn nhân tài từ những chi tiết đời sống

+ Ông biết đặt lợi ích quốc gia lên trên nhưng quy tắc lễ nghi thông thường

Câu 4

Nhân vật Phạm Ngũ Lão hiện lên là người có chí lớn

- Có ngoại hình khỏe mạnh , văn võ xong toàn , am hiểu lịch sử

- Giàu lòng tự trọng biết xấu hổ kho bản thân chưa có sự nghiệp vững vàng

- Bản lĩnh và sự tập trung phi tthường mải mê nghĩ việc nước mà bị mũi giáo đâm vào đùi chảy máu mà không biết

- không chủ quan.

Câu 5

Sống có lý tưởng giúp con người có những mục tiêu tư ời đẹp, có khát khao khát vọng trong cuộc sống , luôn cố gắng đạt được mục tiêu đề ra . Nó giúp ta sống có trách nhiệm với người thân và cộng đồng . Người sống có lý tưởng sẽ biến những " cái thẹn " thành hành động để mang lại giá trị cho cộng đồng và đất nước.  











25 tháng 4

Câu 1 ptbđ chính là tự sự

Câu2 vì ông đang tập trung tư tưởng cực độ

Câu 3: Tầm nhìn của Hưng Đạo Vương

Lý do không trách phạt mà tiến cử: Hưng Đạo Vương nhận ra Phạm Ngũ Lão không phải kẻ ngang ngược coi thường pháp luật, mà là một bậc hiền tài có chí khí lớn, ham học hỏi và lo cho đại cuộc.

Tầm nhìn của Hưng Đạo Vương: Qua đó, ta thấy Hưng Đạo Vương là người có tâm thế trọng dụng nhân tài, có khả năng nhìn thấu bản chất con người vượt lên trên các lễ nghi thông thường. Ông đặt lợi ích quốc gia lên trên hết và có một nhãn quan tinh tường, bao dung.

Câu 4: Đặc điểm nổi bật của nhân vật Phạm Ngũ Lão

Chí khí phi thường: Luôn trăn trở về việc giúp nước, giúp dân.

Khả năng tập trung và bản lĩnh: Có sự điềm tĩnh và ý chí sắt đá (không biết đau khi bị giáo đâm).

Khiêm nhường và ham học: Biết hổ thẹn khi thấy mình chưa giúp được gì cho đất nước, sẵn sàng học hỏi để trở thành một vị tướng tài ba.

Câu 5: Suy nghĩ về vai trò của việc sống có lý tưởng (Khoảng 5 – 7 dòng)

Sống có lý tưởng đóng vai trò như một "ngọn hải đăng" dẫn đường cho mỗi cá nhân. Khi chúng ta có mục đích sống rõ ràng, như cách Phạm Ngũ Lão trăn trở vì đại cuộc, ta sẽ có động lực để vượt qua mọi khó khăn và nỗi đau về thể xác hay tinh thần. Lý tưởng giúp con người thoát khỏi lối sống ích kỷ, hẹp hòi để hướng tới những giá trị cao đẹp hơn, đóng góp tích cực cho cộng đồng. Một thế hệ có lý tưởng sẽ tạo nên một quốc gia hùng mạnh và bền vững. Ngược lại, nếu sống không có mục đích, con người dễ rơi vào trạng thái hư ảo, lãng phí thời gian và đánh mất giá trị bản thân.


25 tháng 4

Câu 1 :

Phương thức biểu đạt chính của văn bản “ chafng trai làng phủ” là tự sự

Câu 2:

Phạm ngũ lão không hay biết đến việc bị đâm giáo vào đùi vì lúc đó ông đang tập trung cao độ suy nghĩ về một việc lớn

Câu 3:

- hưng đạo vương không trách phạt phạm ngũ lão vì:

+ nhận thấy phạm ngũ lão không phải người vô lễ, ngông cuồng mà là người có khí chất đặc biệt : chăm chú, suy nghĩ, bản lĩnh

=> hưng đạo nhận thấy phạm ngũ lão ứng đối thông minh,hiểu biết rộng

- tầm nhìn của hưng đạo

+ cho thấy hưng đạo là một vị tướng có tầm nhìn xa trông rộng, có khả năng nhận ra nhân tài từ nhưng chi tiết nhỏ trong đời sống

+ Hưng đạo biết đặt lợi ích quốc gia lên trên những quy tắc lễ nghi

Câu 4:

Nhân vật phạm ngũ lão hiện lên là người văn võ song toàn và có nhân cách lớn:

- văn võ song toàn : diện mạo khôi ngô, sức khoẻ phi thường

- giàu lòng tự trọng và chí khí

- bản lĩnh và sự tập trung phi thường

Câu 5:

- sống có lí tưởng giúp con người biết đặt mục tiêu cao đẹp cho bản thân bà luôn nỗ lực vươn lên

- lí tưởng giúp chúng ta sống có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và đất nước

- người có lí tưởng cao đẹp sẽ biết biến cái thẹn” thành hành động để tạo ra giá trị cuộc sống và đất nước

25 tháng 4

Câu 1:

_Phương thức biểu đạt:tự sự

Câu 2:

_ Vì ông đang mải mê tập trung suy nghĩ về việc nước(đọc sách, suy ngẫm về binh pháp). Sự tập trung cao độ và tâm huyết với vận mệnh đất nước đã khiến ông quên đi nỗi đau thể xác.

Câu 3:

_Lý do không trách phạt và tiến cử: Hưng Đạo Vương nhận thấy Phạm Ngũ Lão không phải người thường mà là một bậc kỳ tài, có chí lớn và sự điềm tĩnh lạ thường trước cái chết/nỗi đau

_Tầm nhìn: Cho thấy Hưng Đạo Vương là người trọng dụng nhân tài, có đôi mắt tinh tường, vượt lên trên những lễ nghi thông thường để tìm kiếm người giỏi giúp nước. Ông có tấm lòng bao dung và tư tưởng vì nghĩa lớn.

Câu 4: Đặc điểm nổi bật của nhân vật Phạm Ngũ Lão

_ Thông minh, ham học hỏi: Mải mê đọc sách, nghiên cứu.

_ Điềm tĩnh, nghị lực: Bị giáo đâm mà không hề nao núng

_ Yêu nước, có chí lớn: Luôn trăn trở về việc giúp dân giúp nước, biết hổ thẹn khi chưa lập được công danh.

Câu 5:

Sống có lý tưởng đóng vai trò là "kim chỉ nam" dẫn dắt con người đến những giá trị cao đẹp. Giống như Phạm Ngũ Lão, khi có lý tưởng phụng sự đất nước, con người sẽ có động lực mạnh mẽ để vượt qua mọi gian khó và quên đi những nhu cầu ích kỷ của bản thân. Lý tưởng giúp chúng ta sống có mục đích, không bị sa ngã và luôn nỗ lực hoàn thiện mình. Một người sống có lý tưởng không chỉ tạo nên giá trị cho chính mình mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng và xã hội.




Phương thức biểu đạt chính: Tự sự (kể chuyện). Câu 2: Lý do Phạm Ngũ Lão không biết mình bị đâm vào đùi Phạm Ngũ Lão không hay biết khi quân lính đâm giáo vào đùi vì ông đang mải mê suy nghĩ về việc nước (nghiền ngẫm về binh thư, cách đánh giặc). Sự tập trung cao độ và tâm huyết đặt vào vận mệnh quốc gia đã khiến ông quên đi nỗi đau thể xác. Câu 3: Cách ứng xử và tầm nhìn của Hưng Đạo Vương Lý do không trách phạt mà còn tiến cử: Hưng Đạo Vương nhận thấy Phạm Ngũ Lão không phải người thường. Một người mải mê nghĩ việc nước đến mức "đâm thủng đùi không biết" là người có chí lớn và tài năng xuất chúng. Tầm nhìn của Hưng Đạo Vương: Cho thấy ông là một người trọng dụng nhân tài, không câu nệ tiểu tiết hay thứ bậc. Ông có khả năng nhìn người tinh tế, thấu hiểu lòng dân và luôn đặt lợi ích của đất nước lên hàng đầu khi tìm kiếm người tài giúp nước. Câu 4: Đặc điểm nổi bật của nhân vật Phạm Ngũ Lão Qua câu chuyện, Phạm Ngũ Lão hiện lên với những phẩm chất: Yêu nước thiết tha: Luôn đau đáu, lo nghĩ về việc bảo vệ giang sơn. Khả năng tập trung phi thường: Có ý chí và nghị lực hơn người. Có tài năng và chí lớn: Không chỉ giỏi võ nghệ mà còn tinh thông binh pháp, khiêm nhường nhưng đầy khát vọng cống hiến.

C5

Sống có lí tưởng đóng vai trò là "kim chỉ nam" soi sáng con đường phát triển của mỗi cá nhân. Như Phạm Ngũ Lão từng biết hổ thẹn khi chưa lập được công danh cho đất nước, lí tưởng giúp chúng ta có mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, vượt qua những ích kỷ tầm thường. Nó tạo ra động lực mạnh mẽ để con người không ngừng học tập, rèn luyện và cống hiến cho cộng đồng. Khi có lí tưởng cao đẹp, cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn, giúp ta bản lĩnh trước khó khăn và tránh xa những lối sống vô định, hoài phí tuổi trẻ. Tóm lại, lí tưởng chính là sức mạnh tinh thần cốt lõi để mỗi người khẳng định giá trị bản thân và góp phần dựng xây xã hội.

Câu 1: phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự

Câu 2: Phạm Ngũ Lão không hay biết vì lúc đó ông đang tập trung cao suy nghĩ về 1 việc lớn

Câu 3:Hưng Đạo không trách phạt Ngũ Lão vì nhận thấy Ngũ Lão không phải người vô lễ, thấy Ngũ Lão là thiên tài.

Tầm nhìn của Hưng Đạo vương : nhìn xa trông rộng, có khả năng nhận biết nhân tài tốt

Câu 5: Từ câu chuyện trên, em thấy việc sống có lí tưởng rất quan trọng. Sống có lis tưởng giúp mọi người biết đặt mục tiêu chí bản thân. Người có lí tưởng cao đẹp sẽ biến cái thẹn thành hành động để tạo ra giá trị. Vì vậy, sống có lí tưởng rất quan trọng

Câu 4: Đặc điểm của Phạm Ngũ Lão

Văn võ song toàn: khỏe, gương mặt khôi Ngô

Bản lĩnh

Có khí chất


26 tháng 4

Câu 1.

Phương thức biểu đạt chính của văn bản

"Chàng trai làng Phù Ủng" là tự sự.

Câu 2.

Phạm Ngũ Lão không hay biết đến việc bị đâm giáo vào đùi vì lúc đó ông đang tập trung cao độ suy nghĩ về một việc lớn.

Câu 3.

- Hưng Đạo Vương không trách phạt Phạm

Ngũ Lão vì:

+ Nhận thấy Phạm Ngũ Lão không phải người vô lễ, ngông cuồng mà là người có khí chất đặc biệt: Trầm tĩnh, chăm chú suy ngẫm, có bản lĩnh.

+ Khi hỏi về việc học hành, Phạm Ngũ Lão ứng đối thông minh, hiểu biết rộng.

=> Hưng Đạo Vương nhận thấy Phạm Ngũ Lão là nhân tài hiếm có.

- Tầm nhìn của Hưng Đạo Vương:

+ Cho thấy Hưng Đạo Vương là một vị tướng có tầm nhìn xa trông rộng, có khả năng nhận ra nhân tài từ những chi tiết nhỏ trong đời sống.

+ Hưng Đạo Vương biết đặt lợi ích quốc gia lên trên những quy tắc lễ nghi thông thường, hướng tới mục đích lớn lao.

Câu 4.

Nhân vật Phạm Ngũ Lão hiện lên là người văn võ song toàn và có nhân cách lớn:

- Văn võ song toàn: Diện mạo khôi ngô, sứcCâu 4. (1,0 điểm)

Nhân vật Phạm Ngũ Lão hiện lên là người văn võ song toàn và có nhân cách lớn:

  • Văn võ song toàn: Diện mạo khôi ngô, sức khỏẻ phi thường và am hiểu kinh sử, ứng đối trôi chảy mọi kiến thức.
  • Giàu lòng tự trọng và chí khí: Biết xấu hổ khi bản thân chưa lập được công danh sự nghiệp (từ chối đi ăn mừng, nói với mẹ là bản thân cảm thấy nhục nhã).
  • Bản lĩnh và sự tập trung phi thường: Mải mê nghĩ việc nước đến mức bị giáo đâm vào đùi chảy máu cũng không hay biết.
  • Mưu trí và cẩn trọng: Không chủ quan (xin về quê luyện tập trước khi thi đấu) và có tài thao lược quân sự tài tình (dùng tre đánh thắng đội quân voi).

Câu 5.

  • Sống có lí tưởng giúp con người biết đặt mục tiêu cao đẹp cho bản thân và luôn nỗ lực vươn lên.
  • Lí tưởng cũng giúp chúng ta sống có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và đất nước.
  • Người có lí tưởng cao đẹp sẽ biết biến "cái thẹn" thành hành động để tạo ra giá trị cho cộng đồng và đất nước.


26 tháng 4

câu 1

phương thức biểu đạt chính của văn bản “Chàng trai làng Phù Ủng” là tự sự

câu 2

Phạm Ngũ Lão không hay biết đến việc bị đâm giáo vào đùi vì lúc đó ông đang tập trung cao độ suy nghĩ về một việc lớn

câu 3

— Hương Đạo Vương không trách phạt Phạm Ngũ Lão vì :

+ Nhận thấy Pham Ngũ Lão không phải người vô lễ , ngông cuồng mà là người có khí chất đặc biệt : trầm tĩnh , chăm chú suy ngẫm , có bản lĩnh

+ Khi hỏi về việc học hành, Phạm Ngũ Lão ứng đối thông minh , hiểu biết rộng

=> Hưng Đạo Vương nhận thấy Phạm Ngũ Lão là nhân tài hiếm có

— Tầm nhìn của Hưng Đạo Vương :

+ Cho thấy Hưng Đạo Vương là người có tầm nhìn xa trông rộng , có khả năng nhận ra nhân tài từ những chi tiết nhỏ trong đời sống

+ Hưng Đạo Vương biết đặt lợi ích quốc gia lên trên những quy tắc lễ nghi thông thường , hướng tới mục đích lớn lao

câu 4

Nhân vật Phạm Ngũ Lão hiện lên là người văn võ song toàn và có nhân cách lớn :

— Văn võ song toàn : diện mạo khôi ngô , sức khoẻ phi thường và am hiểu kinh sử , ứng đối trôi chảy mọi kiến thức

— Giàu lòng tự trọng và chí khí : Biết xấu hổ khi bản thân chưa lập được công danh sự nghiệp ( từ chối ăn mừng , nó với mẹ là bản thân cảm thấy nhục nhã )

— Bản lĩnh và sự tập trung phi thường : Mải mê nghĩ việc nước đến mức bị giáo đâm vài đùi chảy máu cũng không biết

— Mưu trí và cẩn trọng : Không chủ quan ( xin về quê luyện tập trước khi thi đấu ) và có tài thao lược quân sự tài tình ( dùng tre đánh thắng đội quân voi )

câu 5

Việc sống có lí tưởng có vai trò rất quan trọng ở cuộc sống của mỗi người . Sống có lí tưởng giúp con người biết đặt mục tiêu cao đẹp cho bản thân và luôn nỗ lực vươn lên . Bên cạnh đó , lí tưởng cũng giúp chúng ta sống có trách nhiệm với gia đình , cộng đồng và đất nước . Và ngừoi có lí tưởng cao đẹp sẽ biết biến “ cái thẹn ” thành hành động để tạo ra giá trị cho cộng đồng và đât nước .

26 tháng 4

Câu 1:

Phương thức biểu đạt chính của văn bản "Chàng trai làng Phù Ủng" là tự sự.

Câu 2:

Phạm Ngũ Lão không hay biết đến việc bị đâm giáo vào đùi vì lúc đó ông đang tập trung cao độ suy nghĩ về một việc lớn.

Câu 3:

- Hưng Đạo Vương không trách phạt Phạm Ngũ Lão vì:

+ Nhận thấy Phạm Ngũ Lão không phải là người vô lễ, ngông cuồng mà là người có khí chất đặc biệt: Trầm tĩnh, chăm chú suy ngẫm, có bản lĩnh.

+ Khi hỏi về việc học hành, Phạm Ngũ Lão ứng đổi thông minh, hiểu biết rộng.

=> Hưng Đạo Vương nhận thấy Phạm Ngũ Lão là nhân tài hiếm có.

- Tầm nhìn của Hưng Đạo Vương:

+ Cho thấy Hưng Đạo Vương là một vị tướng có tầm nhìn xa trông rộng, có khả năng nhận ra nhân tài từ những chi tiết nhỏ trong đời sống.

+ Hưng Đạo Vương biết đặt lợi ích quốc gia lên trên những quy tắc lễ nghi thông thường, hướng tới mục đích lớn lao.

Câu 4:

Nhân vật Phạm Ngũ Lão hiện lên là người văn võ song toàn và có nhân cách lớn:

- Văn võ song toàn: Diện mạo khôi ngô, sức khỏe phi thường và am hiểu kinh sử, ứng đối trôi chảy mọi kiến thức.

- Giàu lòng tự trọng và chí khí: Biết xấu hổ khi bản thân chưa lập được công danh sự nghiệp (từ chối đi ăn mừng, nói với mẹ là bản thân cảm thấy nhục nhã).

- Bản lĩnh và sự tập trung phí thường: Mải mê nghĩ đến việc nước đến mức bị giáo đâm vào đùi chảy máu cũng không hay biết.

- Mưu trí và cẩn trọng: Không chủ quan (xin về quê luyện tập trước khi thi đấu) và có tài thao lược quân sự tài tình (dùng tre đánh thắng đội quân voi).

Câu 5:

Sống có lí tưởng chính là kim chỉ nam vĩ đại nhất dẫn dắt con người để vươn lên những giá trị cao đẹp. Sống có lí tưởng giúp con người biết đặt mục tiêu cao đẹp cho bản thân và luôn nỗ lực vươn lên. Lí tưởng cũng giúp chúng ta sống có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và đất nước. Người có lí tưởng cao đẹp sẽ biết biến " cái thẹn " thành hành động để tạo ra giá trị cho cộng đồng và đất nước. Tóm lại, sống có lí tưởng không chỉ là chìa khóa mở ra cánh cửa thành công mà còn là nền tảng cốt lõi để mỗi người khẳng định giá trị sự sống của chính mình.



-

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính: Tự sự Câu 2: Vì lúc đó ông đang mải mê suy nghĩ về việc nước, về cung cách đánh giặc và những kế sách lớn. Sự tập trung cao độ và lòng yêu nước nồng nàn đã khiến ông quên đi nỗi đau thể xác

Câu 3: Lý do không trách phạt: Hưng Đạo Vương nhận thấy Phạm Ngũ Lão không phải người thường. Một người bình thường khi bị đâm đau sẽ giật mình, nhưng ông vẫn thản nhiên ngồi đan sọt, chứng tỏ đây là một người có ý chí sắt đá và đang trăn trở đại sự. Tầm nhìn của Hưng Đạo Vương: Cho thấy ông là người biết trọng dụng nhân tài, không câu nệ tiểu tiết hay địa vị xã hội Có khả năng nhìn người tinh tường, nhìn thấu được phẩm chất anh hùng ẩn sau vẻ ngoài bình dị. Luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên hết bằng việc tiến cử người tài cho đất nước

Câu 4: Ông là một người có Lòng yêu nước thiết tha.Luôn đau đáu nghĩ việc cứu dân, giúp nước. Ông có ý chí kiên cường, biết khiêm .Ông có tài năng và trí tuệ để xây dựng và bảo vệ đất nước

Câu 5

Lối sống có lí tưởng đóng vai trò là "kim chỉ nam" dẫn lối cho mỗi cá nhân vươn tới những giá trị cao đẹp. Qua câu chuyện của Phạm Ngũ Lão, ta thấy lí tưởng chính là nguồn động lực mạnh mẽ nhất giúp con người vượt qua mọi đau đớn, khó khăn để tập trung vào mục tiêu lớn lao. Khi sống có lí tưởng, chúng ta không chỉ có trách nhiệm với bản thân mà còn biết cống hiến cho cộng đồng và đất nước. Sự "xấu hổ" của ông chính là biểu hiện của một nhân cách lớn, luôn thôi thúc bản thân hoàn thiện hơn. Tóm lại, lí tưởng giúp cuộc sống trở nên ý nghĩa, biến những con người bình thường trở thành những vĩ nhân có ích cho xã hội.



26 tháng 4

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là tự sự.

Câu 2.
Quân lính đâm giáo vào đùi mà Phạm Ngũ Lão không hay biết vì ông đang mải mê suy nghĩ việc lớn, tâm trí tập trung cao độ nên không để ý đến xung quanh.

Câu 3.
Hưng Đạo Vương không trách phạt mà đưa Phạm Ngũ Lão về kinh và tiến cử lên vua vì nhận ra ông là người có tài năng, khí chất khác thường: vừa chăm lo việc lớn, vừa hiểu biết sâu rộng, ứng đối nhanh nhạy.

Câu 4.
Phạm Ngũ Lão là người khỏe mạnh, tài giỏi, có ý chí lớn, chăm học, khiêm tốn và giàu lòng tự trọng.

Câu 5.
Câu chuyện Phạm Ngũ Lão “xấu hổ vì chưa làm được việc lớn” cho thấy vai trò quan trọng của việc sống có lí tưởng. Sống có lí tưởng giúp con người có mục tiêu rõ ràng và động lực vươn lên. Nhờ đó, ta biết cố gắng học tập, rèn luyện và không dễ bỏ cuộc trước khó khăn. Ngược lại, thiếu lí tưởng sẽ khiến con người sống thụ động, dễ thất bại. Vì vậy, mỗi người cần xây dựng cho mình một lí tưởng sống đúng đắn.

Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản “Chàng trai làng Phù Ủng” là tự sự (kể chuyện), kết hợp với miêu tả và biểu cảm.

Câu 2.
Quân lính đâm giáo vào đùi mà Phạm Ngũ Lão không hay biết vì ông đang mải suy nghĩ về việc lớn, chí làm trai và việc đánh giặc cứu nước. Điều đó cho thấy ông có sự tập trung cao độ và khát vọng lập công danh mãnh liệt.

Câu 3.
Trần Quốc Tuấn không trách phạt mà còn trọng dụng Phạm Ngũ Lão vì ông nhận ra tài năng và chí lớn của người thanh niên này.

→ Điều đó cho thấy Hưng Đạo Vương là người có tầm nhìn xa trông rộng, biết nhìn người, trọng dụng nhân tài, không câu nệ lỗi nhỏ để dùng người vào việc lớn.

Câu 4.
Nhân vật Phạm Ngũ Lão nổi bật với các đặc điểm:

  • Có chí lớn, khát vọng lập công giúp nước
  • Tập trung, kiên định, không bị tác động bởi ngoại cảnh
  • Tài năng và bản lĩnh, xứng đáng trở thành tướng giỏi
  • Khiêm tốn, có ý thức về trách nhiệm với đất nước

Câu 5. 
Câu chuyện về Phạm Ngũ Lão “xấu hổ vì chưa làm được việc lớn” cho thấy vai trò quan trọng của việc sống có lí tưởng. Lí tưởng giúp con người xác định mục tiêu và hướng đi đúng đắn trong cuộc đời. Khi có lí tưởng, ta sẽ có động lực để nỗ lực, vượt qua khó khăn và hoàn thiện bản thân. Ngược lại, sống không lí tưởng dễ khiến con người mơ hồ, thiếu ý chí vươn lên. Vì vậy, mỗi người trẻ cần nuôi dưỡng cho mình một lí tưởng đẹp, gắn với trách nhiệm với bản thân và xã hội.

Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: Tự sự Câu 2: Vì lúc đó Phạm Ngũ Lão đang tập trung suy nghĩ việc lớn, nên không hay biết việc bị lính đâm vào đùi. Câu 3: * Hưng Đạo Vương không trách phạt vì nhận ra Phạm Ngũ Lão là người có khí chất đặc biệt, trầm tĩnh, bản lĩnh. * Khi hỏi chuyện, ông thấy Ngũ Lão hiểu biết rộng, ứng đáp nhanh, nên đánh giá là nhân tài. → Điều đó cho thấy Hưng Đạo Vương có tầm nhìn xa, biết trọng dụng người tài, không câu nệ hình thức. Câu 4: Nhân vật Phạm Ngũ Lão nổi bật với: * Văn võ song toàn * Có lòng tự trọng, chí lớn * Tập trung cao, bản lĩnh vững vàng * Thông minh, mưu trí, có tài thao lược Câu 5 Sống có lí tưởng giúp con người xác định mục tiêu rõ ràng và có động lực để phấn đấu. Nhờ có lí tưởng, mỗi người sẽ biết nỗ lực vượt qua khó khăn để hoàn thiện bản thân. Lí tưởng còn giúp ta sống có trách nhiệm hơn với gia đình và xã hội. Khi có mục tiêu đúng đắn, con người sẽ không dễ bị lạc hướng. Đồng thời, lí tưởng giúp biến ước mơ thành hành động cụ thể, tạo ra giá trị cho cộng đồng. Vì vậy, mỗi người cần xây dựng cho mình một lí tưởng sống tích cực.

Câu 1 (khoảng 200 chữ):
Nhân vật Phạm Ngũ Lão trong đoạn trích “Chàng trai làng Phù Ủng” hiện lên với nhiều phẩm chất tốt đẹp, tiêu biểu cho người anh hùng thời Trần. Trước hết, ông là người có chí lớn và khát vọng lập công. Ngay từ khi còn trẻ, ông đã cảm thấy “xấu hổ vì chưa làm được việc lớn”, cho thấy ý thức trách nhiệm với bản thân và đất nước. Bên cạnh đó, Phạm Ngũ Lão còn có tinh thần học hỏi và ý chí rèn luyện phi thường. Chi tiết ông xin về quê ba tháng để tập luyện nhảy qua gò thể hiện sự kiên trì, quyết tâm vượt qua thử thách. Ông cũng là người có tài năng và sức mạnh vượt trội, được thể hiện qua việc dễ dàng đánh bại các vệ sĩ và lập nhiều chiến công trong chiến trận. Đặc biệt, Phạm Ngũ Lão còn có lòng yêu nước sâu sắc, luôn hướng đến việc cống hiến cho dân tộc. Những phẩm chất ấy đã giúp ông trở thành một vị tướng tài ba, được vua và nhân dân kính trọng.


Câu 2 (khoảng 400 chữ):
Ý chí khổ luyện có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi con người, đặc biệt khi phải đối mặt với những khó khăn và thử thách. Câu chuyện về Phạm Ngũ Lão xin về quê ba tháng để tập luyện trước khi đấu sức với các vệ sĩ là minh chứng rõ ràng cho điều đó. Nhờ sự kiên trì rèn luyện, ông đã nâng cao năng lực bản thân và giành được chiến thắng thuyết phục.
Trong thực tế, không ai sinh ra đã hoàn hảo hay đạt được thành công ngay lập tức. Mọi thành tựu đều là kết quả của quá trình nỗ lực bền bỉ. Ý chí khổ luyện giúp con người không nản lòng trước thất bại, biết đứng lên sau mỗi lần vấp ngã. Nó cũng giúp ta rèn luyện kỹ năng, tích lũy kinh nghiệm và hoàn thiện bản thân từng ngày. Đối với học sinh, ý chí học tập và rèn luyện là yếu tố quyết định để đạt kết quả tốt.
Ngược lại, nếu thiếu ý chí, con người dễ bỏ cuộc giữa chừng, không thể vượt qua khó khăn và khó đạt được mục tiêu. Những người thành công trong cuộc sống đều là những người kiên trì theo đuổi mục tiêu đến cùng.
Tuy nhiên, ý chí khổ luyện cần đi đôi với phương pháp đúng đắn và mục tiêu rõ ràng. Không nên cố gắng một cách mù quáng mà cần biết học hỏi, điều chỉnh để đạt hiệu quả tốt nhất.
Tóm lại, ý chí khổ luyện là chìa khóa dẫn đến thành công. Mỗi người cần rèn luyện cho mình tinh thần kiên trì, bền bỉ để vượt qua mọi thử thách và vươn tới những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.



10 tháng 5

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính

Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Tự sự (kể chuyện).

Câu 2. Vì sao Phạm Ngũ Lão không biết quân lính đâm giáo vào đùi?

Phạm Ngũ Lão không hay biết việc bị đâm vì lúc đó ông đang mải mê suy nghĩ về việc nước (lo tính kế sách giúp dân, giúp nước). Sự tập trung cao độ và ý chí kiên định khiến ông quên đi nỗi đau thể xác và không nhận thấy sự náo động xung quanh.

Câu 3. Tầm nhìn của Hưng Đạo Vương

Hưng Đạo Vương không trách phạt mà lại đưa Phạm Ngũ Lão về kinh và tiến cử lên vua vì:

• Ông nhận thấy tố chất của một bậc kỳ tài: Thấy một người bị giáo đâm mà vẫn thản nhiên, chứng tỏ đó là người có ý chí sắt đá và đang mang hoài bão lớn.

• Sự ham học và tài năng thực thụ: Khi hỏi đến kinh sử, Phạm Ngũ Lão trả lời trôi chảy "như nước chảy", chứng tỏ là người văn võ toàn tài.

• Tầm nhìn: Điều này cho thấy Hưng Đạo Vương là một người trọng dụng nhân tài, có con mắt tinh đời và luôn đặt lợi ích của quốc gia lên trên những nghi lễ thông thường. Ông không chấp nhặt lỗi nhỏ mà nhìn vào giá trị lớn lao của con người.

Câu 4. Những đặc điểm nổi bật của Phạm Ngũ Lão

• Có ý chí và lòng tự trọng cao: Cảm thấy "nhục" khi chưa làm được việc lớn để báo hiếu mẹ và giúp đời.

• Khả năng tập trung và bản lĩnh phi thường: Thản nhiên trước vết thương thể xác khi đang lo việc đại sự.

• Văn võ toàn tài: Giỏi cả kinh sử (văn) và có sức khỏe, tài thao lược (võ).

• Lòng yêu nước nồng nàn: Luôn đau đáu việc giúp nước đánh giặc.

Câu 5. Suy nghĩ về vai trò của việc sống có lý tưởng (5 - 7 dòng)

Sống có lý tưởng đóng vai trò là "kim chỉ nam" dẫn dắt con người vượt qua mọi khó khăn và giới hạn của bản thân. Như Phạm Ngũ Lão, nhờ mang trong mình lý tưởng phụng sự tổ quốc, ông đã rèn luyện được ý chí sắt đá và tài năng xuất chúng, từ một chàng trai làng quê trở thành danh tướng lẫy lừng. Lý tưởng giúp cuộc sống trở nên có ý nghĩa hơn, giúp chúng ta không bị sa ngã vào những cám dỗ tầm thường và thôi thúc ta cống hiến giá trị cho cộng đồng. Khi mỗi cá nhân đều có lý tưởng sống cao đẹp, xã hội sẽ ngày càng phát triển và văn minh hơn.

10 tháng 5

Câu 1

- phương thức biểu đạt chính: tự sự

Câu 2:

- phạm ngũ lão không hay biết đến việc bị đâm giáo vào đùi vì lúc đó ông đang tập trung cao độ suy nghĩ về một việc lớn.

Câu 3:

- hưng đạo vương không trách phạt phạm ngũ lão vì:

+Nhận thấy phạm ngũ lão không phải người vô lễ ,ngông quồng mà là người có khí chất đặc biệt thông minh, hiểu biết

+ Khi hỏi về học hành , phạm ngũ lão ứng dổi thông minh hiểu biết rộng

- tầm nhìn của Hưng Đạo Vương:

+Cho thấy hưng đạo vương là một vị tướng có tầm nhìn xa trông rộng , có khả năng nhìn nhận ra nhân tài từ những chi tiết nhỏ trong cuộc sống.

+Hưng Đạo Vương biết đặt lợi ích quốc gia lên trên những quy tắc lê nghĩ thông thường , hướng tới những mục đích lớn lao.

Câu 4:

- văn song võ toàn: diện mạo khôi ngô, sức khỏe phi thường và am hiểu kinh sử, ứng đổi chôi chảy mọi kiến thức.

- giàu lòng tự trọng và trí khí: biết xấu hổ khi biết mình chưa lập được công danh sự nghiệp

- bản lĩnh và sự tập trung phi thường

- mưu chí và cẩn trọng

Câu 5:

- sống có lý tưởng giúp con người biết đặt mục tiêu cao đẹp cho bản thân và luôn lỗ lực vươn lên .

- lý tưởng giúp chúng ta sống có trách nhiệm với gia đình cộng đồng và đất nước.

- người có lý tưởng sẽ biết biến "cái thẹn" để đạo ra giá trị cho cộng đồng và đất nước.

10 tháng 5

Câu 1: phương thức biểu đạt chính là tự sự

Câu 2:vì lúc ấy ông đang tập trung cao đọ về một truyện lớn

Câu 3:Hưng Đạo Vương không phạt Phạm Ngũ Lão vì

-ông không phải là người vô lễ, ngông cuồng mà là ngồi có khí chất đặc biệt:trầm ngẫm,có bản lĩnh

-khi nói về việc học hành Phạm Ngũ Lão ứng đỗi thông minh, hiểu biết rộng và ấm hiểu kính sử

=>Hưng Đạo Vương nhận ra phạm ngũ lão là là nhân tài hiếm

-tầm nhìn của Hưng Đạo Vương cho thấy

-ông là nhười có tầm nhìn xa trông rộng có khả năng nhận ra nhân tài từ những chi tiết nhỏ trong cuộc sông

-ông biết đặt lợi ích quốc gia lên trên những quý tắc lễ nghi thông thường, hướng đến mục đích lớn lao

Câu 4:

-Văn võ sống toàn:điện mạo khôi ngô, sức khỏe phí thường, ứng đối trôi chảy mọi kiến thức

-giàu lòng tự trọng và chí khí:biết xấu hổ khi chưa lập được công danh sự nghiệp

-bản lĩnh và sự tập trung phí thường:mải mê việc nước đến bị giáo đâm vào đùi chảy máu cũng không hay biết

-mưu trí và cẩn trọng:không chủ quan và có tài thao lược quân sự tài tình

Câu 5: sống có lí tưởng giúp con người biết đặt mục tiêu cao đẹp cho bản thân và luôn nỗ lực vươn lên. Lí tưởng cũng giúp chúng ta sống có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và đất nước. Người có lí tưởng cao đẹp sẽ biết biến "cái thẹn" thành hành động để tạo ra giá trị cho cộng đồng và đất nước

10 tháng 5

Phương thức biểu đạt tự sự


 CHÀNG TRAI LÀNG PHÙ ỦNGÔng Phạm Ngũ Lão là chàng trai làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Ông có sức khỏe lạ thường, muôn người không địch nổi.Phạm Ngũ Lão mặt mũi khôi ngô, văn võ đều giỏi. Nhà vốn chỉ có nghề làm ruộng, đến ông mới theo nghiệp bút nghiên. Mới hai mươi tuổi ông đã có tính khẳng khái. Trong làng có người tên là Bùi Công Tiến đỗ tiến sĩ làm lễ...
Đọc tiếp

 CHÀNG TRAI LÀNG PHÙ ỦNG

Ông Phạm Ngũ Lão là chàng trai làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương. Ông có sức khỏe lạ thường, muôn người không địch nổi.

Phạm Ngũ Lão mặt mũi khôi ngô, văn võ đều giỏi. Nhà vốn chỉ có nghề làm ruộng, đến ông mới theo nghiệp bút nghiên. Mới hai mươi tuổi ông đã có tính khẳng khái. Trong làng có người tên là Bùi Công Tiến đỗ tiến sĩ làm lễ ăn mừng, cả làng kéo đến mừng rỡ, chỉ Ngũ Lão không đến.

Bà mẹ Ngũ Lão bảo rằng:

– Con làm thế nào cho bằng người ta thì làm. Nay người ta ăn mừng, cả làng mừng rỡ, sao con không đến mừng một chút?

Phạm Ngũ Lão thưa rằng:

– Thưa mẹ, con chưa làm nên gì để vui lòng mẹ mà con đi mừng người ta thì con lấy làm nhục lắm.

Nhà ở bên cạnh đường cái, có một hôm, Phạm Ngũ Lão ngồi vệ đường vót tre đan sọt. Chợt có Hưng Đạo Vương đi qua để vào kinh, quan quân kéo đi rất đông. Quân đi mở đường thấy Ngũ Lão ngồi xếp bằng tròn bên cạnh đường, quát lên bắt phải đứng dậy. Ngũ Lão cứ ngồi nghiễm nhiên như không nghe tiếng. Quân lính cầm ngọn giáo đâm vào đùi, Ngũ Lão cũng cứ ngồi vững không động mình. Đến lúc xe Hưng Đạo Vương đến nơi, trông thấy thế lấy làm lạ gọi đến hỏi, bấy giờ Ngũ Lão mới biết là có quan quân đi qua, và quân lính đã đâm vào đùi mình.

Hưng Đạo Vương hỏi rằng:

– Nhà thầy kia ở đâu, sao ta đi qua đây mà cứ ngồi chững chàng làm vậy?

Ngũ Lão thưa rằng: là j

– Tôi đang mải nghĩ một việc, cho nên không biết là ngài trẩy qua đây.

Hưng Đạo Vương lấy làm kì, hỏi đến việc học hành kinh sử thì hỏi đâu nói đấy, không sót chỗ nào, ứng đối nhanh như nước chảy.

 
0
Câu 9: (1,0 điểm) Nhận xét về tâm trạng của tác giả trong bài thơ. CHỢ ĐỒNGTháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng,Năm nay chợ họp có đông không?Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.Nếm rượu, tường đền được mấy ông?Hàng quán người về nghe xáo xác,Nợ nần năm hết hỏi lung tung.Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.(Nguyễn Khuyến, NXB Giáo dục, Hà Nội,...
Đọc tiếp

Câu 9: (1,0 điểm) Nhận xét về tâm trạng của tác giả trong bài thơ.

CHỢ ĐỒNG

Tháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng,

Năm nay chợ họp có đông không?

Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.

Nếm rượu, tường đền được mấy ông?

Hàng quán người về nghe xáo xác,

Nợ nần năm hết hỏi lung tung.

Dăm ba ngày nữa tin xuân tới,

Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.

(Nguyễn Khuyến, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1984)

Chú thích:

– Làng Vị Hạ có chợ họp ở trong làng, gọi là chợ Và. Hàng năm cứ đến phiên chợ cuối tháng Chạp (chợ sắm Tết) nhân dân lại dời chợ ra họp ở một cánh ruộng mạ phía sau làng, nên gọi là chợ Đồng. Từ năm 1949, quân Pháp về đóng đồn ở làng Vị Hạ thì chợ Và cũng thôi không họp nữa, và tục họp chợ Đồng vào cuối năm cũng mất.

Nếm rượu, tường đền là một nét đẹp cổ truyền diễn ra trong ba phiên chợ Đồng cuối năm. Các bô lão làng Vị Hạ vẫn ngồi tựa lưng vào tường đền “nếm rượu”, xem thứ rượu nào ngon thì mua để tế lễ Thánh trong dịp Tết và đầu xuân.

5
28 tháng 9 2025

Tâm trạng của tác giả trong bài thơ vừa có nét trầm tư, vừa pha chút lo toan và hồi hộp đón chờ mùa xuân. Qua cảnh chợ Đồng cuối năm với mưa bụi, cái rét còn se lạnh, tác giả cảm nhận được không khí tất bật, ồn ào của người dân chuẩn bị Tết, nhưng đồng thời cũng lo lắng cho những nợ nần, khó khăn của cuộc sống. Tuy vậy, trong lòng vẫn ẩn chứa niềm hy vọng và mong đợi khi nghe tiếng pháo báo hiệu mùa xuân sắp đến. Tâm trạng ấy thể hiện sự hòa quyện giữa thực tại khó khăn và khát khao đổi mới, ấm no trong năm mới.

21 tháng 12 2025

Tâm trạng của tác giả trong bài thơ

- Nỗi buồn bơ vơ cô đơn của một nhà nho bất đắc chí giữa thời cuộc, chỉ có thể đứng nhìn người người đói khổ

- Nhà thơ cũng khao khát cuộc sống có thể tốt đẹp hơn để nhân dân thoát khỏi cảnh nghèo đói hiện tại

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:       CẢNH NGÀY HÈ (Bảo kính cảnh giới – Bài 43)Rồi(1) hóng mát thuở ngày trường,Hoè lục đùn đùn tán rợp giương(2).Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ(3),Hồng liên trì đã tiễn mùi hương(4).Lao xao chợ cá làng ngư phủ(5),Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương(6).Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng(7),Dân giàu đủ khắp đòi(8) phương.(Theo Hợp tuyển...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6.0 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

       CẢNH NGÀY HÈ

 (Bảo kính cảnh giới – Bài 43)

Rồi(1) hóng mát thuở ngày trường,

Hoè lục đùn đùn tán rợp giương(2).

Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ(3),

Hồng liên trì đã tiễn mùi hương(4).

Lao xao chợ cá làng ngư phủ(5),

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương(6).

Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng(7),

Dân giàu đủ khắp đòi(8) phương.

(Theo Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập II – Văn học thế kỉ X – thế kỉ XVII, Sđd)

Chú thích:

(1) Rồi: ở đây là rỗi rãi.

(2) Lục: màu xanh; hoè lục: màu xanh cây hoè; tán rợp giương: tán giương lên che rợp.

(3) Thức (từ cổ): màu vẻ, dáng vẻ. Ý cả câu thơ: cây thạch lựu ở hiên nhà đang phun màu đỏ.

(4) Tiễn mùi hương: ngát mùi hương (tiễn: từ Hán Việt, có nghĩa là dư ra). Ý cả câu thơ: sen hồng trong ao đã ngát mùi hương.

(5) Làng ngư phủ: làng chài lưới.

(6) Dắng dỏi (từ cổ): có nghĩa là inh ỏi. Cầm ve: tiếng ve kêu như tiếng đàn. Lầu tịch dương: lầu (nhà cao) lúc mặt trời sắp lặn.

(7) Dẽ có: lẽ ra nên có. Ngu cầm: thần thoại Trung Quốc kể rằng hai triều vua Đường Nghiêu và Ngu Thuấn là hai triều đại lí tưởng, xã hội thanh bình, nhân dân hạnh phúc. Riêng vua Ngu Thuấn có khúc hát Nam phong, trong đó có câu: Nam phong chi thì hề khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề (Gió nam thuận thì có thể làm cho dân ta thêm nhiều của). Ngu cầm là đàn của vua Ngu Thuấn. Ý cả câu: Hãy để cho ta có đàn của vua Thuấn để đàn một khúc Nam phong.

(8) Đòi: nhiều.

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Bài thơ “Cảnh ngày hè” được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Những hình ảnh thiên nhiên nào được nhắc đến trong bốn dòng thơ đầu?

Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ được dùng trong câu thơ sau?

Lao xao chợ cá làng ngư phủ,

Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

Câu 4. Trong hai dòng thơ cuối, tác giả đã bộc lộ tình cảm, cảm xúc gì?

Câu 5. Chủ đề của bài thơ là gì? Căn cứ vào đâu em xác định như vậy?

Câu 6. Từ niềm vui giản dị mà Nguyễn Trãi tìm thấy trong thiên nhiên ngày hè, em rút ra được bài học gì cho bản thân trong việc giữ gìn tinh thần lạc quan, biết tận hưởng những điều bình dị quanh mình? Hãy viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 dòng) trả lời cho câu hỏi trên.

9
21 tháng 10 2025

Thể thơ: Thất ngôn xen lục ngôn

21 tháng 10 2025

Những hình ảnh thiên nhiên nhắc đến mùa hè

Câu 9: (1,0 điểm) Nhận xét về ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.Đọc văn bản sau và trả lời những câu hỏi bên dưới:LŨ LỤT LÀ GÌ? – NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC HẠI […] Lũ lụt là gì? Có rất nhiều người đang hiểu sai về khái niệm lũ lụt. Thực chất đây là một danh từ ghép, được tạo thành bởi hai từ đơn chỉ hai hiện tượng thiên nhiên vô cùng phổ biến là lũ và lụt. Vì...
Đọc tiếp

Câu 9: (1,0 điểm) Nhận xét về ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.

Đọc văn bản sau và trả lời những câu hỏi bên dưới:

LŨ LỤT LÀ GÌ? – NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC HẠI

[…]

Lũ lụt là gì?

Có rất nhiều người đang hiểu sai về khái niệm lũ lụt. Thực chất đây là một danh từ ghép, được tạo thành bởi hai từ đơn chỉ hai hiện tượng thiên nhiên vô cùng phổ biến là lũ và lụt. Vì thế, để hiểu rõ hơn thì hãy cùng tìm hiểu từng khái niệm một:

– Lũ là hiện tượng ngập lụt, nước chảy xiết có khả năng cuốn trôi nhà cửa, cây cối. Thông thường lũ có tốc độ chảy cao, mang tính bất ngờ và xuất hiện chủ yếu ở các vùng núi cao với địa hình đồi dốc.

[…]

– Lụt là hiện tượng nước ngập trong một vùng đất với một khoảng thời gian nhất định. Lụt có thể do lượng nước lũ quá nhiều khiến vỡ đê hay lượng nước lớn, không có chỗ thoát gây nên tình trạng ngập lụt.

Như vậy, lũ lụt được hiểu một cách đơn giản là hiện tượng mực nước trên sông, hồ quá lớn, quá mức quy định dẫn đến tình trạng ngập úng, nước tràn hoặc gây vỡ đê, trực tiếp tràn vào khu dân cư.

Nguyên nhân gây ra lũ lụt

Lũ lụt xuất hiện bởi rất nhiều nguyên nhân khác nhau, gây nên những thiệt hại cho người dân cả về sức khoẻ lẫn tài sản. Dưới đây là những nguyên nhân chính gây lũ lụt mà bạn nên biết:

Do bão hoặc triều cường

Bão và triều cường xảy ra tạo nên lượng nước lũ lớn, kèm theo đó là hiện tượng sạt lở đất khiến cho đất dâng lên làm tràn ngập nước vùng ven biển. Đó là lí do tại sao ở vùng biển, người ta phải trồng rừng ở phía ngoài đê để hạn chế triều cường, hạn chế tình trạng thiệt hại do lũ lụt gây nên.

Do hiện tượng mưa lớn kéo dài

Mưa lớn kéo dài ở các vùng đồng bằng (như ở các vùng đồng bằng thuộc miền Trung nước ta) khiến cho nước trên các con sông không kịp thoát, gây ra ngập úng. Ngoài ra, mưa lớn kéo dài còn hình thành nên các cơn lũ quét, lũ ống gây ra những thiệt hại nặng nề về người và của.

[…]

Do sự tác động của con người

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan kể trên thì sự tác động của con người cũng là vấn đề gây nên tình trạng lũ lụt hiện nay. Việc chặt phá rừng, khai thác tài nguyên một cách bừa bãi khiến đồi núi bị xói mòn, dễ gây nên tình trạng ngập lụt hay sạt lở đất mỗi khi mùa mưa bão đến.

[…]

Tác hại của lũ lụt

Lũ lụt tác động trực tiếp đến con người, đến hoạt động sinh hoạt hằng ngày của người dân, để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng:

Gây thiệt hại về vật chất

Mỗi cơn lũ đi qua đều càn quét phá huỷ không biết bao nhiêu nhà dân, nương rẫy, giết hại các loại động vật. Ngoài ra, tình trạng bão lũ kéo dài còn khiến cho việc trồng trọt bị ảnh hưởng, các loại cây lương thực vì bị ngập úng mà chết, nguồn thực phẩm trở nên khan hiếm. Có thể nói lũ lụt gây nhiều thiệt hại trực tiếp về vật chất đối với người dân.

Gây thương vong về con người

Không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà lũ lụt còn gây thiệt hại cả về con người, cướp đi sinh mạng của rất nhiều người. Điển hình là lũ lụt sông Dương Tử ở Trung Quốc năm 1911 đã khiến cho 100.000 người chết, hay lũ lụt đồng bằng sông Hồng năm 1971 khiến cho 594 người chết và hơn 100 000 người bị thương nặng. Như vậy, có thể thấy lũ lụt gây thiệt hại nghiêm trọng về người.

[…] 

Là nguyên nhân của nhiều loại mầm bệnh

Việc sinh hoạt trong điều kiện thiếu thốn, xung quanh bị bao phủ bởi nước, rác thải, xác động vật,… sẽ là “mầm mống” cho các loại vi rút tấn công và lây lan bởi vì các loại dịch bệnh lan truyền qua đường nước rất nhanh.

Vì thế, trong điều kiện thiếu thốn, bạn vẫn nên bảo vệ sức khỏe của mình, hạn chế tiếp xúc với nguồn nước ô nhiễm.

[…]

(Theo MƠ KIỀU, khbvptr.vn, 2-11-2020)


2
12 tháng 1

Lũ lụt là một thiên tai rất đáng gờm nó có thể làm nhà cửa ngập nước, có thể đe dọa tính mạng con người

31 tháng 5

Ngôn ngữ chính xác, khoa học: Văn bản sử dụng các thuật ngữ chuyên môn về địa lý và môi trường một cách chuẩn xác để định nghĩa các khái niệm như "lũ", "lụt", "bão", "triều cường".

Diễn đạt rõ ràng, mạch lạc: Các thông tin được trình bày theo cấu trúc phân loại (định nghĩa, nguyên nhân, tác hại), giúp người đọc dễ dàng theo dõi và nắm bắt nội dung.

Giọng văn khách quan, giàu tính thuyết phục: Tác giả sử dụng các số liệu thực tế (ví dụ: số liệu về lũ lụt sông Dương Tử năm 1911 và đồng bằng sông Hồng năm 1971) để minh chứng cho các lập luận về tác hại của thiên tai.

Gần gũi và có tính giáo dục: Bên cạnh việc cung cấp thông tin, ngôn ngữ văn bản còn mang tính hướng dẫn, khuyên nhủ người đọc về trách nhiệm bảo vệ sức khỏe và môi trường.

Câu 9: (1,0 điểm) Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản có ý nghĩa gì?CƠM MÙI KHÓI BẾP Bốn năm từ ngày lấy vợ, Tết này anh mới đưa được cả vợ và con về quê. Từ Sài Gòn về miền Trung không hẳn quá xa, nhưng vì có đứa con nhỏ nên chuyện đi lại khó khăn. Mấy lần trước anh chỉ về một mình, dăm hôm lại trở vào. Lần này cả nhà mới được về quê, cho đứa con ăn Tết quê...
Đọc tiếp

Câu 9: (1,0 điểm) Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản có ý nghĩa gì?

CƠM MÙI KHÓI BẾP

Bốn năm từ ngày lấy vợ, Tết này anh mới đưa được cả vợ và con về quê. Từ Sài Gòn về miền Trung không hẳn quá xa, nhưng vì có đứa con nhỏ nên chuyện đi lại khó khăn. Mấy lần trước anh chỉ về một mình, dăm hôm lại trở vào. Lần này cả nhà mới được về quê, cho đứa con ăn Tết quê nội lần đầu.

[…]

Hôm sau bà lọ mọ dậy từ lúc trời chưa hửng sáng, nhóm lửa rơm, bắc nồi cơm. Thằng cháu nội ba tuổi chạy xuống thấy khói bếp bốc ngùn ngùn, khiếp quá hét toáng lên: “Cháy nhà”.

Anh chị đang ngủ giật mình vùng dậy. Anh bảo nhà đã có bếp gas, mẹ nấu gì thứ rơm đó nữa cho cực. Bà cười: “Tụi bây ăn cơm nồi cơm điện thành phố rồi, về quê mẹ nấu cơm lửa rơm cho thơm mùi đồng mùi rạ. Mà cơm nấu rơm mới có miếng cháy ăn giòn. Mấy hồi anh nhỏ, bữa ăn không có miếng cơm cháy là giãy nãy lên bướng bỉnh chẳng chịu ăn. Nhớ không.”

Trời rạng tưng tửng sáng, thấy khói bay lên len qua mái tranh, anh chợt bùi ngùi. Nhớ ngày xưa còn nhỏ, sáng sớm anh chạy xuống bếp nằm cuộn trong lòng mẹ ngủ nướng thêm một lúc. Thức giấc giở nắp nồi ngửi mùi cơm. Rồi lấy đũa xới hết cơm lên để lột miếng chảy ở đáy rồi ăn trước. Lớn lên vào Sài Gòn lập nghiệp, cưới vợ sinh con ở đấy, xa cái bếp quê dần thành quên. Với lại ở trong đó, đâu có mấy ai ăn sáng ở nhà. Cái bụng cũng “lười” và “yếu” đi, sáng phải bún hoặc cháo mới nuốt nổi. Giờ về thấy cơm, thèm thì thèm thật nhưng ăn chi vô.

Cô con dâu bảo: “Mẹ bày ra nấu bữa sáng làm gì cho cực. Chúng con ra quán ăn miếng là rồi việc”. “Bây nói chi lạ. Ăn uống phải đàng hoàng chớ. Bữa sáng là quan trọng lắm. Không ai thương bằng cơm thương đâu con. Ăn cơm chắc bụng no lâu. Mấy cái thứ bún cháo nước õng ệu, chỉ nhoáng là đói lại liền à.” – Bà vừa san cơm ra chén vừa nói.

Ba chén cơm trắng, đĩa cá đồng kho nghệ. Anh háy mắt qua vợ, ý bảo ăn đi, ăn lấy lòng mẹ một miếng. Chị lại háy mắt qua anh lắc đầu, có mà sức Thánh Gióng mới nuốt trôi. Thằng cu con nhìn chằm chằm chén cơm. Cuối cùng chỉ có anh trệu trạo làm được ba miếng, như là ăn tượng trưng cho mỗi người một miếng. Tranh thủ lúc mẹ đi ra giếng, anh lùa cả ba chén cơm trắng vào lại nồi.

Sáng hôm sau bà lại dậy sớm. Lại nhóm bếp rơm nấu cơm. Xong bữa nồi cơm không vơi được là mấy, vẫn đầy như lòng mẹ. Anh gắng ăn được nửa chén. Chén lòng san đôi cho mẹ cho vợ. Anh dối mẹ chở vợ con đi xem chợ Tết, đi thăm thú làng quê, thực chất là để ghé quán cho vợ con ăn bún ăn cháo.

Anh tự nhủ sáng mai phải thức sớm ngồi nấu bếp với mẹ như xưa. Tự nhủ sáng mai phải ăn chén cơm đầy với mẹ, nhai một miếng cơm cháy giòn thơm. Nhưng lâu ngày giờ về quê gặp lại bạn bè người thân, chỗ này mời chén rượu, chỗ kia mời bữa cơm. Cơm rượu quê hàn huyên câu chuyện ngày dài tới tận khuya. Hôm sau thức dậy đã sáng trọt sáng trời, cổ họng khô khốc không ăn nổi cơm dẻo, huống hồ là miếng cơm cháy.

Chưa hết Tết, mới ngày mùng bốn anh lại phải đưa vợ con vào Sài Gòn. Bà mẹ dậy sớm làm gà, nấu cơm. Vẫn một mình bà cặm cụi với cái bếp. Bà xúc đầy cơm vào chiếc ca mèn. Gà luộc cho vào hộp đựng. “Bây đem lên xe mà ăn. Cơm dọc đường dọc sá không ngon đâu”.

Con cháu lên taxi rồi bà còn dặn theo: “Vào trong nhớ ăn uống đàng hoàng nghe bây. Đừng bỏ bữa sáng. Không ai thương bằng cơm thương”.

Vào tới Sài Gòn ca mèn cơm vẫn còn một nửa. Vợ định đem đi đổ. Anh can, bảo để đấy, phơi khô cất giữ làm kỷ niệm.

*

Qua tháng ba nghe tin mẹ bệnh, anh tức tốc về nhà. Nằm trên giường, gặp con, câu đầu tiên bà hỏi: “Con ăn chi chưa. Mẹ không bắc cơm được. Thôi ra đầu chợ ăn tạm. Bữa nào khỏe mẹ nấu cơm cho ăn. Tội nghiệp”.

Nhưng mẹ không khỏe nữa, yếu dần, được thêm hai bữa thì nhắm mắt.

Đưa mẹ ra đồng xong, về nhà nhìn chén cơm trắng đặt trên bàn thờ, anh thấy nhói lòng. Ân hận. Thế là hết cơ hội được ăn với mẹ một chén cơm sáng thật đầy, để nghe mẹ nói câu “Không ai thương bằng cơm thương”. Tiếc nuối. Thèm miếng cơm cháy mẹ nấu quá. Giòn và thơm, mùi hương đồng mùi nước quê, cả mùi khói bếp. Chỉ có mẹ mới nấu được miếng cơm cháy ngon như thế.

Hôm lên đường vào Sài Gòn, anh dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ. Anh tự mình vo gạo, tự mình nhóm bếp rơm. Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói…

(Theo Hoàng Công Danh, Chuyến tàu vé ngắn, NXB Trẻ, trang 49 – 54 2016, TPHCM)

3
28 tháng 9 2025

Câu 9:

Theo em, hình ảnh khói bếp ở cuối văn bản mang ý nghĩa sâu sắc, tượng trưng cho tình mẫu tử thiêng liêng, ấm áp và chan chứa yêu thương. Khói bếp không chỉ là khói từ bếp lửa quê hương, mà còn là hình ảnh gợi nhớ về mẹ, về những bữa cơm bình dị, chân thành mà đầy ắp tình thương. Đó là biểu tượng của những ký ức tuổi thơ không thể nào quên, là nơi khởi đầu của yêu thương, chăm sóc và hy sinh lặng thầm. Hình ảnh khói bếp đã đánh thức nỗi ân hận, tiếc nuối của người con, đồng thời cũng nhắc nhở mỗi chúng ta hãy biết trân trọng những yêu thương giản dị khi còn có thể.

18 tháng 12 2025

-gợi nhớ những kỷ niệm tuổi thơ: khỏi bếp gắn với buổi sáng quây quần bên mẹ với mùi cơm rơm cơm cháy thơm giòn

-biểu tượng của tình mẹ : khỏi bếp là hình ảnh ẩn dụ cho tình thương ấm áp bền bỉ lặng lẽ mà mẹ dành cho con

-biểu hiện day dứt và tình cảm sâu nặng: khói bếp như còn vương mãi trong ký ức gọi sự tri ân và nỗi nhớ khôn nguôi về mẹ

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)Đọc văn bản sau:NHỚ HUẾ QUÊ TÔISông núi vươn dài tiếp núi sôngCò bay thẳng cánh nối đồng khôngCó người bảo Huế xa, xa lắmNhưng Huế quê tôi ở giữa lòngMười một năm trời mang Huế theoĐèo cao nắng tắt bóng cheo leoGiọng hò mái đẩy vờn mây núiMan mát sông Hương lướt đỉnh đèoTôi gặp bao người xứ Huế xaĐèn khuya thức mãi chí xông phaMở đường giải...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

NHỚ HUẾ QUÊ TÔI

Sông núi vươn dài tiếp núi sông
Cò bay thẳng cánh nối đồng không
Có người bảo Huế xa, xa lắm
Nhưng Huế quê tôi ở giữa lòng

Mười một năm trời mang Huế theo
Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo
Giọng hò mái đẩy vờn mây núi
Man mát sông Hương lướt đỉnh đèo

Tôi gặp bao người xứ Huế xa
Đèn khuya thức mãi chí xông pha
Mở đường giải phóng về quê mẹ
Dựng khắp non sông bóng xóm nhà

Có bao người Huế không về nữa
Gửi đá ven rừng chép chiến công
Có mồ liệt sĩ nâng lòng đất
Buồm phá Tam Giang gió thổi lồng

Nặng trĩu trăm năm bóng cổ thành
Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh
Cờ sao ngày ấy buồn cung cấm
Sông nước xôn xao núi chuyển mình

Bao độ thu về, thu lại qua
Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa
Mỗi lần phượng nở rung màu đỏ
Càng giục canh sương rộn tiếng gà.

Hà Nội, thu, năm 1936
(Thanh Tịnh, Thơ ca, NXB Quân đội nhân dân, 1980)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Bài thơ “Nhớ Huế quê tôi” được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất.

Câu 3. Phân tích sắc thái nghĩa của từ “nhuộm” trong dòng thơ “Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh”.

Câu 4. Trình bày cảm hứng chủ đạo của bài thơ? Căn cứ vào đâu em xác định như vậy?

Câu 5. Phân tích mạch cảm xúc của bài thơ trên.

Câu 6. Từ câu thơ “Có bao người Huế không về nữa/ Gửi đá ven rừng chép chiến công”, em hãy viết một đoạn văn (7 – 10 dòng) nêu suy nghĩ của mình về sự hi sinh cao cả của những con người đã ngã xuống cho độc lập, tự do; đồng thời liên hệ trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống ấy.

1
26 tháng 9 2025

Trả lời các yêu cầu Đọc hiểu Câu 1. Thể thơ Bài thơ “Nhớ Huế quê tôi” được viết theo thể thơ thất ngôn (bảy chữ) với các khổ thơ bốn câu, có cách gieo vần chủ yếu là vần chân. Câu 2. Từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương trong khổ thơ thứ nhất Những từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất là: +Sông núi vươn dài +Núi sông +Cò bay thẳng cánh +Đồng không +Huế +Huế quê tôi ở giữa lòng Câu 3. Phân tích sắc thái nghĩa của từ “nhuộm” Trong dòng thơ “Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh”: -Nghĩa đen: "Nhuộm" là làm cho vật khác thấm màu, đổi màu. -Sắc thái nghĩa trong câu thơ: Từ "nhuộm" được dùng với nghĩa chuyển, gợi lên sự mất mát, đau thương, sự đổ máu, hy sinh to lớn và dữ dội. Màu "máu đỏ" không chỉ đơn thuần là màu sắc mà còn là sự sống, là sinh mệnh đã ngã xuống, hòa quyện, thấm đẫm vào màu "đồng xanh" (màu của quê hương, của sự sống, của hòa bình). Từ đó, nó khắc họa sâu sắc cái giá phải trả bằng máu xương của bao thế hệ người dân Huế, những người đã chiến đấu vì độc lập, tự do của quê hương. Câu 4. Cảm hứng chủ đạo và căn cứ xác định -Cảm hứng chủ đạo: Tình yêu quê hương tha thiết và niềm tự hào sâu sắc về truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường của con người và mảnh đất Huế. -Căn cứ xác định: +Tình cảm cá nhân: Nhan đề "Nhớ Huế quê tôi" và hình ảnh "Huế quê tôi ở giữa lòng" (khổ 1), "mang Huế theo" (khổ 2) thể hiện sự gắn bó, khắc khoải. Niềm tự hào về truyền thống cách mạng: Bài thơ ngợi ca những người con Huế "thức mãi chí xông pha", "Mở đường giải phóng về quê mẹ", sự hy sinh cao cả ("máu đỏ nhuộm đồng xanh", "Gửi đá ven rừng chép chiến công"). Câu 5. Phân tích mạch cảm xúc Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo một trình tự hồi tưởng và tự hào về quê hương Huế, gắn liền với những kỉ niệm và truyền thống cách mạng: -Khổ 1 (Khẳng định tình cảm): Mở đầu bằng lời khẳng định tình cảm mãnh liệt, sâu đậm: Huế không xa xôi mà nằm "ở giữa lòng" tác giả, là sự hòa quyện của sông núi và đồng không. -Khổ 2 (Hồi tưởng): Cảm xúc chuyển sang hồi tưởng những kỉ niệm gắn bó, gần gũi như sông Hương, giọng hò mái đẩy, mang theo Huế vượt qua mọi không gian cách trở (Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo). -Khổ 3 & 4 (Tự hào về người Huế và sự hy sinh): Mạch cảm xúc vỡ òa thành niềm tự hào khi nghĩ về những người con xứ Huế kiên cường, bất khuất, có "chí xông pha", dấn thân "Mở đường giải phóng". Đặc biệt, xúc động và trân trọng những hy sinh cao cả ("Có bao người Huế không về nữa", "máu đỏ nhuộm đồng xanh") cho độc lập, tự do. -Khổ 5 (Nhắc lại lịch sử đau thương): Cảm xúc lắng đọng, trầm buồn khi nhắc đến những năm tháng đau thương, máu lửa của lịch sử Huế ("bóng cổ thành", "máu đỏ nhuộm đồng xanh"), nhưng vẫn ánh lên niềm hy vọng, khí thế chuyển mình của đất nước (Sông nước xôn xao núi chuyển mình). -Khổ 6 (Khắc khoải và chờ mong): Kết thúc bằng cảm xúc khắc khoải, nhớ thương quê mẹ ("Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa") xen lẫn sự chờ mong, thôi thúc về một ngày trở về, hoàn thành sứ mệnh (hình ảnh phượng nở và tiếng gà giục giã). Mạch cảm xúc hồi tưởng - tự hào - trầm hùng - khắc khoải tạo nên bức chân dung thơ mộng nhưng cũng đầy bi tráng về mảnh đất và con người Huế. Câu 6. Đoạn văn suy nghĩ về sự hy sinh và trách nhiệm của thế hệ trẻ Câu thơ “Có bao người Huế không về nữa/ Gửi đá ven rừng chép chiến công” gợi lên trong tôi sự xúc động và lòng biết ơn vô hạn đối với những thế hệ đã hy sinh vì Tổ quốc. Hình ảnh "Gửi đá ven rừng chép chiến công" là một biểu tượng bi tráng về sự hóa thân bất tử: các anh hùng đã ngã xuống, biến mình thành một phần của đất nước, dùng sự hy sinh của mình như những dòng chữ khắc vào lịch sử, lưu giữ mãi chiến công vĩ đại. Sự hy sinh ấy là cao cả vì nó đánh đổi cả tuổi xuân, sinh mạng để đổi lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Thế hệ trẻ hôm nay, khi được sống trong hòa bình, càng nhận rõ trách nhiệm của mình. Đó là ghi nhớ công ơn, trân trọng giá trị của tự do và phát huy truyền thống kiên cường. Chúng ta phải nỗ lực học tập, lao động, giữ gìn đạo đức, và xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại. Đó chính là cách tốt nhất để tiếp nối, chép tiếp những trang sử vàng mà cha ông đã đổ máu xương để viết nên. Deep Research

28 tháng 9 2025

Sách nào thế ạ ❓️❓️❓️❓️

28 tháng 9 2025

Em đang dùng sách kết nối 😁😁

28 tháng 9 2025

Vào dịp nghỉ hè năm ngoái, em đã có một chuyến đi tham quan di tích lịch sử rất đáng nhớ cùng gia đình. Điểm đến của chúng em là Khu di tích lịch sử Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội, nơi lưu giữ nhiều giá trị văn hóa và truyền thống hiếu học của dân tộc.


Khi đến Văn Miếu, em cảm nhận được không khí trang nghiêm và cổ kính qua những cổng tam quan, các mái đình cong vút và những bức bia đá khắc tên các trạng nguyên nổi tiếng. Em được bố mẹ giới thiệu về lịch sử của Văn Miếu – Quốc Tử Giám, nơi từng là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, cũng là nơi ghi dấu sự phát triển của giáo dục nước nhà qua nhiều thế kỷ.


Điều làm em ấn tượng nhất là khu vực bia tiến sĩ với hàng trăm tấm bia được đặt trang trọng trên những con rùa đá, tượng trưng cho trí tuệ và sự bền bỉ. Em còn được tham gia viết thư pháp và nghe hướng dẫn viên kể nhiều câu chuyện thú vị về các danh nhân, những nhà khoa học tài giỏi của nước ta.


Chuyến đi đã giúp em hiểu thêm về truyền thống hiếu học, lòng tự hào dân tộc và ý nghĩa của việc giữ gìn các giá trị văn hóa. Em mong rằng mình sẽ học tập chăm chỉ để không phụ lòng các bậc tiền nhân và góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.

Trong chuyến thực tế vừa qua, em đã có cơ hội đến tham quan Văn Miếu-Quốc Tử Giám, trường đại học đầu tiên của nước ta. chuyến đi này không chỉ mở mang tầm mắt mà còn để lại trong em những ấn tượng vô cùng sâu sắc.

Ngay từ khi bước qua cổng chính, em đã bị ấn tượng bởi không gian cổ kính, tôn nghiêm và tách biệt hẳn với sự ồn ào của phố Thị. giữa khuôn viên là Khuê Văn các với kiến trúc lầu vuông tám mái, bốn cửa tròn tượng trưng cho các vì sao lấp lánh, soi bóng xuống hồ Thiên Quang tỉnh trong vắt. đi sâu vào bên trong, em được tận mắt chiêm ngưỡng 82 bia tiến sĩ bằng đá được đặt trên lưng rùa, nơi khắc ghi danh tính của những bậc Hiền tài xưa. khi nghe cô hướng dẫn viên thuyết minh về lịch sử khoa bảng và tinh thần hiếu học của cha ông, trong lòng em trào dâng một niềm tự hào và xúc động mãnh liệt. em và các bạn cũng đã vào khu điện thờ để thắp hương, bày tỏ lòng thành kính trước thầy giáo Chu Văn An và các vị Tiên thánh.

Chuyến tham quan Văn miếu- Quốc Tử giám là một kỷ niệm vô giá đối với em. trở về sau chuyến đi, em tự hứa với bản thân sẽ luôn cố gắng học tập thật tốt để xứng đáng với truyền thống hiếu học ngàn năm của dân tộc

 Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:    “Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường.    Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.”1. Nêu phương thức biểu đạt của...
Đọc tiếp

 Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

    Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỉ niệm mơn man của buổi tựu trường.

    Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.”

1. Nêu phương thức biểu đạt của đoạn văn trên?

2. Chỉ ra và phân tích tác dụng của 1 hình ảnh so sánh được sử dụng trong đoạn văn đó.

3. Đọc toàn bộ truyện ngắn, em thấy những kỉ niệm về buổi tựu trường đầu tiên nhà văn miêu tả theo trình tự chủ yếu nào?

4. Em hãy viết đoạn văn khoảng 5-6 câu nói về diễn biến cảm xúc của nhân vật “tôi” vào “Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi ấu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp”. 

 
1
8 tháng 9 2021

kjhijppppppppppppppppppjm