Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Nước ta có ba nhóm đất chính
- Nhóm đất feralit hình thành trực tiếp tại các miền đồi núi thấp. Nhóm này chiếm tới 65% diện tích đất tự nhiên. Đặc tính chung của đất là chua, nghèo mùn, nhiều sét. Đất có màu đỏ, vàng do có nhiều hợp chất sắt, nhôm. Các hợp chất này thường tích tụ thành kết von hoặc thành đá ong nằm cách mặt đất khá sâu (0,5 - lm). Khi đá ong bị mất lớp che phủ và lộ ra ngoài trời sẽ khô cứng lại. Đất bị xấu đi nhanh chóng và không thể trồng trọt được.

Đất feralit hình thành trên đá ba dan và đá vôi có màu đỏ thẫm hoặc đỏ vàng có độ phì rất cao, thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp.
- Nhóm đất mùn núi cao
Khi lên núi cao, nhiệt độ giảm dần, đất feralit chuyển dán sang các loại đất mùn feralit và đất mùn núi cao, hình thành dưới thảm rừng á nhiệt đới hoặc ôn đới vùng núi cao. Nhóm đất này chiếm khoảng 11% diện tích đất tự nhiên, chủ yếu là đất rừng đầu nguồn cần được bảo vệ.
- Nhóm đất bồi tụ phù sa sông và biển chiếm 24% diện tích đất tự nhiên.
Nhóm đất này tập trung tại các đồng bằng lớn, nhỏ từ bắc vào nam. Rộng lớn và phì nhiêu nhất là đồng bằng sông Cửu Long (40 000 km2) và đồng bằng sông Hồng (15 000 km2).
Độ phì của đất phù sa phụ thuộc vào đặc tính phù sa của các sông và chế độ canh tác của con người. Đất phù sa nhìn chung rất phì nhiêu, dễ canh tác và làm thủy lợi. Đất tơi xốp, ít chua, giàu mùn... thích hợp với nhiều loại cây trồng (lúa, hoa màu, cây ăn quả v.v...). Nhóm đất này cũng chia thành nhiều loại và phân bố ở nhiều nơi : đất trong đê, đất ngoài đê (hay đất bãi bồi) khu vực sông Hồng ; đất phù sa cổ miền Đông Nam Bộ ; đất phù sa ngọt dọc sông Tiền. sông Hậu ; đất chua, mặn, phèn ở các vùng trũng Tây Nam Bộ v.v...
Đất phù sa là đất có độ mùn cao, giàu dinh dưỡng rất thích hợp trồng các loại cây lương thực, đặc biệt là lúa nước.
Chọn: A.
Lúa nước. Khí hậu Nhiệt đới. Sông ngòi dày đặc. Nhiều sông lớn. Nhiều phù sa, đất phù sa màu mỡ
( Ko chắc đúng tin hay ko tùy bạn)
Đất feralit có đặc điểm là: màu đỏ thẫm hoặc vàng, độ phì cao thích hợp với nhiều loại cây công nghiệp (cà phê, cao su, điều, tiêu,…), loại đất này được hình thành trên loại đá badan và đá vôi.
Đáp án cần chọn là: D
Câu1: Nêu đặc điểm chung của địa hình nước ta?
* Đặc điểm chung của địa hình Việt Nam:
- Đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp:
+ Đồi núi chiếm tới ¾ diện tích lãnh thổ, đồng bằng chỉ chiếm ¼ diện tích.
+ Trên phạm vi cả nước, địa hình đồng bằng và đồi núi thấp (dưới 1000m) chiếm tới 85%, địa hình cao (trên 2000m) chỉ chiếm 1%.
- Cấu trúc địa hình khá đa dạng:
+ Địa hình nước ta có cấu trúc cổ được vận động Tân kiến tạo làm trẻ hóa, tạo nên sự phân bậc rõ rệt theo độ cao, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và phân hóa đa dạng.
+ Cấu trúc địa hình gồm 2 hướng chính:
● Hướng Tây Bắc – Đông Nam thể hiện rõ rệt từ hưu ngạn sông Hồng đến dãy Bạch Mã.
● Hướng vòng cung thể hiện ở vùng núi Đông Bắc và khu vực Trường Sơn Nam,
- Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa:
+ Xâm thực mạnh ở miền đồi núi.
+ Bồi tụ nhanh ở đồng bằng hạ lưu sông.
- Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người:
+ Con người nổ mìn khai thác đá, phá núi làm đường (hầm đèo Hải Vân)
+ Đắp đê ngăn lũ, đồng bằng sông Hồng với hệ thống đê điều dày đặc, làm phân chia thành địa hình trong và ngoài đê.
+ Phá rừng đầu nguồn, gây nên hiện tượng đất trượt đá lở; xây dựng nhà máy thủy điện…
Câu 3: Nêu đặc điểm chung của sông ngòi nước ta?
1. Đặc điểm chung
a. Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bố rộng khắp trên cả nước
- Nước ta có 2360 sông dài > 10km.
- 93% các sông nhỏ và ngắn.
- Các sông lớn: sông Hồng, sông Mê Công,…
b. Sông ngòi nước ta chảy theo hai hướng chính là tây bắc - đông nam và hướng vòng cung
- Các con sông chảy hướng tây bắc - đông nam: sông Hồng, sông Thái Bình, sông Đà,...
- Các con sông chảy hướng vòng cung (chủ yếu ở vùng núi Đông Bắc): sông Thương, sông Lục Nam,…
c. Sông ngòi nước ta có hai mùa nước: mùa lũ và mùa cạn khác nhau rõ rệt
- Mùa lũ nước sông dâng cao và chảy mạnh. Lượng nước chiếm 70 – 80% lượng nước cả năm.
- Mùa lũ có sự khác nhau giữa các hệ thống sông.
d. Sông ngòi nước ta có hàm lượng phù sa lớn
- Sông ngòi vận chuyển tới 839 tỉ m3 nước hàng trăm triệu tấn phù sa.
- Hàm lượng phù sa lớn, khoảng 200 triệu tấn/năm.


Đất trồng trọt được chia thành nhiều loại, mỗi loại có đặc điểm và phân bố khác nhau, phù hợp với những cây lương thực nhất định. Đất phù sa là loại đất màu mỡ nhất, phân bố chủ yếu ở các đồng bằng và ven sông như đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, rất thích hợp trồng lúa, ngô, khoai do giàu dinh dưỡng, tơi xốp và giữ nước tốt. Đất feralit phân bố nhiều ở vùng đồi núi, trung du, thích hợp trồng sắn, ngô và một số cây lương thực phụ; loại đất này có màu đỏ hoặc vàng, nghèo mùn, dễ bị rửa trôi nên cần cải tạo khi canh tác. Đất xám bạc màu thường gặp ở vùng trung du và rìa đồng bằng, thích hợp trồng sắn, ngô; đất này nghèo dinh dưỡng, khô hạn, cần bón phân và cải tạo đất. Đất cát ven biển phân bố dọc theo các vùng duyên hải, chủ yếu trồng khoai lang, lạc; đặc điểm là đất nhẹ, thoát nước nhanh, nghèo dinh dưỡng. Nhìn chung, mỗi loại đất có đặc điểm riêng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn cây lương thực để canh tác.
- Phân bố chủ yếu: Tập trung tại các đồng bằng lớn như Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng và dải đồng bằng duyên hải miền Trung.
- Đặc điểm:
- Được hình thành do sự bồi đắp của các hệ thống sông.
- Đất thường màu mỡ, tơi xốp, giữ nước tốt và giàu chất dinh dưỡng.
- Địa hình bằng phẳng, thuận tiện cho việc tưới tiêu.
- Cây lương thực chủ yếu:
- Lúa gạo (đây là cây trồng quan trọng nhất trên loại đất này).
- Ngoài ra còn trồng các loại cây hoa màu như: ngô, khoai, sắn và rau đậu.
2. Nhóm đất Feralit (Đất ở vùng đồi núi) Đây là nhóm đất có diện tích lớn nhất nước ta (chiếm khoảng 65% diện tích đất tự nhiên).Bảng tóm tắt so sánh
Loại đất
Phân bố
Đặc điểm chính
Cây lương thực chính
Đất phù sa
Các vùng đồng bằng
Màu mỡ, tơi xốp, giàu dinh dưỡng
Lúa gạo, ngô, rau màu
Đất Feralit
Vùng đồi núi, cao nguyên
Màu đỏ vàng, chua, dễ rửa trôi
Ngô, sắn, khoai
Tác động của việc sử dụng đất