Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Bai 5: Chua loi ve CN- VN trong cac cau sau
a, Di qua vuon nha bac Nam, thay co nhieu cay an qua.
Thiếu chủ ngữ
Sửa : Tôi thấy có nhiều cây ăn quả
b, Viec em Nga di thi hoc sinh gioi mon Toan
Thiếu chủ ngữ
Sửa : em Nga đi thi học sinh giỏ môn toán
c, Chiec xe dap cua Thuy bon bon chay tren duong va hat vang bai hat
Thiếu chủ ngữ
Sửa : Thuỳ hát vang bài hát
d, Ban Hoa, nguoi lop truong ma em yeu quy nhat.
Thiếu vị ngữ Sửa : Bạn Hoa là người lớp trưởng,....
Bai 5: Chua loi ve CN- VN trong cac cau sau
a, Di qua vuon nha bac Nam, thay co nhieu cay an qua.
->Vế sau thiếu CN
->Sửa:Đi qua vườn nhà bác Nam,Nga thấy có nhiều cây ăn qur
b, Viec em Nga di thi hoc sinh gioi mon Toan
->thừa tè’’việc’’
->Sửa : Em Nga đi thi hsg môn Toán
c, Chiec xe dap cua Thuy bon bon chay tren duong va hat vang bai hat
->Thiếu CN
->Sửa:Chiếc xe đạp của Thủy bon chen chạy trên đường và Thủy hát vang bài hát
d, Ban Hoa, nguoi lop truong ma em yeu quy nhat.
->Sửa:Bạn Hoa-người lớp trưởng mà em yêu quý nhất
-Để khuyên con người đừng sợ vấp ngã, bài văn đã lập luận bằng cách: Đầu tiên tác giả khẳng định vấp ngã là chuyện thường và sau đó nêu ra hàng loạt các dẫn chứng về những người nổi tiếng cũng từng vấp ngã, nhưng vấp ngã không làm họ nản chí mà là động lực thúc đẩy họ cố gắng vươn lên để mang về cho mình sự thành công. 5 dẫn chứng tác giả đưa ra rất tiêu biểu, chọn lọc. Cuối cùng, tác giá nêu ra cái đáng sợ hơn vấp ngã là sự thiếu cô’ gắng.
-Như vậy, tác giả đã dùng các sự thật đáng tin cậy và được nhiều người công nhận để dẫn ra. Cách lập luận như vậy rất chặt chẽ, thuyết phục người đọc.
a)ĐP được mệnh danh là thi thánh đời đường Trung Quốc nên những tác phẩm ông để lại còn nguyên giá trị đến ngày nay.Thế nên khi có dịp đến thăm bảo tàng thì các nhà khoa hoc Việt Nam rất thích thú khi đọc lại thơ thi thánh -ĐP.Khi đọc những bài thơ này chúng ta thấy ĐP có tầm nhìn xa trông rộng với một tâm sáng ngời ,lo cho cuộc sống của muôn dân.Đó là ngôi nhà chung.Ngày nay cả thế giới đang sống trong ngôi nhà chung cùng nhau xây dựng.
b)Cậu tự làm nhé
Xuân Quỳnh (1942 - 1988) là nhà thơ nữ xuất sắc nhất của nền thơ hiện đại Việt Nam. Thơ Xuân Quỳnh thường hướng vể những hình ảnh, những sự việc bình dị, gần gũi trong đời sống thường nhật trong gia đình, tình yêu, tình mẹ con, bà cháu,... Bài thơ Tiếng gà trưa là một bài thơ như thế. Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh cả nước chống dế quốc Mĩ xâm lược. Như nhiều tác phẩm đương thời, thơ Xuân Quỳnh hướng vào chủ đề bao trùm của cả nền văn học bấy giờ là lòng yêu quê hương, đất nước và cổ vũ tinh thần chiến đấu của toàn dân, trước hết là của những người cầm súng. Do đó, tuy bài thơ có nhiều kỉ niệm riêng của bản thân nhà thơ, nhưng hình tượng nhân vật trữ tình lại là người chiến sĩ đang trên đường hành quân, ra tiên tuyến. Cái tôi riêng của người nghệ sĩ và cái ta chung của cả thế hệ, cả dân tộc hoà hợp tự nhiên, hồn nhiên, toả ra những cảm hứng vừa thân thương, gần gũi vừa cao cả thiêng liêng, lay động lòng người.
Đây là tác phẩm viết theo thể thơ tự do, trừ cụm từ Tiếng gà trưa ba tiếng, còn lại, mỗi câu thơ gồm năm âm tiết, nối nhau, mở đầu và kết thúc theo ý tưởng và cảm xúc của nhà thơ. Ta có thể coi bài Tiếng gà trưa là thơ ngũ ngôn, một thể thơ gốc Việt Nam, bắt nguồn từ thể hát dặm Nghệ Tĩnh và vè dân gian. Bài thơ, vì thế, có giọng điệu kể chuyện tâm tình, nhẹ nhàng, thủ thỉ, tự sự, miêu tả và biểu cảm xen nhau. Trong bài thơ, cụm từ ba âm tiết Tiếng gà trưa điệp lại bốn lần ở đầu mỗi khổ thơ. Mỗi lần cất lên, câu thơ ấy gợi một hình ảnh, hoặc sự việc trong kỉ niệm tuổi thơ của chính tác giả và của nhân vật trữ tình - người chiến sĩ đang hành quân. Điệp ngữ Tiếng gà trưa như dòng nhạc chủ âm vừa kết nối các đoạn thơ vừa điểm nhịp cho từng cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình. Dựa vào mạch cảm xúc và diệp ngữ ấy, chúng ta có thể hiểu và suy ngẫm về bài thơ theo ba đoạn : Tiếng gà cất lên trên đường hành quân - đoạn một (khổ một, bảy câu đầu) ; Tiếng gà gọi về tuổi thơ - đoạn hai (khổ hai, ba, bốn, năm, sáu - hai mươi sáu câu tiếp theo) ; Tiếng gà giục giã tinh thần chiến đấu - đoạn ba (hai khổ thơ cuối).
Bài thơ Tiếng gà trưa được viết trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ trên phạm vi cả nước. Bị thua đau ở chiến trường miền Nam, giặc Mĩ điên cuồng mở rộng chiến tranh phá hoại bằng máy bay, bom đạn… ra miền Bắc, hòng tàn phá hậu phương lởn của tiền tuyến lớn. Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng ấy, hàng triệu thanh niên đã lên đường với khí thế xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ, Mà lòng phơi phới dậy tương lai. Nhân vật. trữ tình trong bài thơ là người chiến sĩ trẻ đang cùng đổng đội trên đường hành quân vào Nam chiến đâu.
Tiếng gà trưa đã gợi nhớ về những kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ và tình bà cháu. Tình cảm gia đình, quê hương đã làm sâu sắc thêm tính yêu đất nước.
Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai nhảy ổ:
“Cục… cục tác cục ta”
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đỡ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ
Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng
Tiếng gà trưa
Có tiếng bà vẫn mắng
– Gà đẻ mà mày nhìn
Rồi sau này lang mặt!
Cháu về lấy gương soi
Lòng dại thơ lo lắng
Tiếng gà trưa
Tay bà khum soi trứng
Dành từng quả chắt chiu
Cho con gà mái ấp
Khi gió mùa đông đến
Bà lo đàn gà toi
Mong trời đừng sương muối
Để cuối năm bán gà
Cháu được quần áo mới
Ôi cái quần chéo go
Ống rộng dài quét đất
Cái áo cánh trúc bâu
Đi qua nghe sột soạt.
Tiếng gà trưa
Mang bao nhiêu hạnh phúc
Đêm cháu về nằm mơ
Giấc ngủ hồng sắc trứng
Cháu chiến đấu hôm nay
Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì xóm làng thân thuộc
Bà ơi, cũng vì bà
Vì tiếng gà cục tác
Ổ trứng hồng tuổi thơ.
Trên đường hành quân xa
Dừng chân bèn xóm nhỏ
Tiếng gà cũ nhảy ổ
Cục… cục tác cục ta
Nghe xao động nắng trưa
Nghe bàn chân đờ mỏi
Nghe gọi về tuổi thơ.
Người chiến sĩ chống Mĩ cứu nước - đoàn quân ra tiền tuyến, trong đó có nhà thơ - kể một sự việc bình thường mà thú vị. Trên đường hành quân, lúc lạm nghỉ ở một xóm nhỏ bên đường, chiến sĩ ta bỗng nghe tiếng gà nhảy ổ vang lên Cục... cục tác, cục ta. Câu thơ ghi âm tiếng gà kêu nghe rất đỗi thân thương, gần gũi. Tiếp sau đó, điệp từ nghe nối nhau, nhắc lại ba lần như những dư ba kì diệu của tiếng gà. Tiếng gà làm xao động, làm dịu bớt cái nắng trưa gay gắt, xua tan những mệt mỏi nơi người chiến sĩ và ... đánh thức những kì niệm xa xưa, gợi về tuổi thơ, đưa các anh, các chị sống lại những năm tháng hồn nhiên, tươi đẹp nhất của đời người. Bài thơ Tiếng gà trưa ra đời trong những ngày cả nước chống Mĩ sôi động và quyết liệt. Đoạn mở đầu này kể về một sự việc đời thường, thơ mộng, góp phần làm dịu bớt không khí nóng bức của chiến tranh, mở ra một không gian và thời gian thanh binh sâu lắng giúp cho những người lính, những bạn đọc thuở ấy cũng như chúng ta ngày nay được chút thời gian yên tĩnh trong cõi lòng để lắng sâu.
Tiếp theo, theo những hồi tưởng, kỉ niệm dần ùa về
Tiếng gà trưa
Ổ rơm hồng những trứng
Này con gà mái mơ
Khắp mình hoa đốm trắng
Này con gà mái vàng
Lông óng như màu nắng
Những kỉ niệm tuổi thơ thật bình dị khiến cho nhân vật như trải qua những cảm xúc tuôi thơ trong sáng. Hình ảnh những con gà mái mơ, mái vàng, ổ rơm hồng những trứng dường như luôn thương trực trong tâm trí của anh. Nối tiếp những hình ảnh gần gũi của tuổi thơ này, người bà hiện ra trong khổ thơ tiếp theo:
Tiếng gà trưa
Có tiếng bà vẫn mắng
– Gà đẻ mà mày nhìn
Rồi sau này lang mặt!
Cháu về lấy gương soi
Lòng dại thơ lo lắng
Có bóng dáng thân thuộc của bà:
Tiếng gà trưa
Tay bà khum soi trứng
Dành từng quả chắt chiu
Cho con gà mái ấp
Tiếng gà trưa gợi bao kỉ niệm đẹp thời thơ ấu được sống trong tình yêu thương của người bà. Tiếng bà mắng, tay bà khum soi trứng, bóng dáng thân thuộc của bà, tất cả những hình ảnh sống lại cho ta thấy sự tần tảo, chắt chiu luôn chăm lo cho cháu của người bà. Để rồi:
Cứ hàng năm hàng năm
Khi gió mùa đông đến
Bà lo đàn gà toi
Mong trời đừng sương muối
Để cuối năm bán gà
Cháu được quần áo mới”
Biết bao khó khăn khi gió mùa đông đến, trời giăng sương muối, bà không lo cho bà mà chỉ lo cho đàn gà. Tất cả để đánh đổi lấy niềm vui của cháu, để cuối năm cháu được có quần áo mới. “Cứ hàng năm hằng năm” cụm từ chỉ thời gian kéo dài, cho ta thấy đức hi sinh, nhẫn lại của người bà đồng thời qua giọng thơ ta cũng thấy được niềm kình yêu vô bờ của người cháu đối với bà.
Càng về cuối, kỉ niệm tuổi thơ càng da diết cảm dộng. Qua những dòng thơ êm nhẹ, thánh thót như những nốt nhạc trong veo, hình ảnh người bà Việt Nam hiện lên đẹp như một bà tiên vậy. Bà dành tất cả sức lực và tình thương yêu cho đứa cháu nhỏ. Bà đã tần tảo, chắt chiu chăm sóc, nâng đỡ từng quả trứng, từng chú gà con, như chắt chiu, nâng đỡ những ước mơ hạnh phúc đơn sơ, nhỏ bé của đứa cháu yêu. Hình ảnh đứa cháu được mặc bộ quần áo mới do công lao nuôi gà của bà ban tặng, hồn nhiên, ngây thơ làm sao. Chí là "cái quần chéo go", "cái áo cánh trúc bâu" (những loại vải rẻ tiền, mà ngày nay ít người dùng) nhưng đứa cháu - chắc là một cô gái - đã vô cùng cảm động, sung sướng. Đấy đâu chỉ là bộ quần áo dài rộng, cựa quậy một tí là bật ra tiếng sột soạt, mà là biết bao hạnh phúc, biết bao tấm lòng bà đã dành cho cháu. Hình ảnh và tâm trạng người thiếu niên - những chiến sĩ chống Mỹ thuở ấu thơ - được khắc hoạ chân thực, mang bản chất nông dân, bản sắc Việt Nam, thật là đáng trân trọng. Đó là những con người giản dị, được lớn lên trong tình thương yêu, nâng đỡ của quê hương, của những người ruột thịt. Được hưởng hạnh phúc ấy, họ thực sự cảm động và mãi nhớ ơn quê hương, ông bà, cha mẹ. Riêng với nữ sĩ Xuân Quỳnh, có lẽ mối tình sâu nặng và ân nghĩa nhất là tình bà cháu. Nếu không nhớ thương, biết ơn bà, làm sao mà viết được những câu thơ, ghi lại được những kỉ niệm đẹp như thế. Thơ với đời, hiện tại và quá khứ cứ đan xen, gắn bó hài hoà, tự nhiên, hồn nhiên, trong veo như nắng trưa và gió mát ngày hè vậy.
Món quà tuổi thơ từ đàn gà mà bà chăm chút của nhân vật cuãng vô cùng giản dị:
Ôi cái quần chéo go
Ống rộng dài quét đất
Cái áo cánh trúc bâu
Đi qua nghe sột soạt
Trong đoạn thơ tràn đầy niềm vui thích. Tiếng gà, ổ trứng chính là những hình ảnh đã nuôi...
Đối với mọi người, hồn quê có thể là cây đa, bến nước, mái đình,có thể là bếp rơm bập bùng buổi sáng, tiếng gà gáy,ve kêu,đôi khi lại là cánh đồng lúa vàng .Nhưng với tôi, thì hồn quê là Cốm.
Cốm là thứ quà riêng biệt của đất nước, là thức dâng của những cánh đồng lúa bát ngát xanh, mang trong hương vị tất cả cái mộc mạc, giản dị và thanh khiết của đồng quê nội cỏ. "Cốm" thứ quà từ lúa nếp non, hạt ngọc của đất trời được làm ra từ những đôi tay cần mẫn của những bác nông dân Hà Nội. Xen lẫn thưởng thức với "Cốm" là "trà sen", thứ trà được ướp từ những hạt sen ở Hồ Tây, được ví như tinh hoa của trời đất. Sự kết hợp tinh tế giữa trà sen Hồ Tây và cốm làng Vòng đã tạo sự khác biệt cho quán.
Ngồi nhâm nhi uống một cốc trà sen và ăn những hạt cốm xanh quả là cách thưởng thức thanh cao, nơi hội tụ đỉnh cao của cái tinh tế, phong cách tao nhã, thanh lịch và thú chơi thanh đạm của người Tràng An. Sự ấn tượng về quán còn nữa khi bước vào đây là sự đón tiếp nồng hậu của những cô gái mặc áo yếm màu tím, cầm trên tay là những bông sen còn mơn mởn khoe sắc, đứng chào khách và còn được nghe các cô giới thiệu về cách thưởng thức trà; rót trà. Đây quả là cách phục vụ rất làm hài lòng khách mà anh thấy chỉ có ở đây. Quán có một không gian thoáng đãng, được trang trí rất hài hòa giữa thiên nhiên và những đồ dùng mộc mạc làm tôn lên vẻ đẹp thuần túy của quán. Nghe kể về lịch sử hồ Tây và cảm nhận những làn gió mát của mùa thu Hà Nội, đó là những giây phút thật tuyệt vời.
Mỗi độ heo may về, trong ký ức của người Hà Nội lại nhớ đến hương cốm ngầy ngậy của làng Vòng. Quả thực, bức tranh thu Hà thành sẽ thiếu hụt biết bao nếu thiếu đi một nhúm nếp xanh bọc trong lá sen và quấn sợi rơm non, một thứ quà quê kiểng đặc trưng của ẩm thực Hà Thành.
Quanh ngoại thành bây giờ rất nhiều vùng có lúa nếp và có thể làm cốm nhưng vùng đất cốm nổi tiếng nhất từ trước đến nay chính gốc tại làng Vòng.
Cốm ngon hay kém chủ yếu phụ thuộc vào giống nếp. Tại mỗi mẻ cốm ra lò còn có cốm lá me, cốm rót, cốm mộc và cốm non thông thường.
Cốm lá me là những mầm nếp mỏng dính như thể hoặc hơn lá me, bé tí bay ra trong khi đang sàng cốm sau đợt giã cuối. Loại cốm này số lượng bao giờ cũng ít và hiếm, nếu có chỉ dành cho gia chủ thưởng thức mà thôi.
Loại ngon thứ nhì và nhiều hơn là cốm rót. Đây là những hạt nếp non sau khi giã đã tự vón vào với nhau thành từng hạt ngô, hạt đỗ. Mỗi mẻ chỉ được khoảng 2/10 khối lượng cốm rót, thậm chí ít hơn, đặc biệt đến cuối mùa thì càng hiếm. Cốm còn lại là trong cối giã là cốm đầu nia loại 1, loại 2 như ta vẫn thấy bán.
Độ ngon ngọt thơm mềm và màu xanh tự nhiên của cốm phụ thuộc vào thời điểm đầu, giữa, cuối vụ. Đến cuối tháng, cốm mộc là nếp cuối mùa nên hạt to và cứng thường để rang thành cốm khô hay gia giảm, pha chế ăn tạm đợi mùa sau. Cốm mộc cũng phải có màu xanh của mạ già pha ánh vàng mới đúng nguyên chất, còn cốm đã bị hồ qua trông xanh tươi mát mắt nhưng chất lượng pha đắng chẳng còn vị cốm thật.
Cốm vòng ăn tươi thì ngon tuyệt còn mang đi xa cũng vẫn có thể đảm bảo mùi vị chất lượng trong vài ngày nếu như bọc kỹ bằng cả lá dáy và lá sen.
Riêng cốm tươi mua về ăn không hết, bạn có thể rang khô cùng cho những bữa tiệc mang hương vị riêng của cốm như: chè cốm, cốm xào, cốm đúc trứng.
Giờ đã bắt đầu một mùa nếp mới, hương vị ngầy ngậy của cốm Vòng đang thoang thoảng ngọt ngào trong gió thu. Cốm là thứ quà không phải để ăn no. Người sành ẩm thực nhâm nhi hạt cốm làng Vòng với chén nước chè Thái hay thưởng thức cốm với những quả chuối tiêu trứng cuốc.
Đây quả là diễm phúc của người họa sĩ vẽ tranh tĩnh vật gửi vào vật vô tri tất cả nỗi niềm vô cùng biết ơn của mình đối với đất nước giàu tươi, đối với lượng cả của đất lượng đang ban lộc ban phúc cho cuộc sống của lúa, của quả của con người. Ai khó tính và cầu kì màu sắc cứ nói gì thì nói nhưng theo tôi cái màu xanh của cốm Vòng là thứ màu xanh đẹp hơn cả cái màu xanh của ngọc thạch, cốm xanh đậm ấy mà lại là lá sen xanh phấn làm đĩa đựng càng thấy mình cùng tạo vật sao mà nó chan hòa cảm thông đến được như thế. Cốm rờn lên một niềm vui bất tận xanh, mà trên mặt đó lại cho chằng lên một múi lạt chữ thập nhuộm đỏ cánh sen để gửi đến ngõ nhà người yêu, để đặt trên bàn tiệc cưới, đám hỏi, thì quả cái màu xanh thật là màu của nguyện ước hạnh phúc.
Từ một món ăn dân dã là cốm, tác giả đã đề cập đến nhiều điều có ýnghĩa sâu xa trong cuộc sống. Có một cái gì đó thật gần gũi giữa hương vị thanh đạm của cốmvới phẩm chất thuần hậu, chất phác của những người nông dân một nắng hai sương, gắn bó với mảnh đất của tổ tiên, ông cha để lại; đổ bao mồ hôi, công sức để làm ra hạt lúa nuôi đời.
Cuộc sống ngày nay nhiều những bộn bề công việc gia đình. Để tìm được những gánh hàng rong mang những gói cốm cũng là một việc không phải dễ dàng. Thế nên, chúng ta cần phải có những biện pháp để bảo tồn những đặc sản mang cả ý nghĩa văn hóa một thời như Cốm để tất cả chúng ta có thể tìm được những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc.
Đa nghĩa là nhiều ý nghĩa ít nhất là từ hai trở lên. vì vậy trong bài thơ bánh trôi nước đã sử dụng 2 nghĩa : Nghĩa thực và nghĩa ẩn dụ.
Nghĩa thực nói về món ăn truyền thống của dân tộc ta.
Nghĩa ẩn dụ nói về tấm lòng son sắc thủy chung của người phụ nữ xã hội phong kiến xưa.
Sự thiếu thốn về vật chất được trinh bày theo một trình tự tăng dần.Bạn học sinh đã chép sai ở câu 3,4 và 5,6.Phải hoán đổi câu 5,6 lên trước câu3,4 mới thể hiện sự mạch lạc trong văn bản
1. "Mặt trời xuống biển như hòn lửa"
- Biện pháp tu từ: So sánh.
- Dấu hiệu nhận biết: Có từ so sánh "như", so sánh "mặt trời" với "hòn lửa".
- Tác dụng: Gợi hình ảnh mặt trời đỏ rực, tròn trịa, đang lặn xuống biển giống như hòn lửa khổng lồ, tạo vẻ đẹp rực rỡ, tráng lệ cho cảnh hoàng hôn.
1.-bptt: so sánh
- dấu hiệu: có từ “như” là so sánh mặt trời với hòn lửa
- tác dụng: làm nổi bật vẻ đẹp rực rỡ, tráng lệ, đỏ rực của mặt trời lúc hoàng hôn, gợi hình ảnh gần gũi và sống động
2. - bptt: nhân hóa
- dấu hiệu: dùng từ “uốn mình”, “ôm lấy” nó vốn là hành động của con người, gán cho dòng sông
- tác dụng: gợi hình ảnh dòng sông mềm mại, duyên dáng, hiền hòa; tạo cảm xúc gần gũi, thân thương
3. - bptt: hoán dụ
- dấu hiệu: hình ảnh “mái tóc bạc” dùng để chỉ cha (dấu hiệu tuổi tác)
- tác dụng: làm nổi bật hình ảnh người cha già lam lũ, giàu tình thương, chăm sóc con cái
4.- bptt: so sánh.
- dấu hiệu: có từ “như” → so sánh cây gạo già với người lính gác
- tác dụng: làm nổi bật dáng đứng vững chãi, hiên ngang, có sức bảo vệ của cây gạo; gợi cảm giác trang nghiêm, bền bỉ
a, Bài văn nghị luận Lòng khiêm tốn giải thích về lòng khiêm tốn, đó là đức tính mà tất cả mọi người đều nên có.
Cách giải thích:Dùng rất nhiều lí lẽ, hầu như không có dẫn chứng.Ngoài ra tác giả còn giải thích bằng cách liệt kê ra các biểu hiện, so sánh đối chiếu với các hiện tượng khác, nêu định nghĩa, chỉ ra các mặt lợi, nguyên nhân hậu quả của lòng khiêm tốn.
Các câu có định nghĩa như: Lòng khiêm tốn có thể coi là một bản tính..... là:
-Lòng khiêm tốn có thể coi là một bản tính căn bản của con người trong nghệ thuật xử thế và đối đãi với sự vật.
-Khiêm tốn là biểu hiện của con người đứng đắn, biết sống theo thời và biết nhìn xa.
-Con người khiêm tốn bao giờ cũng là con người thường thành công trong mọi lĩnh vực giao tiếp với mọi người.
-Khiêm tốn là tính nhã nhẵn, biết sống biết sống một cách nhún nhường, luôn luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, bao giờ cũng không ngừng học hỏi.
-Con người khiêm tốn luôn luôn là con người biết mình hiểu người, không tự đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một ý thức chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với mọi người.
Việc tác giả dùng nhiều câu định nghĩa trong bài văn cũng là một cách chứng minh.
b,Mục đích của giải thích là nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm của con người.
Các phương pháp giải thích là:Nêu định nghĩa, kể ra các biểu hiện, so sánh, đối chiếu với các hiện tượng khác, chỉ ra các mặt lợi, hại, nguyên nhân, hậu quả, cách để phòng hoặc noi theo,... của hiện tượng hoặc vấn đề được giải thích.
a. Bài văn giải thích về lòng khiêm tốn, tác giả đã giải thích bằng cách kê ra các biểu hiện, so sánh đối chiếu với các hiện tượng khác, nêu định nghĩa, chỉ ra các mặt lợi, nguyên nhân hậu quả của lòng khiêm tốn.
b. Những câu văn định nghĩa có trong bài văn:
- Lòng khiêm tốn có thể coi là một bản tính căn bản cho con người trong nghệ thuật xử thế và đốì đãi với sự vật. - Khiêm tốn là biểu hiện của con người đứng đắn, biết sống theo thời và biết nhìn xa.
- Con người khiêm tốn bao giờ cũng là con người thường thành công trong mọi lĩnh vực giao tiếp với mọi người. -
Khiêm tôn là tính nhã nhặn, biết sông một cách nhún nhường, luôn hướng về phía tiến bộ, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời, bao giờ cũng không nguôi học hỏi.
- Con người khiêm tốn luôn luôn là con người biết mình hiểu ngưới, không tự đề cao vai trò, ca tụng chiến công của cá nhân mình cũng như không bao giờ chấp nhận một tinh thần chịu thua mang nhiều mặc cảm tự ti đối với cuộc đời. Việc tác giả dùng nhiều câu định nghĩa trong bài vãn cũng là một cách giải thích của tác giả.
cchúc p hk tốt
ông cha như núi ngất trời,
Nghĩa mẹ như nước ở ngoài Biển Đông.
Núi cao biển rộng mênh mông,
Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!
Bài làm
Từ nhỏ tôi đã thích âm nhạc, nhất là những bài viết về tổ ấm gia đình, về trách nhiệm, công ơn của cha mẹ. Nhưng không phải chỉ có các nhạc sĩ mới viết về cha mẹ, gia đình, mà còn có trong thơ, văn, mà nhất là trong ca dao dân ca, công ơn cha mẹ được đề cập đến nhiều. Có một bài mà tôi đã thuộc lòng: Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài Biển Đông. Núi cao biển rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi! Đây là lời của một người mẹ ru đứa con bé bỏng của mình ngủ ngon, vừa nhắc nhở công ơn trời biển của bố mẹ đối với con và bổn phận của con phải sống như trái tim con mách bảo. Lời ru ngọt ngào bao nhiêu, tâm hồn đứa trẻ càng thấm thìa bấy nhiêu. Chắc ai cũng sè nghĩ rằng nếu được sông trong vòng tay của bo» mẹ thì sẽ rất hạnh phúc. Bởi vì bô' mẹ nuôi nấng, dạy dỗ ta nên người. Hai câu đầu đã nói đến công lao đó. Bài ca dao đã lấy hình ảnh “núi ngất trời" và “biển rộng mênh mông” để nói đến công ơn ấy. Núi và biển là biểu tượng cho sự vĩnh hằng, bất diệt của thiên nhiên, lại là hình ảnh so sánh với công cha nghĩa mẹ. Một hình ảnh vẽ chiều đứng, một hình ảnh vẽ chiều ngang rất hài hòa làm không gian bỗng trở nên bát ngát, mênh mông, hùng vĩ. Tiếp câu thứ ba, “núi cao”, “biển rộng” được lặp lại hai lần khiến núi càng cao, biển càng rộng và khó mà đo được, cũng như công cha nghĩa mẹ không thể nào tính được. Kết hợp nghệ thuật so sánh, điệp từ và một số từ láy làm công cha, nghĩa mẹ càng sâu đậm. Bằng thể thơ lục bát dễ đi vào tâm hồn người đọc, bài ca dao càng sâu sắc hơn. Càng về cuối, tình cảm của người mẹ càng lộ rõ và nồng cháy. Dân gian đã khéo kết hợp thành ngữ “cù lao chín chữ” làm ta thấm thìa một bài học lớn. Bôn tiếng “ghi lòng con ơi” như nhắc nhở với con cần có thái độ và hành động thế nào để đền đáp công ơn trời biển của cha mẹ. Qua bài ca dao, em càng hiểu và cảm ơn công ơn sinh thành củ bố mẹ. Em sẽ cố gắng học giỏi để đền đáp công lao vất vả của bố mẹ. Em yêu bài hát có câu: Ba mẹ là lá chắn che chở suốt đời con... Con đừng quên con nhé, ba mẹ là quê hương.
Trong không gian bình dị và thanh thản của những ngày cuối tháng tư, của hoa loa kèn và nền trời xanh đầu hạ, nhạc sỹ Phạm Tuyên nhỏ nhẹ, chậm rãi ôn lại thời khắc “trả được món nợ cuộc đời” khi viết ca khúc “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” góp “một tiếng reo vui” mừng ngày Giải phóng!
Người nghệ sỹ Phạm Tuyên của ngày ấy, giờ đã là ông cụ (ngoại tám mươi mùa xuân) vẫn cứ tin rằng điệp khúc“Việt Nam Hồ Chí Minh…” được xướng lên hùng hồn sau thông báo tin độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên Đài Tiếng nói Quốc gia buổi chiều 30/4/1975 như đã có từ trước…
Video Player
00:00 02:40
Như có Bác trong ngày vui đại thắng - (Phạm Tuyên) - Tuyết Thanh - Đặng Hùng - Hợp xướng Đài TNVN
Nếu không phải ông thì cũng sẽ là một người khác cất lên “tiếng reo vui” ấy của lòng dân.
Để rồi đã qua 37 năm lửa và hoa, thật khó tin giữa thời bình hôm nay, lời ca dản dị, giai điệu vui tươi ngỡ như bài hát thiếu nhi ấy vẫn vang lên thật linh thiêng mỗi dịp chào mừng ngày 30/4 lịch sử và các lễ kỷ niệm trọng đại.
Cũng bài hát đó, sao hồn nhiên, trong sáng đến thế trong tiếng hát trẻ thơ? Sao nghe da diết, cồn cào mỗi khi “giã bạn” ở những miền đất ngược… Và tại nơi không thuộc về bầu trời Việt Nam, giai điệu ấy lại trở thành tiếng trống gọi quân ở nước bạn xa xôi. Để rồi đưa đến mối duyên gặp gỡ định mệnh xóa mờ mọi ranh giới địa lý, ngôn ngữ, ranh giới bạn và thù, giữa đội quân bên này và bên kia…
Bên ô cửa sổ phòng khách người nhạc sỹ già không giấu được niềm xúc động và phấn khích, dõi đôi mắt nhòa lệ như nhìn về quá khứ để nhớ lại thời khắc bài hát “Như có Bác trong ngày đại thắng” được chọn trong ngày lịch sử.
Môi run run, nhạc sỹ Phạm Tuyên xúc động: "Có lẽ trong cuộc đời mình, chưa bao giờ tôi được chứng kiến lần thu thanh nào cảm động như thế...."
Từ 13h30 chiều ngày 30/4 tất cả anh em ca sỹ của Đài Tiếng nói Việt Nam được huy động dàn dựng bài hát này từ cổng ra vào đến trong phòng thu. Ông kể, trong buổi chiều đáng nhớ đó, từ người kéo đàn, người chỉ huy, người lĩnh xướng đều khóc vì vui, niềm hạnh phúc dâng trào non sông thống nhất, khóc vì những ngày gian khổ, chia cắt...
"Giây phút ấy tôi lặng người vì không tin những lời ca này là bài hát của mình, nghe như bài hát này có từ trước. Nếu giờ phút ấy tôi không viết thì sẽ có người khác viết thôi! Tôi như người ghi sẵn những âm hưởng tự đến như là định mệnh.”
Ngày đó, nhạc sỹ Phạm Tuyên đã 40 tuổi, làm ở Đài Tiếng nói Việt Nam, phụ trách biên tập âm nhạc. Khi nghe Tổng biên tập, lúc đó là đồng chí Trần Lâm giao nhiệm vụ "sắp tới sẽ có chiến thắng rất lớn, vĩ đại nên anh em nghệ sỹ phải có tác phẩm hoành tráng để ăn mừng.”
Nghĩ đến chiến thắng vĩ đại, trong đầu ông chắc mẩm "Mình sẽ phải sáng tác một hợp xướng bốn chương.Thế mới có thể hoành tráng được! Theo lý trí chương một là Miền Bắc lũy thép, chương hai Miền Nam thành đồng, tiếp là thế giới – Việt Nam và chương cuối cùng là Ngày vui chiến thắng. "
Ngồi đối diện, ông cười xòa: "Đấy cứ nghĩ như thế và ngồi viết theo lý trí chứ không phải tình cảm lắm đâu. Tình cảm lúc đó đã dồn vào bước chân quân giải phóng hết cả."
"Tôi nhớ tối 28/4 lúc đó là 9h30 tối, Đài báo một phi công ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, tôi mới giật mình. Ôi! Đến Tân Sân Nhất là đến Sài Gòn, không khéo ngày mai giải phóng”.
Nhưng chính lúc như có tiếng chân quân giải phóng tiến vào Sài Gòn thúc giục trong lòng ấy, trong đầu ông chợt nghĩ “bây giờ phải có tiếng reo vui, ngày mai giải phóng người người đổ ra đường, nhà nhà đổ ra đường reo vui. Lúc đấy chắc chẳng có ai ngồi nhà mà nghe hợp xướng.”
"Lòng mình cũng lạ lắm! Tình cảm ở đâu bỗng bùng lên sôi sục trong lòng. Mình cũng muốn reo lên mừng ngày đại thắng." Run run, nhạc sỹ Phạm Tuyên kể giây phút huy hoàng duy nhất trong cuộc đời sáng tác của mình "Cảm hứng tự nhiên dâng trào, lời ca, giai điệu cứ như cơn thác không ngừng chảy từ khối óc vào trong huyết quản..."
"Như có Bác trong ngày đại thắng"
"Tiếng reo vui đầu tiên cất lên chính là điệp khúc 'Việt Nam Hồ Chí Minh' nhắc đi nhắc lại. Tim tôi đập rộn rã, tay thấm đẫm mồ hôi, rồi liên tiếp những câu đầu... một mạch đến 11h đêm thì hoàn thành. Viết xong thì người tôi nhẹ bỗng, thanh thản đã trả được món nợ tình cảm."
Nhưng cũng ít ai biết rằng, khi đưa "Như có Bác trong ngày đại thắng" lên duyệt ban biên tập, nhiều người"chê" viết mừng thắng lợi vĩ đại sao giống bài hát thiếu nhi thế!
Mỉm cười hiền từ, nhạc sỹ Phạm Tuyên nhớ lại: "Đang 'bí' vì chưa kiếm đâu ra một bài hát mới phát sau tin tuyên bố độc lập theo chỉ thị của Trung ương "không thể hát Tiến về Sài Gòn nữa vì đã tiến về rồi, lại càng không thể hát Giải phóng miền Nam vì cũng đã giải phóng rồi..." Từ chân cầu thang, nghe Phạm Tuyên hát "Như có Bác trong ngày vui đại thắng" bất ngờ, đồng chí Trần Lâm chạy lên vỗ vai mừng rỡ "Ôi! chỉ cần bài này thôi, không cần bài nào to hơn nữa đâu!"
Thu thanh xong, buổi chiều 30/4/1975 sau khi Đài phát tin tuyên bố thắng lợi ra thế giới, bài hát "Như có Bác trong ngày đại thắng" dõng dạc vang lên đầy hùng tráng, tự hào cho đến hết đêm. Sáng hôm sau, khi đi qua Hồ Gươm, xe quân nhạc đã thổi rộn rã và vang khắp hang cùng, ngõ hẻm trong Sài Gòn ít ngày sau đó.
Nhấp ngụm trà, ông kể tôi nghe một kỷ niệm trong lần đi công tác miền trong: "Khi kể chuyện sáng tác bài hát 'Như có Bác trong ngày đại thắng' trong vỏn vẹn hai tiếng đồng hồ. Anh phóng viên, trố mắt ngạc nhiên và thật thà bảo: Thế một ngày 8 tiếng ông sáng tác 4 bài. Biết anh chỉ nói đùa nhưng tôi nghiêm mặt: Hai tiếng nhưng cộng cả cuộc đời!”
Không sinh ra trong thời đạn lửa, không thấm được thế nào là gian khổ, hy sinh, không nếm qua lầm than nô lệ, đất nước chia cắt... sẽ không có bài hát như thế. Nó là kết tinh của một thời kỳ lịch sử.
"Phạm Tuyên tôi nếu không trải qua chiến đấu gian khổ, đi Trường Sơn cứu nước, không nếm trải giữa gang tấc sống chết trong chiến tranh... chắc chắn không thể viết được bài hát này, ca từ này, cảm xúc này giữa đêm trước ngày đại thắng," Người nghệ sỹ bùi ngùi.
37 năm- Sức sống một bài hát và những điều khó tin
Nhạc sỹ Phạm Tuyên tâm sự, viết ca khúc cộng đồng rất khó mà cũng rất dễ. Khó vì phải ngắn gọn và dễ là phải thật tình, khái quát “Việt Nam Hồ Chí Minh”, lại vừa cụ thể “Ba mươi năm đấu tranh giành toàn vẹn non sông. Ba mươi năm dân chủ cộng hòa chiến thắng đã thành công.”
Trước đây anh Huy Cận có nói với tôi “Tuyên ơi, việc cậu làm được lớn nhất là cậu đã cho một bài hát Việt Nam thay thế một bài hát của Trung Quốc 'Kết đoàn chúng ta là sức mạnh' trong các cuộc hội nghị míttinh trước đây." Nhưng ông luôn tâm niệm, tuy mình sáng tác ra nó thật nhưng nhân dân là người lựa chọn và quyết định.
"Nói cho cùng, trong cuộc đời tôi sáng tác mấy trăm bài nhưng bài hát này đạt ba yếu tố thiên thời-địa lợi-nhân hòa. Ra đời đúng lúc 30/4, cả đất nước thống nhất, mọi người vui, hân hoan trong niềm vui độc lập.
Tếu táo, ông kể lại chuyện: "Mấy hôm trước tôi lên Cao Bằng, mọi người chẳng biết tôi là ai đâu. Thật thú vị khi kết thúc hội nghị, mọi người bỗng cất cao giọng hát “Như có Bác trong ngày vui đại thắng”.
Tôi quay sang thử hỏi anh chiến sỹ đứng cạnh “bài này là bài hát gì thế?" Anh trố mắt nhìn tôi như người trên trời rơi xuống “bác không biết bài này à”. Tôi lại hỏi “của ai thế?” Anh cười cười “cháu không biết của ai”.Trên này, chúng cháu gọi là bài “Giã bạn” - thêm không khí sôi nổi, tình cảm trong cuộc gặp gỡ, chia tay.
Trong một chuyến công tác khác ở Tây Ninh, kết thúc buổi họp bỗng có một cô gái trẻ tìm gặp tôi: "Cháu chào bác. Bác đã đặt tên cháu đấy!" Đang không hiểu chuyện gì xảy ra, cô gái cười tươi: "Nhờ có bài 'Như có Bác trong ngày đại thắng' mà cháu có tên là Huy Hoàng..."
Nghe cô kể chuyện, hóa ra cô được sinh vào ngày 30/4/1975. Sau khi nghe bài hát được phát đầu tiên vào buổi chiều ngày hôm ấy, bố cô đã nhắn về "Nếu là con trai sẽ đặt tên là Đại Thắng." Khi biết là con gái, người bố ấy không nao núng, hát vang cả bài, đến đoạn "Lời bác nay đã chiến thắng Huy Hoàng... thì ngừng lại vì đã tìm được tên cho cô con gái bé bỏng.
Nghe câu chuyện xúc động của người nhạc sỹ tuổi đã gần đất xa trời, khiến tôi bùi ngùi nhớ tới không khí tưng bừng của tiếng hô đồng thanh "Việt Nam Hồ Chí Minh..." mỗi khi ở sân vận động. Đặc biệt những trận bóng quan trọng có đội tuyển Quốc gia Việt Nam.
"Như có Bác trong ngày đại thắng."
Đồng cảm với tôi, ông lắc đầu cười: "À, đấy! Bài hát thì của mình nhưng nó cứ đi vào đời sống, vào cộng đồng mỗi nơi mỗi vẻ. Như hôm nọ tivi chiếu trận bóng có đội Sông Lam Nghệ An, cũng hát bài này nhưng các fan hâm mộ đổi là “Nghệ An, Hồ Chí Minh...”
Nhưng thế vẫn chưa hết những điều ngạc nhiên xung quanh bài hát này. Sau 37 năm, từ buổi chiều ngày 30/4/1975, sức sống của bài hát Việt Nam đã thấm đượm tình cảm trong lòng bạn bè quốc tế.
Giọng hào hứng, nhạc sỹ Phạm Tuyên nhớ lại kỷ niệm khó quên năm 1979, khi đưa đoàn Việt Nam sang Nhật, giữa đất nước hoa Anh đào người nhạc sỹ tưởng tai mình đang bị ù đi vì nghe nhầm khi nghe các bạn Nhật cất cao giai đi...
khuyên bn đừng cho câu hỏi như này
ko nhắn linh tinh , xúc phạm , nhạy cảm bạn nhé