K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

25 tháng 9 2025

Độ cao tối đa quả bóng đạt được là khoảng 11.48 mét.

25 tháng 9 2025

độ cao là 11.48 m

7 tháng 2 2019

Thiên văn học là một trong những ngành khoa học cổ nhất. Các nhà thiên văn học của những nền văn minh đầu tiên đã tiến hành những cuộc quan sát có phương pháp bầu trời đêm, và các dụng cụ thiên văn học đã được tìm thấy từ những giai đoạn còn sớm hơn nữa. Tuy nhiên, sự xuất hiện của kính viễn vọng là thời điểm thiên văn học bắt đầu bước vào giai đoạn khoa học hiện đại. Về lịch sử, thiên văn học từng gồm cả các ngành đo sao, hoa tiêu thiên văn, quan sát thiên văn, làm lịch, và thậm chí cả chiêm tinh học, nhưng ngành thiên văn học chuyên môn hiện đại ngày nay thường chỉ có nghĩa vật lý học thiên thể.

Từ thế kỷ XX, lĩnh vực thiên văn học chuyên nghiệp được chia thành các nhánh quan sát và thực nghiệm. Thiên văn học quan sát chú trọng tới việc thu thập và phân tích dữ liệu, sử dụng các nguyên tắc cơ bản của vật lý. Thiên văn học lý thuyết định hướng theo sự phát triển các mô hình máy tính hay mô hình phân tích để miêu tả các vật thể và hiện tượng thiên văn. Hai lĩnh vực bổ sung cho nhau, thiên văn học lý thuyết tìm cách giải thích các kết quả quan sát, và việc quan sát lại thường được dùng để xác nhận các kết quả lý thuyết.

Các nhà thiên văn nghiệp dư đã đóng góp nhiều khám phá quan trọng cho thiên văn học, và thiên văn học là một trong số ít ngành khoa học nơi các nhà thiên văn nghiệp dư có thể đóng vai trò quan trọng, đặc biệt trong sự phát hiện và quan sát các hiện tượngthoáng qua.

Thiên văn học cổ hay thậm chí thiên văn học cổ đại không nên bị nhầm lẫn với ngành chiêm tinh học, hệ thống niềm tin rằng những công việc của con người liên quan tới các vị trí của các vật thể vũ trụ. Dù hai lĩnh vực cùng có nguồn gốc chung và một phần phương pháp thực hiện (cụ thể, việc sử dụng lịch thiên văn), chúng là khác biệt

7 tháng 2 2019

Trả lời :

Thiên văn học là việc nghiên cứu khoa học các thiên thể (như các ngôi sao,hành tinh, sao chổi, tinh vân, quần tinh, thiên hà) và các hiện tượng có nguồn gốc bên ngoài vũ trụ (như bức xạ nền vũ trụ). Nó nghiên cứu sự phát triển, tính chất vật lý, hoá học, khí tượng học, và chuyển động của các vật thể vũ trụ, cũng như sự hình thành và phát triển của vũ trụ.

Thiên văn học là một trong những ngành khoa học cổ nhất. Các nhà thiên văn học của những nền văn minh đầu tiên đã tiến hành những cuộc quan sát có phương pháp bầu trời đêm, và các dụng cụ thiên văn học đã được tìm thấy từ những giai đoạn còn sớm hơn nữa. Tuy nhiên, sự xuất hiện của kính viễn vọnglà thời điểm thiên văn học bắt đầu bước vào giai đoạn khoa học hiện đại. Vềlịch sử, thiên văn học từng gồm cả các ngành đo sao, hoa tiêu thiên văn, quan sát thiên văn, làm lịch, và thậm chí cả chiêm tinh học, nhưng ngành thiên văn học chuyên môn hiện đại ngày nay thường chỉ có nghĩa vật lý học thiên thể.

Hok tốt

#Nguồn : Gồ-sama ( Wikipedia-sama )

cố 1 lạnh hơn và chiếm nhiều dt nhất. ko tràn ra vì sau khi đá tan, phần nước thêm vào sẽ lấp đầy đúng khoảng trống mà phần đá chìm đã chiếm, và mực nước sẽ không thay đổi.

✅ Câu hỏi (đã rõ nghĩa):

  • Có 2 cốc trên bàn:
    • Cốc 1: chứa nhiều đá
    • Cốc 2: chứa ít đá
  • Cả hai cốc đều chứa đầy nước

Hỏi:

  1. Cốc nào lạnh hơn?
  2. Cốc nào có nhiều nước hơn?
  3. Đá tan rồi thì nước có tràn ra không? Vì sao?

✅ Trả lời chi tiết:


🧊 Câu 1: Cốc nào lạnh hơn?

👉 Đáp án: Cốc 1 lạnh hơn

Vì sao?

  • Nhiều đá hơn → nhiệt độ thấp hơn
  • Đá làm nước trong cốc giữ lạnh lâu hơn

✅ => Cốc 1 lạnh hơn.


💧 Câu 2: Cốc nào có nhiều nước hơn?

👉 Đáp án: Cốc 2 có nhiều nước hơn

Vì sao?

  • Cả hai cốc đều đầy
  • Nhưng cốc 1 có nhiều đá → đá chiếm chỗ → nước ít hơn
  • Cốc 2 ít đá → nước nhiều hơn

✅ => Cốc 2 chứa nhiều nước hơn.


🌊 Câu 3: Khi đá tan thì nước có tràn ra không?

👉 Đáp án: Không tràn

Vì sao?

  • Đá nổi trong nước vì mật độ nước đá < mật độ nước lỏng
  • Khi đá tan, nó biến thành nước và chiếm đúng phần thể tích ban đầu
  • Theo nguyên lý Archimedes, tổng thể tích không đổi khi đá tan

✅ => Nước sẽ không tràn ra khi đá tan


✅ Tóm tắt bảng:

Câu hỏi

Đáp án

Cốc nào lạnh hơn?

Cốc 1

Cốc nào có nhiều nước hơn?

Cốc 2

Nước có tràn khi đá tan không?

Không tràn

24 tháng 12 2021

TL :

Công suất định mức của bóng đèn:

\(P=I^2R=2^2.8=32W\)

HT

24 tháng 12 2021

Áp dụng CT P = I2.R 

công suất định mức của dòng điện là:

P = 22 . 8= 4 .8 = 32 W

16 tháng 10 2016

Gọi cường độ dòng điện qua bóng là I suy ra hiệu điện thế hai đầu bóng đèn là: \(U_đ=(\dfrac{I}{0,5})^2=4I^2\)

Hiệu điện thế giữa hai đầu điện trở là: \(U_R=I.R=240.I\)

Theo đề bài: \(U_đ+U_R=160\)

\(\Rightarrow 4I^2+240I=160\)

Giải pt trên ta tìm đc \(I=0,66A\)

22 tháng 10 2016

hai gan bang moi dung

 

22 tháng 6 2016

+ Điện năng sử dụng của mỗi loại bóng đèn trên trong 8 000 giờ là:

. Bóng đèn dây tóc: A1 = P1t = 0,075.8000 = 600 kW.h = 2160.106 J.

. Bóng đèn compac: A2 = P2t = 0,015.8000 = 120 kW.h = 432.106 J.

+ Toàn bộ chi phí cho việc sử dụng mỗi loại bóng đèn này trong 8 000 giờ là:

. Bóng đèn dây tóc: Vì mỗi bóng đèn dây tóc có thời gian thắp sáng tối đa là 1 000 giờ nên phải cần 8 bóng đèn dây tóc. Vì thế số tiền cần là:

T1 = 8.3500 + 600.700 = 28000 + 420000 = 448000 đồng

. Bóng đèn compac: Vì mỗi bóng đèn compac có thời gian thắp sáng tối đa là 8 000 giờ nên ta chỉ cần 1 bóng đèn compac. Vì thế số tiền cần là:

T2 = 1.60000 + 120.700 = 60000 + 84000 = 144000 đồng

+ Sử dụng loại bóng đèn conpac có lợi hơn. Vì:

. Giảm bớt 448000 – 144000 = 304000 đồng tiền chi phí cho 8 000 giờ sử dụng.

. Sử dụng công suất nhở hơn, dành phần công suất tiết kiệm được cho nơi khác.

. Góp phần giảm bớt sự cố do quá tải về điện, nhất là vào giờ cao điểm.

22 tháng 6 2016

+ Điện năng sử dụng của mỗi loại bóng đèn trên trong 8 000 giờ là:

. Bóng đèn dây tóc: A1 = P1t = 0,075.8000 = 600 kW.h = 2160.106 J.

. Bóng đèn compac: A2 = P2t = 0,015.8000 = 120 kW.h = 432.106 J.

+ Toàn bộ chi phí cho việc sử dụng mỗi loại bóng đèn này trong 8 000 giờ là:

. Bóng đèn dây tóc: Vì mỗi bóng đèn dây tóc có thời gian thắp sáng tối đa là 1 000 giờ nên phải cần 8 bóng đèn dây tóc. Vì thế số tiền cần là:

T1 = 8.3500 + 600.700 = 28000 + 420000 = 448000 đồng

. Bóng đèn compac: Vì mỗi bóng đèn compac có thời gian thắp sáng tối đa là 8 000 giờ nên ta chỉ cần 1 bóng đèn compac. Vì thế số tiền cần là:

T2 = 1.60000 + 120.700 = 60000 + 84000 = 144000 đồng

+ Sử dụng loại bóng đèn conpac có lợi hơn. Vì:

. Giảm bớt 448000 – 144000 = 304000 đồng tiền chi phí cho 8 000 giờ sử dụng.

. Sử dụng công suất nhở hơn, dành phần công suất tiết kiệm được cho nơi khác.

. Góp phần giảm bớt sự cố do quá tải về điện, nhất là vào giờ cao điểm.


 

23 tháng 6 2016

+ Điện năng sử dụng của mỗi loại bóng đèn trên trong 8 000 giờ là:

. Bóng đèn dây tóc: A1 = P1t = 0,075.8000 = 600 kW.h = 2160.106 J.

. Bóng đèn compac: A2 = P2t = 0,015.8000 = 120 kW.h = 432.106 J.

+ Toàn bộ chi phí cho việc sử dụng mỗi loại bóng đèn này trong 8 000 giờ là:

. Bóng đèn dây tóc: Vì mỗi bóng đèn dây tóc có thời gian thắp sáng tối đa là 1 000 giờ nên phải cần 8 bóng đèn dây tóc. Vì thế số tiền cần là:

T1 = 8.3500 + 600.700 = 28000 + 420000 = 448000 đồng

. Bóng đèn compac: Vì mỗi bóng đèn compac có thời gian thắp sáng tối đa là 8 000 giờ nên ta chỉ cần 1 bóng đèn compac. Vì thế số tiền cần là:

T2 = 1.60000 + 120.700 = 60000 + 84000 = 144000 đồng

+ Sử dụng loại bóng đèn conpac có lợi hơn. Vì:

. Giảm bớt 448000 – 144000 = 304000 đồng tiền chi phí cho 8 000 giờ sử dụng.

. Sử dụng công suất nhở hơn, dành phần công suất tiết kiệm được cho nơi khác.

. Góp phần giảm bớt sự cố do quá tải về điện, nhất là vào giờ cao điểm.



 

31 tháng 5 2016

Nhiệt độ của nước đá đang tan là 00C, vì sau khi có cân bằng nhiệt hỗn hợp bao gồm cả nước và nước đá nên nhiệt độ của nó cũng là 00C.                          

Nhiệt lượng mà nước (350C) đã tỏa ra:

Qtỏa = mc (t1 – t0) =  1,5.4200.30 = 189 000 J        

Gọi x là khối lượng nước đá đã bị nóng chảy. Nhiệt lượng mà nước đá thu vào để nóng chảy là:

Qthu = \(x.\lambda\) = 340000.x                                  

Áp dụng phương trình cân bằng nhiệt:

Qtỏa = Qthu => 340 000 x = 189 000: 340 000 = 0,55 kg

Vậy khối lượng nước đá ban đầu là: 0,45 + 0,55 = 1,0 kg

31 tháng 5 2016

Nhiệt độ nước đá đang tan là 0 độ c, vì sau khi có cân bằng nhiệt hỗn hợp bao gồm cả nước và nước đá nên nhiệt độ của nó cũng là 0 độ c 

Nhiệt lượng mà nước ở 30 độ c đã toả ra:

Q1 = m.c. ∆t = 1,5.4200.30 = 189000J  

Gọi x (kg) là khối lượng nước đá bị nóng chảy 

Nhiệt lượng mà nước đá thu vào để nóng chảy là 

Q2 = λ .x = x.3,4.105 J 

Áp dụng phương trình cân bằng nhiệt lượng: 

Q1=Q2<=> 189000=x.3,4.105 => x=0,55kg

Vậy khối lượng nước đá ban đầu là:  0,45+0,55=1kg 

2 tháng 8 2020

a. Vì 2 điện trở mắc nối tiếp nên I=I1=I2. Mà điện trở R2 chỉ chịu đc CĐDĐ tối đa là 1A nên CĐDĐ tối đa chạy qua mạch là 1A.⇒I=I1=I2=1A.

R1=20Ω

R2=30Ω

I=I1=I2=1A

U=?(V)

Điện trở tương đương của đoạn mạch là: R=R1+R2=20+30=50(Ω)

Hiệu điện thế tối đa là: U=R.I=50.1=50(V)

b. Vì 2 điện trở mắc song song nên U=U1=U2 và I=I1+I2.

R1=20Ω

R2=30Ω

I1=1,5A

I2=1A

U=U1=U2=?(V)

Điện trở tương đương của đoạn mạch: R=\(\frac{R_1.R_2}{R_1+R_2}=\frac{20.30}{20+30}\)=12(Ω)

Cường độ dòng điện trong mạch chính: I=I1+I2=1,5+1=2,5(A)

Hiệu điện thế tối đa: U=R.I=12.2.5=30(V)

Quả bóng sẽ đạt đến độ cao tối đa khoảng 11.48 mét, vì khi bỏ qua sức cản không khí và ném thẳng đứng, vật sẽ chuyển động chậm dần đều dưới tác dụng của trọng lực cho đến khi dừng lại ở độ cao lớn nhất, sau đó rơi xuống.  Để tính toán độ cao này, chúng ta sử dụng công thức vật lý về chuyển động rơi tự do và công thức tính độ cao tối đa. 1. Các đại lượng đã biết:
  • Vận tốc ban đầu ( v0v sub 0𝑣0) = 15 m/s 
  • Gia tốc trọng trường ( gg𝑔) ≈ 9.8 m/s² (gia tốc do trọng lực) 
  • Một người ném một quả bóng theo phương thẳng đứng lên cao Một người ném một quả bóng theo phương thẳng đứng lên cao từ mặt đất với tốc độ ban đầu là 36 km/h. Bỏ qua sức cản không khí, hỏi ... Loigiaihay.com
2. Vận tốc tại điểm cao nhất:
  • Tại điểm cao nhất, vận tốc của quả bóng bằng 0 m/s.
3. Sử dụng công thức: 
  • Áp dụng công thức của chuyển động thẳng biến đổi đều: v2−v02=2asv squared minus v sub 0 squared equals 2 a s𝑣2−𝑣20=2𝑎𝑠, trong đó vv𝑣là vận tốc cuối, v0v sub 0𝑣0là vận tốc ban đầu, aa𝑎là gia tốc, và ss𝑠là quãng đường.
  • Trong trường hợp này, v=0v equals 0𝑣=0m/s, a=−ga equals negative g𝑎=−𝑔(vì gia tốc ngược chiều chuyển động), và ss𝑠là độ cao tối đa ( hh).
  • Vậy, 02−(15m/s)2=2(-9.8m/s2)h0 squared minus open paren 15 m/s close paren squared equals 2 open paren negative 9.8 m/s squared close paren h02−(15m/s)2=2(−9.8m/s2)ℎ
  • -225=-19.6hnegative 225 equals negative 19.6 h−225=−19.6ℎ
  • h=-225-19.6≈11.48h equals negative 225 over negative 19.6 end-fraction is approximately equal to 11.48ℎ=−225−19.6≈11.48mét.