K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

6 tháng 2
Nguyễn Thị Bình và Hiệp định Giơ-ne-vơ Answer: Sai Bà Nguyễn Thị Bình không tham gia Hiệp định Giơ-ne-vơ (Geneva) năm 1954. Bà là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào năm 1973 với tư cách là Trưởng phái đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.  Bà được mệnh danh là "bông hồng thép khiêu vũ giữa bầy sói" để ca ngợi bản lĩnh, trí tuệ và sự kiên cường của bà trên mặt trận ngoại giao đầy khốc liệt. 

Bà Nguyễn Thị Bình (Madame Bình) được báo chí phương Tây mệnh danh là "người phụ nữ khiêu vũ giữa bầy sói" (hay "Bông hồng thép") nhờ bản lĩnh ngoại giao xuất chúng tại Hội nghị Paris (1968–1973). 

8 tháng 2

Bà Nguyễn Thị Bình (Madame Bình) là nhà ngoại giao lỗi lạc, Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nổi tiếng với biệt danh "bông hồng khiêu vũ giữa bầy sói" tại Hội nghị Paris (1968-1973). Bà bản lĩnh, thông minh đấu tranh trực diện với Mỹ, góp phần quan trọng ký kết Hiệp định Paris 1973, đòi lại độc lập.

23 tháng 5 2017

@CÔNG CHÚA THẤT LẠC

12 tháng 5 2016

Có lẽ là trả thù cho nhà Nguyễn đó bạn

12 tháng 5 2016

Nguyễn Ánh có công đối với nhà Nguyễn và có tội với nhà Tây Sơn, còn việc rước voi dày mả tổ thì đúng là Nguyễn Ánh sai nhưng vì thế mới có việc để phát dương quang đại ánh hào quang của Nguyễn Huệ. Xét cho cùng việc Nguyễn Ánh thay thế nà Tây Sơn thì xét về tình thì đúng là làm cho người Việt khó chịu nhưng về lý thì việc Nguyễn Ánh lãnh đạo thì tốt hơn thằng ku Quang Tỏan nhiều

CUỘC CHIẾN PHÁP-NGUYỄNBẮT ĐẦUNGƯỜI THÀNH LẬP NHÀ NGUYỄN-GIA LONGÔNG LÀ NGƯỜI CÓ TÀI,NGƯỜI PHÁP ĐẾN NƯỚC TA ÁP DỤNG ĐẠO TÔN GIÁOVÀO VIỆT NAM,HỌ CHO TA SÚNG HỎA MAI,ĐẠI BÁC TÂN TIẾN CỦA HỌ,...SAU KHI VUA GIA LONG MẤT,VUA MINH MẠNG THAY NGÔINGÀI THẤY QUÂN TA HÙNG HẬU NÊN CHIẾM LUÔN KHERME-CHĂM-THÁISAU ĐÓ NGÀI LẠI LÀ MỘT TAY BÀI TÂYNGÀI CẤM ĐẠO GIÁO CỦA HỌ,ĐUỔI HỌ KHỎI BẾN CẢNGVÀ...
Đọc tiếp

CUỘC CHIẾN PHÁP-NGUYỄN

BẮT ĐẦU

NGƯỜI THÀNH LẬP NHÀ NGUYỄN-GIA LONG

ÔNG LÀ NGƯỜI CÓ TÀI,NGƯỜI PHÁP ĐẾN NƯỚC TA ÁP DỤNG ĐẠO TÔN GIÁOVÀO VIỆT NAM,HỌ CHO TA SÚNG HỎA MAI,ĐẠI BÁC TÂN TIẾN CỦA HỌ,...

SAU KHI VUA GIA LONG MẤT,VUA MINH MẠNG THAY NGÔI

NGÀI THẤY QUÂN TA HÙNG HẬU NÊN CHIẾM LUÔN KHERME-CHĂM-THÁI

SAU ĐÓ NGÀI LẠI LÀ MỘT TAY BÀI TÂY

NGÀI CẤM ĐẠO GIÁO CỦA HỌ,ĐUỔI HỌ KHỎI BẾN CẢNG

VÀ NƯỚC TA LẠI LẠC HẬU HƠN NƯỚC HỌ

PHÁP CAY CÚ ĐÁNH LẠI VÀ QUÂN TA SUÝT THUA

ĐỪNG CÓ LO VÌ ĐÃ CÓ CHỦ TƯỚNG NGUYỄN TRI PHƯƠNG

NGÀI LÃNH ĐẠO QUÂN TA XÂY MỘT ĐÀI THỦ VỚI 30.000 QUÂN TRONG THÀNH CÒN QUÂN PHÁP ÍT HƠN NHIỀU,NHƯNG LỰC LƯỢNG CỦA HỌ CÓ ĐẠI BÁC,SÚNG TRƯỜNG CÓ GẮN DAO PHÍA TRƯỚC ,KHI QUÂN TA CHỈ CÓ SÚNG TRƯỜNG THƯỜNG ...

THAM KHẢO(im not copy)

3
19 tháng 9 2025

bài văn cậu quá hay

19 tháng 9 2025

hay lắm ạ

2 tháng 11 2016
Xã hội phong kiến phương Đông:
- Thời kỳ hình thành: Từ thế kỷ III tr CN đến khoảng thế kỷ X, từ rất sớm.
- Thời kỳ phát triển: từ thế kỷ X đến XV, phát triển khá chậm.
- Thời kỳ khủng hoảng: từ thế kỷ XVI đến XIX và kéo dài suốt ba thế kỉ.
- Cơ sở kinh tế: nông nghiệp đóng kín trong công xã nông thôn.
- Giai cấp cơ bản: địa chủ và nông dân lĩnh canh (bóc lột thông qua tô thuế).
- Thế chế chính trị: quân chủ.
 
Xã hội phong kiến châu Âu:
- Thời kỳ hình thành: từ thế kỉ V đến thế kỉ X, hình thành muộn, sau XH phong kiến phương Đông.
- Thời kỳ phát triển: từ thế kỷ XI đến XIV, phát triển rất phồn thịnh .
- Thời kỳ khủng hoảng: từ thế kỷ XV đến XVI, kết thúc sớm và bắt đầu chuyển sang chủ nghĩa tư bản.
- Cơ sở kinh tế: Nông nghiệp đóng kín trong lãnh địa .
- Giai cấp cơ bản: Lãnh chúa và nông nô (bóc lột thông qua tô thuế).
- Thế chế chính trị : Quân chủ.
 
8 tháng 11 2016

 

Xã hội phong kiến phương Đông:
- Thời kỳ hình thành: Từ thế kỷ III tr CN đến khoảng thế kỷ X, từ rất sớm.
- Thời kỳ phát triển: từ thế kỷ X đến XV, phát triển khá chậm.
- Thời kỳ khủng hoảng: từ thế kỷ XVI đến XIX và kéo dài suốt ba thế kỉ.
- Cơ sở kinh tế: nông nghiệp đóng kín trong công xã nông thôn.
- Giai cấp cơ bản: địa chủ và nông dân lĩnh canh (bóc lột thông qua tô thuế).
- Thế chế chính trị: quân chủ.
 
Xã hội phong kiến châu Âu:
- Thời kỳ hình thành: từ thế kỉ V đến thế kỉ X, hình thành muộn, sau XH phong kiến phương Đông.
- Thời kỳ phát triển: từ thế kỷ XI đến XIV, phát triển rất phồn thịnh .
- Thời kỳ khủng hoảng: từ thế kỷ XV đến XVI, kết thúc sớm và bắt đầu chuyển sang chủ nghĩa tư bản.
- Cơ sở kinh tế: Nông nghiệp đóng kín trong lãnh địa .
- Giai cấp cơ bản: Lãnh chúa và nông nô (bóc lột thông qua tô thuế).
- Thế chế chính trị : Quân chủ.
 
Giong nhauKhác nhau

Về cơ sở kinh tế đều là nông nghiệp đóng kín trong lãnh địa

Thời kì hình thành
Về thế chế chính trị (quân chủ)Thời kì phát triển
Đều có 2 giai cấp cơ bảnGiai cấp cơ bản
Đều có thời kì khủng hoảng ,thời kì phát triển và thời kì hình thànhThời kì khủng hoảng

 

 
8 tháng 11 2016

+Kinh tế - xã hội:
- Giai cấp thống trị phương Đông là địa chủ, quý tộc, ở phương Tây thế lực thống trị gồm quý tộc, tăng lữ, lãnh chúa. Chúng câu kết với nhau rất chặt và bóc lột nông nô tàn bạo và khắc nghiệt hơn so với phương Đông.
- Giai cấp bị trị: Nông dân tá điền (phương Đông) so với nông nô (phương Tây) có phần dễ chịu và ít khắt khe hơn.
- Mâu thuẫn giữa hai giai cấp cơ bản trong chế độ phong kiến phương tây nặng nề và gay gắt hơn phương Đông. Điều này lí giải sự sụp đổ sớm của chế độ phong kiến phương Tây (tồn tại 1o thế kỉ) và sự tồn tại lâu dài của chế độ PK phương Đông (hơn 2500 năm).
+Chính trị và tư tưởng.
Chế độ quân chủ phương Đông xuất hiện sớm hơn ở phương Tây khoảng 1000 năm.
Sự chuyển biến từ chế độ phân quyền sang tập quyền ở phương Đông (thời Tần Thủy Hoàng) và A-sô-ka diễn ra sớm. Trong khi đó ở phương tây sự tập quyền diễn ra chậm trễ (thế kỉ XIV) và nhà vua được sự giúp đỡ của thị dân mới dẹp được sự cát cứ của các lãnh chúa.
Cơ sở lí luận chio chế độ phong kiến phương Đông và phương tây là các tôn giáo có sẵn từ trước. tuy nhiên, sự can thiệp của tầng lớp tăng lữ phương tây vào hệ thống chính trị là rõ ràng và chặt chẽ hơn. Trong khi đó, ở phương Đông tầng lớp này không mang tính công khai và rất ít nơi trở thành giai cấp thống trị.

7 tháng 10 2025

1) Quá trình hình thành xã hội phong kiến ở Tây Âu

  • Sau sự sụp đổ của Đế chế La Mã, Tây Âu rơi vào thời kỳ hỗn loạn, dân cư sống phân tán, các lãnh chúa địa phương dần nắm quyền.
  • Các vua và lãnh chúa phong kiến trao đất đai cho các quý tộc, hiệp sĩ để đổi lấy sự trung thành và quân dịch.
  • Xã hội phong kiến được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa chủ đất và thần dân, phân chia thành các tầng lớp: vua, quý tộc, nông dân.
  • Các lâu đài, pháo đài được xây dựng để bảo vệ lãnh thổ, tăng quyền lực địa phương.

2) Hệ quả của các cuộc phát kiến địa lí lớn ở Tây Âu

  • Mở rộng vùng ảnh hưởng và giao thương với các châu lục khác, đặc biệt là châu Á và châu Mỹ.
  • Kinh tế phát triển mạnh nhờ buôn bán hàng hóa, khai thác tài nguyên mới.
  • Tăng cường quyền lực của các quốc gia Tây Âu, thúc đẩy chủ nghĩa tư bản sơ khai.
  • Gây ra các cuộc xung đột, cạnh tranh giữa các nước châu Âu trong việc chiếm đoạt thuộc địa.
  • Thúc đẩy sự trao đổi văn hóa, khoa học và kỹ thuật giữa các khu vực trên thế giới.
11 tháng 10 2025

1.

Quá trình hình thành xã hội phong kiến ở Tây Âu diễn ra từ thế kỷ III đến thế kỷ IX trên cơ sở sự sụp đổ của đế chế La Mã và sự tan rã của các bộ lạc Giéc-man. Cụ thể, đế chế La Mã suy yếu, sau đó các bộ tộc Giéc-man tràn vào, lập vương quốc mới và xóa sổ hoàn toàn đế chế vào năm 476. Sự hình thành chế độ phong kiến được đánh dấu bằng việc ra đời các giai cấp lãnh chúa phong kiến và nông nô, cùng với đơn vị kinh tế - chính trị cơ bản là lãnh địa phong kiến.

2.

Các cuộc phát kiến địa lý đã mang lại hệ quả to lớn cho Tây Âu, bao gồm sự mở rộng kiến thức về Trái Đất và tăng cường giao lưu văn hóa, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ thương nghiệp, mở rộng thị trường và là tiền đề quan trọng cho sự ra đời của chủ nghĩa tư bản thông qua quá trình tích lũy vốn, cướp bóc tài nguyên và bóc lột sức lao động.

"LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT VIỆT NAM"Đoàn Thị Điểm (段氏點, 1705-1749), hiệu: Hồng Hà Nữ Sĩ (紅霞女士), là nữ sĩ Việt Nam thời Lê Trung hưng. Bà là tác giả tập Truyền kỳ tân phả (chữ Hán), và tác giả của truyện thơ Chinh Phụ Ngâm (bản chữ Nôm – 412 câu thơ) được bà dịch từ nguyên bản Chinh Phụ Ngâm Khúc (viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn). Bà còn viết tập Nữ trung tùng...
Đọc tiếp

"LỊCH SỬ NGHỆ THUẬT VIỆT NAM"

Đoàn Thị Điểm (段氏點, 1705-1749), hiệu: Hồng Hà Nữ Sĩ (紅霞女士), là nữ sĩ Việt Nam thời Lê Trung hưng. Bà là tác giả tập Truyền kỳ tân phả (chữ Hán), và tác giả của truyện thơ Chinh Phụ Ngâm (bản chữ Nôm – 412 câu thơ) được bà dịch từ nguyên bản Chinh Phụ Ngâm Khúc (viết bằng chữ Hán của Đặng Trần Côn). Bà còn viết tập Nữ trung tùng phận gồm 1401 câu thơ và bài Bộ bộ thiềm-Thu từ– 步步蟾-秋詞 (tức Bộ bộ thiềm- Bài hát mùa thu). Ngoài ra còn có một số bài thơ văn khác của bà (gồm chữ Hán, chữ Nôm) được chép trong tập Hồng Hà phu nhân di văn của tiến sĩ Nguyễn Kiều mới được phát hiện gần đây.

Bà là người được đánh giá là bậc nhất về sắc đẹp lẫn tài văn trong những nữ sĩ danh tiếng nhất, bên cạnh là Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Xuân Quỳnh.

Trong tư liệu của Ths.Nguyễn Hồng Chiến (là di duệ của tiến sĩ Nguyễn Kiều), Hồng Hà Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm có biệt hiệu Ban Tang, quê làng Hiến Phạm, xã Giai Phạm, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Bà vốn là con gái ông hương cống Đoàn Doãn Nghi, mẹ bà là người họ Vũ và là vợ hai ông Nghi, nhà ở phường Hà Khẩu, Thăng Long (phố Hàng Bạc bây giờ).

Ông bà Nghi còn sinh một trai là Đoàn Doãn Luân (1703), tức là anh trai và hơn Đoàn Thị Điểm 2 tuổi. Từ nhỏ, anh em bà đã theo mẹ về ở với ông bà ngoại là quan Thái lĩnh bá và được dạy dỗ chu đáo, thông Tứ thư, Ngũ kinh… Năm 6 tuổi, Đoàn Thị Điểm nổi tiếng gần xa về tài học giỏi, thông minh.

Năm bà 16 tuổi, quan Thượng thư Lê Anh Tuấn mến mộ muốn xin làm con nuôi, để tiến cử vào cung chúa Trịnh, nhưng bà nhất định từ chối. Về sau, cha mất, gia đình phải chuyển về quê nhà, được ít lâu thì dời về làng Võ Ngai (Vô Ngại), huyện Đường Hào (nay là Mỹ Hào, Hưng Yên), tại đây Đoàn Thị Điểm cùng anh trai hành nghề dạy học.

Anh trai mất sớm, chị dâu lại tàn tật, thời gian này, bà kiêm luôn nghề bốc thuốc, gần như một tay nuôi sống cả gia đình – gồm 2 cháu nhỏ, mẹ và chị dâu. Bà được nhiều người đến cầu hôn nhưng đều từ chối.

Theo nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh, tại Vô Ngại, cuộc sống gia đình bà cũng không ở được. Khoảng  giữa thế kỷ XVIII, những cuộc nổi dậy của nông dân xảy ra khiến vùng Hải Đông không còn cảnh yên bình, nhiều làng xóm bị binh lửa tàn phá. Đoàn Thị Điểm lại đưa cả gia đình tới nhà một người học trò tại xã Chương Dương, huyện Thược Phúc (nay thuộc Thường Tín, Hà Nội) để lánh nạn và sinh sống. Theo Hoàng Xuân Hãn, lúc này bà mới chính thức mở trường dạy học.

Nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh cho rằng, Đoàn Thị Điểm không những nổi tiếng về tài văn thơ, mà còn giỏi đối đáp. Xung quanh bà có nhiều giai thoại khẳng định tài năng áp đảo các bậc anh tuấn trong giới nho sinh kẻ sĩ. Cũng có nhiều câu đối được ghi là của bà trong các cuộc đối đáp với Trạng Quỳnh, sứ Tàu, Nhữ Đình Toản… Những chuyện ấy dù có bao nhiêu phần trăm sự thật thì cũng chứng tỏ lòng ngưỡng mộ của thế nhân đối với bà.

Đoàn Thị Điểm được Nguyễn Thị Băng Thanh đánh giá là một người con gái có bản lĩnh, một “gia trưởng” hoàn hảo, một nữ sĩ tài hoa, gồm đủ công dung ngôn hạnh nhưng cũng ngầm mang ít nhiều tính cách trượng phu có tầm cỡ về tư tưởng và dám “phá cách”. Thế nhưng, có thể chính vì sự hoàn hảo và xuất chúng đó mà đường tình duyên của nữ sĩ muộn màng.

Không phải bà thiếu các bậc tài danh ngấp nghé, nhưng dường như cảnh nhà cũng làm bà lỡ làng năm tháng. Vào tuổi thanh xuân, tuy ở trong cửa nhà quyền quý nhưng con đường gia thất lại chỉ có thể hướng tới cung nhà chúa, với cái cảnh “chiếc én ba nghìn” biết chen cành nào trên cây cù mộc? Bản lĩnh và tâm hồn nữ sĩ khiến bà không thể chấp nhận được sự sắp đặt ấy. Sau này, về gần kinh thành, với hoàn cảnh đơn hàn, bà càng được để ý. Nhưng nữ sĩ đã liệu lời từ chối tất cả và lẩn tránh, chấp nhận cuộc sống cô đơn để toàn tâm toàn ý phụng dưỡng mẹ già, nuôi dạy các cháu.

Đoán được quan lộ cho chồng, biết trước mình sắp mất

Nhiều tài liệu cho biết, mặc dù hết lần này đến lần khác “khất” không lấy chồng, nhưng rồi, Đoàn Thị Điểm đã “cập bến” bên tiến sĩ Nguyễn Kiều (1695 – 1752, sinh tại làng Phú Xá, phường Phú Thượng, quận Tây Hồ, Hà Nộ). Theo tài liệu từ nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Kiều nổi tiếng đương thời là người giỏi văn thơ, năm 1715, đỗ tiến sĩ, sau đó được bổ dụng và đến năm 1740 được trao chức Quyền thự thiêm đô Ngự sử, một chức quan cần có bản lĩnh vững vàng và chính trực liêm khiết.

Trước khi được Đoàn Thị Điểm chấp nhận về làm vợ, Nguyễn Kiều đã có hai người vợ trước, nhưng đều mất sớm. Mối tình giữa Nguyễn Kiều và Đoàn Thị Điểm được coi là mối tình đẹp, nức tiếng Thăng Long xưa, năm đó, Đoàn Thị Điểm đã 37 tuổi. Nguyễn Kiều phải viết mấy bức thư với lời lẽ khẩn thiết, thê lương, rồi những lời khuyên bàn từ người thân, Đoàn Thị Điểm mới nhận lời. Nguyễn Kiều đã có thơ sau khi lấy được Đoàn Thị Điểm:

Nhân duyên gặp gỡ nhất trần gian

Cả cuộc đời ta được phúc ban

Ai bảo khát khao tiên nữ nữa

Nàng tiên đã xuống cõi nhân hoàn

Trong tư liệu từ di duệ Nguyễn Kiều, cho biết, cưới nhau được hơn một tháng, Nguyễn Kiều phải lên đường đi sứ phương Bắc, bà ở nhà coi sóc gia trang, xem con chồng như con đẻ, dạy dỗ thay làm cha, làm thầy. Nào ngờ cuộc đi sứ kéo dài đến ba năm. Nguyễn Kiều về đến Nam Ninh nhưng không qua biên giới được vì Lạng Sơn có loạn phải chờ đợi dẹp xong loạn mới về. Trong ba năm chờ chồng, Đoàn Thị Điểm sống chẳng khác nào người “chinh phụ”. Có lẽ chính trong thời gian này (1742 – 1745), bà đã dịch ra quốc âm tác phẩm Chinh phụ ngâm nổi tiếng của Đặng Trần Côn.

Năm 1746, ba năm chờ chồng dài đằng đẵng vừa kết thúc, bà lại phải khăn gói, từ biệt mẹ già cháu nhỏ để sang Nghệ An, nơi Nguyễn Kiều mới được bổ nhiệm.

Tư liệu từ di duệ Nguyễn Kiều cũng dẫn lại sách Đoàn Thị Thực lục còn chép lời đoán của bà về vận mệnh chồng, cũng đoán trước về việc sắp rời bỏ dương thế của mình: “Mùa hè năm Mậu Thìn (1748), một ngày kia xong việc công, ông vào tư thất, nói chuyện cùng bà và phê bình thơ, tra từ điển văn cũ định xếp thành thi văn tập của đôi vợ chồng. Thình lình, rèm tung lên, gió cuốn, bui bay. Bà ngồi lặng, ngẫm nghĩ, bấm đốt tay mà suy tính. Rồi bà bảo ông rằng: “Bắc khuyết vân bình chiêu thiếp thụy, Nam thù xuân vũ trước quân ân”, được dịch, “Cửa Bắc xe mây điềm thiếp rõ, Bờ Nam mưa ấm tỏ ơn vua”.

Ý Đoàn Thị Điểm muốn nói rằng luồng gió vừa qua là điềm bà sắp mất, và Nguyễn Kiều sắp được thăng chức và dời vào miền Nam. Nguyễn Kiều hỏi Đoàn Thị Điểm, hỏi đi hỏi lại nhưng bà không giảng thêm gì nữa. Chưa qua dăm ba ngày sau, thì quả nhiên ông được lệnh vào coi việc trấn an Nghệ An.

Ông bảo bà cùng đi. Bà lấy cớ bận việc nhà, xin ở lại, giả nói rằng xin sẽ đi sau. Nhưng ông cố nài, bất dắc dĩ, bà phải nghe. Hai người xuống thuyền trẩy vào xứ Nghệ. Chắc là đêm lạnh, bà ngủ quên không đắp chăn, nên cảm hàn. Bà liền đau, cố gắng gượng ăn uống, nhưng bệnh tình càng ngày càng nặng. Năm sáu ngày sau, thuyền đến trấn Nghệ An, ấy là vào ngày 4/8. Bệnh đã nguy kịch, chồng chạy khắp nơi, cầu cúng hết đền chùa, nhưng không công hiệu, đến ngày 9/11/1748 (âm lịch), Đoàn Thị Điểm qua đời, hưởng dương 44 tuổi.

Ths.Nguyễn Hồng Chiến đánh giá: Sự kính yêu của người đời sau với Đoàn Thị Điểm không chỉ vì văn tài thi văn điêu luyện, đặc sắc, còn vì bà có những phẩm chất cao quý, đức hạnh tốt đẹp xứng đáng là mẫu phụ nữ tiêu biểu của xã hội Việt Nam ở mọi thời đại.


THAM KHẢO

CHÚC MỘT NGÀY TỐT LÀNH

3

ui hay bạn tự nghĩ à 😁😁😁

MÌNH COP TRÊN MẠNG VÀI TỪ HÁN THÌ CŨNG KHÓ MÀ CỨ ĐỌC ĐI ;D

26 tháng 12 2025

dương tự minh nữa nha

15 tháng 6 2016

Nguyên nhân thắng lợi:

+ Nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, ý chí bất khuất, quyết tâm giành lại độc lập tự do cho đất nước.

+ Tất cả các tầng lớp nhân dân không phân biệt già trẻ, Nam nữ, các thành phần dân tộc đều đoàn kết đánh giặc, hăng hái tham gia cuộc khởi nghĩa, gia nhập lực lượng vũ trang, tự vũ trang,ủng hộ, tiếp tế lương thực cho nghĩa quân.

+ Nhờ đường lối chiến lược, chiến thuật đúng đắn, sáng tạo của bộ tham mưu, đứng đầu là Lê Lợi, Nguyễn Trãi.

 Ý nghĩa lịch sử:

+ Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi đã kết thúc 20 năm đô hộ tàn bạo của phong kiến nhà Minh.

+ Mở ra một thời kì phát triển mới của dân tộc thời Lê sơ.