K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

a. Mở đoạn ​Giới thiệu vài nét về tác giả Phạm Tiến Duật: Gương mặt tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ thời chống Mỹ, giọng thơ ngang tàng, trẻ trung. ​Giới thiệu bài thơ: "Bài thơ về tiểu đội xe không kính" (1969) là tác phẩm đặc sắc khắc họa hình ảnh những chiếc xe độc đáo và người lính lái xe Trường Sơn. ​Nêu cảm nghĩ chung: Bài thơ gây ấn tượng mạnh bởi tinh thần lạc quan, bất chấp hiểm nguy và ý chí chiến đấu vì miền Nam. ​b. Thân đoạn ​Mạch cảm xúc: Đi từ những khó khăn thực tế của chiến tranh qua hình ảnh chiếc xe không kính đến tư thế ung dung, tinh thần lạc quan và cuối cùng hội tụ ở ý chí yêu nước mãnh liệt. ​Cảm nghĩ về nội dung: ​Hình ảnh những chiếc xe không kính: Được miêu tả trần trụi qua ngôn ngữ gần với văn xuôi ("không kính", "không đèn", "không mui"). Qua đó thấy được sự khốc liệt của chiến trường bom đạn. ​Tư thế và tinh thần người lính: ​Ung dung, tự tại: "Ung dung buồng lái ta ngồi / Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng". Cái nhìn thẳng thể hiện bản lĩnh kiên cường, không chút sợ hãi. ​Bất chấp gian khổ: Những cấu trúc câu "không có... ừ thì..." cho thấy thái độ coi thường khó khăn. Bụi phun, mưa xối chỉ làm tăng thêm vẻ tếu táo, yêu đời: "Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha". ​Tình đồng chí gắn bó: Những cái bắt tay qua cửa kính vỡ, những bữa cơm chung bát đũa tạo nên sức mạnh gia đình trong chiến trận. ​Ý chí chiến đấu: Xe vẫn chạy vì phía trước là miền Nam, vì trong xe có "một trái tim". Trái tim là biểu tượng của lòng yêu nước và sức mạnh tinh thần thắng thế vật chất. ​Cảm nghĩ về nghệ thuật: ​Ngôn ngữ giàu tính khẩu ngữ, tự nhiên, khỏe khoắn đậm chất lính. ​Giọng điệu ngang tàng, tinh nghịch nhưng cũng đầy sâu sắc. ​Hình ảnh thơ sáng tạo, đối lập giữa cái thiếu thốn phụ tùng và sự đủ đầy của tâm hồn. ​c. Kết đoạn: Cảm nghĩ về chủ đề bài thơ ​Bài thơ là bài ca về vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mỹ: dũng cảm, lạc quan và giàu lòng yêu nước. ​Khẳng định giá trị của tác phẩm và sự khâm phục đối với thế hệ cha anh.

1
3 tháng 3

Bởi tinh thần của các anh đồng chí

12 tháng 12 2025

Được rồi, mình sẽ viết một đoạn văn ngắn gọn, súc tích, có liên hệ từ hình ảnh người lính lái xe Trường Sơn trong bài thơ **“Bài thơ về tiểu đội xe không kính”** để nêu suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ ngày nay đối với đất nước: --- Trong *Bài thơ về tiểu đội xe không kính*, hình ảnh những người lính lái xe Trường Sơn hiện lên với tinh thần dũng cảm, lạc quan, bất chấp gian khổ, hi sinh để bảo vệ Tổ quốc. Từ sự kiên cường ấy, thế hệ trẻ hôm nay càng phải ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với đất nước. Nếu như cha anh đã hiến dâng tuổi trẻ cho độc lập, tự do, thì chúng ta – những người trẻ trong thời bình – cần sống có lý tưởng, chăm chỉ học tập, rèn luyện đạo đức, tích cực lao động sáng tạo để xây dựng đất nước giàu mạnh. Đồng thời, thế hệ trẻ phải biết bảo vệ chủ quyền, giữ gìn văn hóa dân tộc và đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực trong xã hội. Thực hiện tốt trách nhiệm ấy chính là cách để chúng ta tiếp nối truyền thống hào hùng của dân tộc, xứng đáng với sự hi sinh của những người lính năm xưa. --- Bạn có muốn mình mở rộng đoạn này thành **bài văn nghị luận xã hội hoàn chỉnh ba phần (mở–thân–kết)** để dễ dùng trong bài thi không?

PHẦN ĐỌC – HIỂU: (3.0 điểm)Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:   Tháng 8 năm 1942, với danh nghĩa là đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh và Phân bộ quốc tế phản xâm lược của Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế. Sau nửa tháng đi bộ, đến Túc Vinh, Quảng Tây, Người bị chính quyền...
Đọc tiếp

PHẦN ĐỌC – HIỂU: (3.0 điểm)

Đọc kĩ đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:

   Tháng 8 năm 1942, với danh nghĩa là đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh và Phân bộ quốc tế phản xâm lược của Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh lên đường sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của quốc tế. Sau nửa tháng đi bộ, đến Túc Vinh, Quảng Tây, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ. Trong suốt 14 tháng ở tù (từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943), tuy bị đày ải vô cùng cực khổ, Hồ Chí Minh vẫn làm thơ. Người đã sáng tác 133 bài thơ bằng chữ Hán ghi trong một cuốn sổ tay mà Người đặt tên là Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù)

Về nội dung:

         Tập thơ phản ánh chân thực bộ mặt xấu xa, đen tối của chế độ nhà tù cũng như xã hội Trung Quốc thời Tưởng Giới Thạch.

      Tập thơ thể hiện tâm hồn phong phú, cao đẹp của người tù vĩ đại. về phương diện này, có thể coi "Nhật kí trong tù" như một bức chân dung tự họa con người tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chân dung Hồ Chí Minh trong tập thơ là hình ảnh nhà ái quốc vĩ đại có dũng khí lớn, lúc nào cũng nóng lòng sốt ruột hướng về Tổ quốc, khát khao tự do, là chiến sĩ cộng sản kiên cường bất khuất. Bị đày đọa trong lao tù, Người vẫn ung dung, tự tại, tràn đầy tinh thần lạc quan. Chân dung Hồ Chí Minh còn là hình ảnh bậc đại nhân có tình thương yêu bao la, thấu hiểu cảnh ngộ của mọi kiếp người, nhạy cảm với niềm vui, nỗi đau của con người. Tâm hồn Hồ Chí Minh nhạy cảm với mọi biến thái của thiên nhiên. Tập "Nhật kí trong tù" bộc lộ cốt cách của một thi nhân, một nghệ sĩ lớn.

Về mặt nghệ thuật : Là tác phẩm được đánh giá cao thể hiện vẻ đẹp phong cách nghệ thuật thơ Hồ chí minh nổi bật là sự kết hợp hài hòa giữa thơ cổ điển và hiện đại trong toàn bộ tác phẩm.

 Cảm mến trước tài năng và tâm hồn Bác, khi đọc tập thơ, nhà thơ Hoàng Trung Thông có viết:

Tôi đọc trăm bài trăm ý đẹp

     Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh

  Vần thơ của Bác vần thơ thép

     Mà vẫn mênh mông bát ngát tình.

a.Xác định phương thức biểu đạt chính và nội dung của đoạn trích? (1.0 điểm)

b.(2.0 điểm) Em đã đọc, đã học những bài thơ nào trong tập thơ này? Bài học sâu sắc của bản thân qua những bài thơ ấy. (Gạch ý)

PHẦN LÀM VĂN: (7.0 điểm)

 Viết bài văn trình bàycảm nhận của em về tình yêu thiên nhiên và tinh thần lạc quan, phong thái ung dung của Bác Hồ được thể hiện qua hai bài thơ trên

1
24 tháng 3 2020

Nguyễn khánh

9 tháng 5 2017

Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 19-5-1890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và mất ngày 2-9-1969 tại Hà Nội.

Người sinh ra trong một gia đình: Bố là một nhà nho yêu nước, nguồn gốc nông dân; mẹ là nông dân; chị và anh đều tham gia chống Pháp và bị tù đày.

Ngày 5-6-1911, Người ra nước ngoài, làm nhiều nghề, tham gia cuộc vận động cách mạng của nhân dân nhiều nước, đồng thời không ngừng đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin con đường giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân các nước thuộc địa. Năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua. Năm 1921, người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp; xuất bản tờ báo Người cùng khổ ở Pháp (1922). Năm 1923, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân. Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là Uỷ viên thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam. Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức châu á, Xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường cách mệnh (1927).

Năm 1925, Người thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức "Cộng sản đoàn" làm nòng cốt cho Hội đó, đào tạo cán bộ Cộng sản để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam.

Ngày 3-2-1930, Người chủ tọa Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long (gần Hương Cảng). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng do chính Người soạn thảo. Người ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi Đảng Lao động Việt Nam và nay là Đảng Cộng sản Việt Nam ).

Từ năm 1930 đến 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động cho sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam của các dân tộc bị áp bức khác trong những điều kiện vô cùng gian khổ và khó khăn.

Năm 1941, Người về nước, triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định đường lối cứu nước, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh Hội (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, chính sách căn cứ địa, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) thắng lợi, ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946).

Cùng với Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam phá tan âm mưu của đế quốc, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng.

Ngày 19-12-1946, người kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám.

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (1954).

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955) Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ; lãnh đạo sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng Mácxít-Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.

Bài thơ được viết vào tháng 2/1941 tại hang Pác Bó, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Nhan đề bài thơ: Tức cảnh là ngắm cảnh mà có cảm xúc, nảy ra tứ thơ, lời thơ. Tức cảnh sinh tình là ngắm cảnh mà có cảm xúc muốn làm thơ. Bài thơ được viết theo thể thơ truyền thống: Thất ngôn tứ tuyệt. Kết cấu: Ba câu đầu là tả cảch sinh hoạt vật chất của Bác ở Pác Bó. Câu kết phát biểu cảm xúc và suy nghĩ của Người.

Sau ba mươi năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài, tháng 2-1941 Bác Hồ trở về Tổ quốc, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở trong nước. Khi đó, Người sống và làm việc trong một điều kiện hết sức gian khổ: ở trong hang Pác Bó - một hang núi nhỏ thuộc huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng; với những sinh hoạt hằng ngày rất đạm bạc. Bài thơ Tức cảnh Pác Bó là một trong những tác phẩm Người sáng tác trong thời gian này.

Hai tác phẩm trên đã khắc họa rõ nét hình ảnh người chiến sĩ dù lâm vào cảnh tù đày vẫn giữ tư thế hiên ngang, giữ vững khí phách của người chiến sĩ cách mạng, làm nên một phong thái ung dung giữa muôn trùng khó khăn của cuộc sống. Giọng thơ trong hai bài thơ này thể hiện sự coi thường khó khăn gian khổ pha lẫn chút tự hào:Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưuChạy mỏi chân thì hẵng ở...
Đọc tiếp

Hai tác phẩm trên đã khắc họa rõ nét hình ảnh người chiến sĩ dù lâm vào cảnh tù đày vẫn giữ tư thế hiên ngang, giữ vững khí phách của người chiến sĩ cách mạng, làm nên một phong thái ung dung giữa muôn trùng khó khăn của cuộc sống. Giọng thơ trong hai bài thơ này thể hiện sự coi thường khó khăn gian khổ pha lẫn chút tự hào:
Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu
Chạy mỏi chân thì hẵng ở tù.
Chỉ có một ý chí kiên định, một bản lĩnh vững vàng thì mới dám coi thường gian khổ nơi chốn tù đày, coi ở tù như một chuyện bình thường, là chốn trú ngụ khi đường đời mệt mỏi. Từ suy nghĩ ấy đã toát lên tư thế của người chiến sĩ cách mạng, họ không bị phụ thuộc mà vẫn làm chủ bản thân mình, sự nghiệp cách mạng vẫn được họ theo đuổi cho dù có trắc trở, gian truân. Coi những thử thách của nhà tù là cơ hội cho người chiến sĩ rèn luyện bản thân, biến nhà tù thành nơi học tập, thể hiện khí phách của người làm trai:

Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn
Lừng lẫy làm cho lở núi non

Hình ảnh một con người hiện lên giữa nhà tù Côn Lôn thật hiên ngang, trong tư thế ngẩng cao đầu. Dù bị giam cầm, bị khổ sai nhưng vẫn “lừng lẫy”, công việc đập đá nặng nhọc, vất vả nhưng đối với người chiến sỹ cách mạng nó chỉ là việc “con con”. Người tù bỗng trở nên hùng vĩ, to lớn, mang tầm vóc vĩ đại.

Như vậy ngay từ đầu bài thơ, tác giả như ném một tiếng thét, tiếng lòng đầy sức sống vào giữa chốn ngục tù tăm tối; khắc họa thành công người con cách mạng. Đây cũng chính là cảm hứng chính của bài thơ. Hành động đập đá được Phan Châu Trinh tái diễn rất chân thực, sinh động và không kém phần hào hùng. Nhịp thơ cứ thể dẫn ra, dồn dập:

Xách búa đánh tan năm bảy đống
Ra tay đập bể mấy trăm hòn

Ba câu thơ tiếp theo, qua những hình ảnh chân thực diễn tả công việc nặng nhọc (khai thác đá) tác giả đã khắc họa thành những hình ảnh biểu trưng cho tầm vóc sức mạnh dời non lấp bể, kinh thiên động địa của nhân vật trữ tình. Những hành động mạnh mẽ cho phép ta hình dung ra hình ảnh người dũng sĩ với sức vóc thần kỳ đang xung trận: “xách búa”, “ra tay”; và “lừng lẫy” những chiến công “lở núi non”, “đánh tan năm bảy đống”, “đập bể mấy trăm hòn”. Những từ ngữ cực tả sức mạnh dũng mãnh đã làm nổi bật hình tượng con người trong tư thế ngạo nghễ, lớn ngang tầm vũ trụ. Giữa không gian biển trời bao la sừng sững một tượng đài kết bằng những hình khối phi thường.

Cá tính mạnh mẽ, hiên ngang của người chiến sỹ ấy không chỉ dừng lại ở đó mà còn được tác giả tái hiện qua khí phách:

 

Tháng ngày bao quản thân sành sỏi
Mưa nắng càng bền dạ sắt son

Hai câu thơ sử dụng thành công biện pháp đối lập thường thấy trong thơ ca truyền thống "tháng ngày" - "mưa nắng", "thân sành sỏi" - "dạ sắt son" với giọng thơ tự nhiên như lời tự bạch tác giả cho thấy sức chịu đựng dẻo dai, bền bỉ và ý chí chiến đấu sắt son, kiên cường của những người cách mạng.

Dường như, những khó khăn, gian nan trên con đường hoạt động cách mạng không những không thể làm cho người cách mạng chùn bước, bỏ cuộc mà ngược lại nó như là một liều thuốc để họ có thêm ý chí, thêm nghị lực và để họ rèn luyện chính bản thân mình.

Hai câu thơ khép lại bài thơ như một lời tự ý thức sâu sắc về trách nhiệm của những người cách mạng đối với sự nghiệp của bản thân mình. Hơn ai hết, họ hiểu được đấy là công việc khó khăn, gian truân và vất vả nhưng rất đỗi vĩ đại và cao quý, thiêng liêng. Đồng thời, hai câu thơ cũng cho chúng ta thấy thái độ coi thường tù ngục và những khó khăn, vất vả trên con đường hoạt động cách mạng của họ.

Những kẻ vá trời khi lỡ bước
Gian nan chi kể việc con con

 bài thơ Đập đá ở Côn Lôn với việc sử dụng thể thơ truyền thống, bút pháp lãng mạn và giọng thơ hào hùng đã xây dựng thành công hình tượng người chiến sĩ cách mạng với tư thế hiên ngang, ngang tàn, coi thường những gian truân, vất vả và dù rơi vào hoàn cảnh gian nan vẫn không bỏ cuộc, không nản chí, sờn lòng.

 

Khí phách hào hùng, tư thế hiên ngang và ý chí kiên định của hai nhà cách mạng họ Phan xứng đáng tiêu biểu cho hình tượng người chiến sĩ cách mạng đầu thế kỉ XX. Yêu nước, bất khuất khi còn được tự do là điều thường gặp nhưng khi rơi vào tay giặc vẫn thể hiện bản chất ấy thì thật đáng khâm phục và tự hào. Truyền thống dân tộc ta đã góp phần tôi luyện thêm

0
Khi đọc đoạn thơ, em cảm nhận được vẻ đẹp giản dị mà đầy sức sống của Tổ quốc qua cái nhìn đầy xúc cảm của nhà thơ Tố Hữu. Những hình ảnh “rừng cọ đồi chè”, “đồng xanh ngào ngạt” không chỉ miêu tả cảnh quan thiên nhiên mà còn phản ánh tinh thần lao động cần cù của con người Việt Nam. Âm thanh “hò ô tiếng hát” vang lên như lời ca yêu đời giữa không gian lao động...
Đọc tiếp

Khi đọc đoạn thơ, em cảm nhận được vẻ đẹp giản dị mà đầy sức sống của Tổ quốc qua cái nhìn đầy xúc cảm của nhà thơ Tố Hữu. Những hình ảnh “rừng cọ đồi chè”, “đồng xanh ngào ngạt” không chỉ miêu tả cảnh quan thiên nhiên mà còn phản ánh tinh thần lao động cần cù của con người Việt Nam. Âm thanh “hò ô tiếng hát” vang lên như lời ca yêu đời giữa không gian lao động sôi nổi. Em đặc biệt ấn tượng với hình ảnh “chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca” – một chi tiết rất đời thường nhưng lại gợi ra cảm giác yên bình và gắn bó tha thiết với quê hương. Đoạn thơ khiến em thấy đất nước mình không chỉ đẹp bởi cảnh sắc, mà còn đẹp bởi con người và lịch sử. Tình yêu nước vì thế mà lớn dần trong lòng em qua từng câu thơ dung dị mà sâu lắng.

0
7 tháng 10 2018

Đáp án

1 – d; 2 – a; 3 – c; 4 - b