Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
tác giả Nguyễn Bính đã khắc họa hai vẻ đẹp đối lập mà thống nhất của con người và mảnh đất Việt Nam qua hai khổ thơ trong bài "Quê hương". Khổ đầu tiên mở ra không gian văn hóa đậm chất thơ mộng, nơi con người gắn bó với âm nhạc và thi ca từ khi còn trong bụng mẹ.Hình ảnh "tiếng hát, "làm thơ" không chỉ thể hiện sự lãng mạn, hồn hậu mà còn là nét tính cách đặc trưng của người dân quê. Cánh cò đưa võng, vốn là hình ảnh bình dị, nay trở thành biểu tượng nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ trong một không gian yên bình. tuy nhiên, khi quê hương lâm nguy, vẻ đẹp hiền hòa bỗng chốc hóa thành sức mạnh quật cường. Khổ thơ thứ hai chuyển sang giọng điệu mạnh mẽ, hào hùng. Tre làng, vốn thân thuộc, nay "xả thân làm ngọn mác, mũi chông", trở thành vũ khí chiến đấu. Con người, từ "trai gái thôn Đông, xóm Bắc" hiền lành, chất phác, đã "thoắt vươn vai thành những anh hùng".Hai khổ thơ này bổ sung cho nhau, tạo nên cái nhìn toàn diện về quê hương: vừa có vẻ đẹp trữ tình, thanh bình trong cuộc sống thường nhật, vừa chứa đựng sức mạnh tiềm tàng,tinh thần kiên cường khi đối diện với kẻ thù
Hai khổ thơ trong bài "Quê hương" của Nguyễn Bính thể hiện tình cảm sâu sắc của tác giả đối với mảnh đất quê hương, đồng thời ca ngợi những phẩm chất đặc biệt của con người nơi đây.
Khổ thơ đầu tiên gợi ra hình ảnh một quê hương gắn liền với những âm thanh của làn điệu dân ca, là nơi mà trong "bụng mẹ" đã biết mê tiếng hát. Đây là một hình ảnh đầy chất thơ, cho thấy sự hòa quyện giữa con người và quê hương, nơi mà truyền thống văn hóa, đặc biệt là văn học, đã ăn sâu vào tiềm thức từ những ngày đầu đời. Tiếng hát quê hương không chỉ là biểu tượng của sự ấm áp, yêu thương mà còn phản ánh bản sắc dân tộc trong mỗi con người nơi đây.
Khổ thơ thứ hai chuyển hướng, thể hiện tinh thần yêu nước, đấu tranh bảo vệ quê hương. Những "tre làng" trở thành "ngọn mác, mũi chông", tượng trưng cho sự kiên cường của con người khi đối mặt với kẻ thù. Các trai gái thôn Đông, xóm Bắc “thoắt vươn vai thành anh hùng", khẳng định tinh thần bất khuất và sức mạnh đoàn kết của nhân dân trong những giờ phút khó khăn.
Như vậy, qua hai khổ thơ, tác giả Nguyễn Bính đã khắc họa vẻ đẹp của quê hương trong cả khía cạnh văn hóa lẫn tinh thần chiến đấu kiên cường.
Tham Khảo:
“Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng là tập hồi kí viết về những tháng ngày tuổi thơ cay đắng và khắc nghiệt của chính tác giả - một tuổi thơ mồ côi, chịu bao nhiêu tủi cực, thiếu thốn. Và có lẽ, trong tác phẩm, làm cho người đọc cảm động nhất chính là đoạn trích “Trong lòng mẹ”. Đoạn trích đã cho ta hiểu được tình cảnh đáng thương cùng nỗi đau tinh thần bấy lâu của bé Hồng đồng thời là khát khao tình mẫu tử của bé.
Đoạn đầu của đoạn trích khi nhân vật “tôi” kể về chuyện chiếc khăn tang và tin tức về mẹ của mình ta hiểu phần nào về hoàn cảnh của bé Hồng khi ấy. Cha mất, mẹ đi tha hương cầu thực, bé phải sống với họ hàng trong sự ghẻ lạnh. Bà cô bé Hồng, vốn không phải là một người cô hiền lành, một hôm gọi bé Hồng đến gợi chuyện về mẹ bé hỏi bé có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ hay không.
Vốn là một đứa trẻ nhạy cảm, Hồng như nhận ra ngay ác ý trong lời nói và nụ cười giả dối rất “kịch” của bà cô. Gia đình họ nội của bé Hồng vốn không ưa gì mẹ bé Hồng, luôn tìm cách để nói xấu mẹ bé Hồng để khiến cho bé ghét mẹ của mình. Có điều, dù họ có tiêm nhiễm vào đầu bé Hồng bao nhiều điều xấu về mẹ đi nữa thì trong tâm trí bé Hồng, hình ảnh của mẹ bé Hồng liên hiện lên với “vẻ mặt rầu rầu và sự hiền từ”. Là một cậu bé vô cùng yêu mẹ và thông minh, Hồng tự nhủ với lòng mình “đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến....”. Nên bé Hồng đã trả lời là không muốn vào đồng thời bé đưa ra niềm tin về chuyện mẹ nhất định sẽ về. Chỉ một câu nói, ta hiểu rằng bé Hồng không chỉ là một cậu bé thông minh, can đảm mà còn rất yêu mẹ, ra sức bảo vệ mẹ trước những cay nghiệt của nhà nội.
Khi bà cô nói mẹ bé Hồng có “em bé”, những lời nói của bà cô mà bé Hồng đau đớn “Nước mắt tôi đã ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ” và khi bà cô kể cho bé nghe về chuyện có người nhìn thấy mẹ bé Hồng “ngồi cho con bú ở một bên rổ bóng đèn”, “ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng, người gầy rạc đi”, nỗi đau của bé lại càng như thắt lại: “Cô tôi chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng. Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ lấy ngay mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kỳ nát vụn mới thôi”. Cách so sánh liên tưởng độc đáo đã làm nổi bật sự căm tức ghê gớm của bé Hồng đối với những cổ tục đã đày đọa mẹ bé, bé chỉ muốn làm sao bóp nát nó để những đau khổ mà mẹ bé phải chịu sẽ mãi mãi biến mất.
Người đọc còn xúc động hơn nữa khi thấy tình cảm hai mẹ con bé Hồng gặp nhau. Khi mới thấy thoáng bóng ai giống mẹ, bé Hồng đã không kìm được lòng mà chạy gọi theo dù biết nếu đó là nhầm lẫn sẽ là một trò cười xấu hổ nhưng tình yêu thương mẹ của bé khi trỗi dậy đã lôi bé đi, không sao kìm lại được.
Vậy là hai mẹ con bé Hồng gặp nhau trong niềm hạnh phúc. Khi này bé Hồng thấy mẹ mình không hề xơ xác như những gì bà cô tả mà “Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong, và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má”, người mẹ ấy trông tươi đẹp như vậy có lẽ là vì: “Sự sung sướng bỗng được trông nhìn và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc”. Được nhìn thấy con, ôm con trong vòng tay, người mẹ như quên hết mọi cực nhọc, đau khổ và cả khuôn mặt đều ánh lên hạnh phúc.
Trong lúc nằm trong lòng mẹ, Hồng thấy “Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường” đồng thời có sự liên tưởng kì lạ “Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trên trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Đó chính là tình mẫu tử thiêng liêng, cao quý vô ngần!
Đọc đoạn trích “Trong lòng mẹ” ta thấy xót xa cho tình cảnh đáng thương của bé Hồng và đồng thời cũng đọc xúc động biết bao trước tình mẫu tử thiêng liêng cao quý.
Tinh thần lạc quan, ung dung tự tại trong mọi hoàn cảnh sống là nét đặc điểm nổi bật trong tính cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tinh thần đó đã trở thành một vũ khí để chiến đâu và chiến thắng mọi gian khó và kẻ thù. Thơ tức là người, thơ Bác thể hiện rõ phẩm chất cách mạng cao quý của người chiến sĩ cộng sản kiên trung. Bài thơ "Tức cảnh Pác Bó" được sáng tác tháng 2 năm 1941 ở núi rừng Pác Bó là một trong rất nhiều bài thơ mang đậm phong cách ấy của Bác:
“Sáng ra bờ suối, tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang!”
Pause 00:00 00:20 01:31 MuteThời gian này Bác về nước, trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam. Trong điều kiện sống rất kham khổ: "Cháo bẹ rau măng", làm việc thiếu thốn "bàn đá chông chênh", bài thơ tràn ngập niềm vui và dí dỏm của một con người biết vượt lên hoàn cảnh để hướng tới một mục tiêu cao cả, đó là sự nghiệp giải phóng dân tộc. Mở đầu bài thơ tứ tuyệt, Bác viết:“Sáng ra bờ suối, tối vào hang.” Câu thơ gọn gàng, súc tích, chỉ có bảy chữ mà có cả thời gian, hành động. Thời gian là "sáng", "tối", không gian là "bờ suối", "hang" và trên nền của thời gian, không gian ấy xuất hiện bóng dáng của một người đang miệt mài làm việc. Cái từ ngữ chỉ hành động "sáng ra", "tối vào" gợi cho ta sự liên tưởng ấy. Điểm sáng của câu thơ ở chỗ tác giả rất chú ý đến trật tự của hai vế câu. Nếu nói: "Tối vào hang, sáng ra bờ suối" thì trật tự này tạo nên giá trị biểu nghĩa khác. Chất lạc quan vốn là bản tính của con người gang thép ấy nên trật tự tất yếu của câu thơ phải là: “Sáng ra bờ suối, tối vào hang.” Với trật tự này, cảnh như vận động, không đứng yên, theo quy luật tuần hoàn của thời gian.
Vì vậy, ta không lấy làm lạ khi bắt gặp thái độ "vẫn sẵn sàng" của Bác ở câu thơ kế tiếp: “Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng”. Thơ nói về một khí phách, một thái độ, một nhân sinh quan mà lời thơ vẫn dung dị như lời nói hàng ngày. Đặc điểm của thơ tứ tuyệt là câu, chữ hết sức tiết kiệm và một bài thơ hay đã bật lên được "chữ thần". Cụm từ "vẫn sẵn sàng" là điểm sáng của bài thơ. Câu thơ làm ta liên tưởng đến triết lí sống của người quân tử ngày xưa, "quân tử ăn chẳng cần no". Bác sẵn sàng chấp nhận cuộc sống vật chất kham khổ với thái độ vui đùa, cười cợt. Bác coi thường cái gian khổ thậm chí cả những khi thân xác bị đoạ đày đau xót, người chiến sĩ cách mạng ấy vẫn đùa cợt, dí dỏm. Những bài thơ "Pha trò", "Ghẻ", "Dây trói"... trong "Nhật kí trong tù" là thái độ ung dung tự tại trước những hoàn cảnh khắc nghiệt với lời thơ hóm hỉnh bất ngờ.
Khác với người xưa: "An bần lạc đạo", Bác Hồ là con người lao động, luôn luôn hành động vì một lí tưởng cao cả: “Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng.” Làm việc trong hoàn cảnh thiếu thốn những tiện nghi cần thiết, mượn đá làm bàn, bàn đá lại "chông chênh", chi tiết vui, ngộ và đó là một sự vật. Trong cách nhìn sự vật. Bác thường phát hiện những chi tiết ngộ nghĩnh, điều đó biểu hiện một tâm hồn lạc quan. Bài thơ kết thúc: “Cuộc đời cách mạng thật là sang!” Ngôn ngữ thơ bình dị mà ý thơ thì lớn lao. Nếu điểm sáng của hai câu thơ đầu là thái độ "vẫn sẵn sàng" thì sức nặng của bài thơ được dồn vào câu kết, đặc biệt với cụm từ "thật là sang!". Đây cũng là một cách nói vui, nói quá lên, chất hài hước đó ta thường gặp trong thơ và trong cuộc sống đời thường của Bác. Chất hài hước này làm cho bài thơ gợi lên niềm lạc quan cách mạng sáng ngời.
Bài thơ "Tức cảnh Pác Bó" là một bài thơ giản dị mà sâu sắc. Bài thơ thể hiện một đạo lí sống cao đẹp nhưng lời thơ tự nhiên, không một chút vẽ vời hoa mĩ. Giọng điệu thơ rất gần với cách nói hàng ngày, ta có cảm giác Bác không cố ý làm bài thơ nhưng nó cứ đọng lại mãi trong tâm trí ta, sức sống lâu bền của bài thơ chính là chỗ đó.
Bài thơ Thu Điếu của tác giả Nguyễn Khuyến. Thuộc thể thơ thất ngôn bát cú đường luật. Bài thơ được tác giả Nguyễn Khuyến viết khi ông về quê sinh sống
+ Bài thơ Thu Điếu của nhà nhà thơ : Nguyễn Khuyến
+ Thuộc thể loại : Thất ngôn bát cú đường luật
+ Bài thơ được ông viết khi ông về quê sống , miêu tả những cảnh đẹp qua mắt ông thấy .
Bài thơ Mẹ tôi của Từ Dạ Linh như một khúc ca giản dị mà sâu lắng về tình mẫu tử, khiến lòng người đọc nhói lên từng nhịp vừa trìu mến vừa da diết. Tác giả dùng hình ảnh rất mộc mạc — mẹ gánh nặng đồng áng, mẹ là lời ru ầu ơ, mẹ là hương lúa trên đồng — để dựng lên chân dung một người mẹ lao động, tảo tần với đôi chân vẹt mòn bàn chân vì nắng mưa. Đọc tới những câu “Mẹ thơm hương lúa” và “Mẹ là dịu mát dòng sông cuộc đời”, mình cảm nhận rõ hơi thở của đất đai quê hương, cảm giác ấm áp bình yên khi được trở về bên mẹ. Trong những lúc lòng rã rời, chỉ cần nghĩ tới mẹ cũng đủ cho hồn mình được xoa dịu, được chở che như dòng sông mát lành giữa mùa hè oi ả. Bài thơ khiến mình nhớ rằng, người mẹ không chỉ là nơi bắt đầu của mỗi cuộc đời, mà còn là nơi trở về để thấy mình được yêu thương, được trân trọng, bất kể đi bao xa. Khi đọc Mẹ tôi, mình vừa cảm phục nỗi vất vả, lại vừa trân quý sự hy sinh thầm lặng ấy — hy sinh không cầu tiếng vỗ tay, chỉ để con cái yên lòng, phát triển trong tình yêu và trong ký ức quê nhà.
Bài thơ "Mẹ tôi" của Từ Dạ Linh là một lời tự tình ngắn gọn nhưng sâu nặng về tình mẫu tử, gieo vào lòng người đọc những cảm nhận chân thật nhất. Hình ảnh người mẹ trong thơ hiện lên giản dị và cao cả: một bóng hình tảo tần, gánh gồng mọi vất vả mà vẫn giữ trọn nụ cười và hy vọng cho con. Từng câu chữ của tác giả như một lời thủ thỉ, thấm đẫm sự biết ơn và thấu hiểu sâu sắc trước những hy sinh thầm lặng của mẹ. Đọc thơ, ta không chỉ xúc động trước tình yêu thương vô bờ bến ấy mà còn tự thấy lòng mình bồi hồi, chợt muốn về nhà ôm lấy mẹ và trân trọng mọi khoảnh khắc. Đây thực sự là một bài thơ ngọt ngào, một lời nhắc nhở thiêng liêng về lòng hiếu thảo.
Làm giúp nì,tick cho tui nhe:
Bài thơ Mẹ tôi của tác giả Từ Dạ Linh đã để lại trong em một ấn tượng sâu sắc về tình cảm thiêng liêng và sự hy sinh vô bờ của mẹ. Qua từng câu chữ, tác giả đã vẽ nên hình ảnh người mẹ với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc nhưng lại vô cùng vĩ đại. Những hình ảnh của mẹ trong bài thơ như "mẹ là ngọn lửa cháy âm thầm" hay "mẹ là mảnh đất quê hương" khiến em cảm nhận rõ ràng sự nuôi dưỡng và bảo vệ vô điều kiện mà mẹ dành cho con cái. Mẹ không chỉ là người sinh thành, mà còn là người truyền cảm hứng, là nơi con tìm về khi mệt mỏi hay lạc lối. Cảm xúc trong bài thơ nhẹ nhàng nhưng đầy chất chứa, như một lời nhắc nhở về lòng biết ơn, sự kính trọng đối với những hy sinh thầm lặng của mẹ. Em thấy mình như được gợi nhắc lại những kỷ niệm bên mẹ, càng thêm trân quý những gì mẹ đã làm cho mình. Mẹ là tất cả, là niềm tin và là nguồn động lực vô giá trong cuộc đời mỗi người.
- Biểu tượng của sự hi sinh: Tác giả khắc họa mẹ là người chịu đựng "đắng cay ngang trái", giấu đi "đớn đau" để dành cho con sự sống và che chở, dõi theo con suốt cuộc đời.
- Biểu hiện của tình thương: Tình mẹ được thể hiện qua những hành động cụ thể như chăm sóc con, là chỗ dựa tinh thần, hay qua nỗi mong nhớ con da diết trong câu hát ru "À ơi... Sáng trông/Trưa đợi/Tối chờ".
- Sự lớn lao, vĩ đại: Dù cuộc sống có khó khăn đến đâu, mẹ vẫn là người vĩ đại và thiêng liêng nhất, là nguồn sức mạnh, tình yêu thương vô bờ bến dành cho con.
- Giọng điệu mộc mạc, tha thiết: Tác giả sử dụng giọng điệu chân thành, giản dị, kết hợp với hình ảnh ẩn dụ và so sánh độc đáo, tạo nên sức lay động mạnh mẽ.
- Lời ru quen thuộc: Câu hát ru "À ơi..." mang âm hưởng của quê hương, làm cho bài thơ trở thành một khúc hát tri ân bất tận, gợi cảm xúc sâu lắng.
- Lòng biết ơn sâu nặng: Bài thơ khơi gợi trong em niềm xúc động, biết ơn sâu sắc đối với tình mẹ, hiểu được giá trị của những hy sinh thầm lặng mà mẹ dành cho con.
- Trân trọng phút giây bên mẹ: Tác giả muốn gửi gắm thông điệp hãy trân trọng những khoảnh khắc được ở bên cạnh mẹ, yêu thương và đền đáp công ơn của mẹ.
- Tình yêu thương là hạnh phúc: Tình yêu thương của cha mẹ là món quà vô giá, giúp ta vững bước trên đường đời.
cần gấp ko bn
Trong dòng chảy của thơ ca viết về tuổi học trò, “Lưu bút hồng” của Nguyễn Như Mây là một bài thơ giàu cảm xúc, tha thiết và trong trẻo. Tác phẩm khắc họa những rung động bâng khuâng của giây phút chia tay mái trường, thầy cô và bè bạn – quãng thời gian đẹp đẽ, hồn nhiên nhất của đời người. Qua giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, tác giả đã gợi lên nỗi nhớ thương da diết cùng sự trân trọng đối với những kỉ niệm học trò không thể nào quên. Trước hết, bài thơ tái hiện khung cảnh chia tay đầy lưu luyến của tuổi học trò. “Lưu bút hồng” vốn là cuốn sổ nhỏ chuyền tay nhau vào những ngày cuối năm học để ghi lại những lời chúc, lời nhắn nhủ. Hình ảnh ấy không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn là biểu tượng của tình bạn trong sáng, của những kỉ niệm được nâng niu, gìn giữ. Qua từng lời thơ, ta cảm nhận được sự bịn rịn khi phải xa lớp học, xa hàng phượng đỏ, xa tiếng trống trường quen thuộc. Không khí chia tay được khắc họa bằng những cảm xúc chân thật: buồn nhưng không bi lụy, lưu luyến mà vẫn đầy hi vọng. Bên cạnh đó, bài thơ còn thể hiện tình bạn hồn nhiên, gắn bó. Những người bạn từng cùng nhau học tập, vui chơi, chia sẻ bao kỉ niệm giờ đây sắp mỗi người một ngả. Trong cuốn lưu bút, những lời chúc, những dòng chữ nắn nót chính là kết tinh của tình cảm chân thành. Nguyễn Như Mây đã khéo léo diễn tả nỗi niềm ấy bằng giọng thơ tha thiết, giàu chất trữ tình. Tình bạn tuổi học trò hiện lên đẹp đẽ, không toan tính, là hành trang tinh thần quý giá theo mỗi người suốt chặng đường đời. Không chỉ dừng lại ở tình bạn, “Lưu bút hồng” còn gợi nhắc công ơn thầy cô và mái trường. Mái trường không chỉ là nơi truyền đạt tri thức mà còn là nơi chắp cánh ước mơ. Những năm tháng dưới mái trường đã nuôi dưỡng tâm hồn, giúp con người trưởng thành. Vì thế, khi rời xa, ai cũng mang trong lòng niềm biết ơn sâu sắc. Giọng thơ nhẹ nhàng nhưng thấm đượm xúc động, thể hiện sự trân trọng đối với những gì đã qua. Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh và cảm xúc. Nhịp điệu chậm rãi, tha thiết phù hợp với tâm trạng bâng khuâng của buổi chia tay. Các hình ảnh quen thuộc như phượng hồng, tiếng ve, trang lưu bút… góp phần làm nổi bật không gian và thời gian đặc trưng của mùa chia tay tuổi học trò. Chính sự chân thành trong cảm xúc đã tạo nên sức lay động của tác phẩm. Tóm lại, “Lưu bút hồng” của Nguyễn Như Mây là khúc ca dịu dàng về tuổi học trò – quãng đời hồn nhiên, tươi đẹp và đầy kỉ niệm. Bài thơ không chỉ gợi nhắc những cảm xúc trong trẻo của một thời cắp sách mà còn nhắc mỗi chúng ta biết trân trọng quá khứ, trân trọng tình bạn, thầy cô và mái trường thân yêu. Dù thời gian có trôi qua, những trang “lưu bút hồng” ấy vẫn sẽ mãi là kỉ vật thiêng liêng trong trái tim mỗi người.
Có ah