Bài tập 1: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
CẢNH THÁC BỜ
(1) Chúng tôi đã xuống những hòn, những bãi, những núi, những đá ghềnh ở bờ thác Bờ để xem những luồng, những thác, những vực của nó. Rồi chúng tôi leo lên những mỏm núi cao nhất ở bên bờ thác để nhìn toàn cảnh. Mỗi bước lên cao, mỗi tầm mắt đưa xa, tôi càng được hiểu thêm về sự ngạc nhiên của các khách du lịch ngoại quốc đi lên Tây Bắc. Họ đã gọi thác Bờ của sông Đà là tiểu Hạ Long hay tiểu Bái Tử Long. Cũng đúng, dưới bầu trời trong sáng và lộng lẫy của một ngày đông nắng ấm như hôm nay, nước sông Đà cũng trắng sâu và xanh biêng biếc, cát sông Đà cũng trắng xoá cũng chói chang và tất cả những tầng tầng lớp lớp đá ở giữa lòng sông Đà, mà ta nheo nheo mắt nhìn cũng thấy như một vùng Hạ Long hay Bái Tử Long nào hiện ra với những đỉnh núi, những hòn, những đảo, những khe, những bãi kì diệu thu nhỏ lại.
(2) Càng nghe thác Bờ, giữa trưa nắng sôi réo, dội lên những núi đá trên bờ, âm vang rất xa, thành một giọng cười dài, lạnh lùng, hờn giận, ghen ghét, thách thức, càng thấy thêm cái sức mạnh man dại và cái bí mật của con Sông Đà, càng thấy sự bức thiết chinh phục sông Đà, càng thấy bao nhiêu cái hữu ích, tiện lợi sẽ làm cho cuộc sống con người thêm hạnh phúc, sung sướng, tươi đẹp một khi sông Đà được cải tạo, khai thác
Câu 1: Xác định thể loại của đoạn trích trên.
Câu 2: Tìm chi tiết miêu tả nước và cát sông Đà ở đoạn [1].
Câu 3: Cho câu văn sau:“Rồi chúng tôi leo lên những mỏm núi cao nhất ở bên bờ thác để nhìn toàn cảnh” a. Xác định thành phần vị ngữ trong câu văn trên. b. Cho biết cấu tạo của thành phần vị ngữ đó.
Câu 4: Từ văn bản trên, em cảm nhận được điều gì về tình cảm của tác giả đối với quê hương, đất nước?
Câu 5: Theo em, chúng ta cần ứng xử với thiên nhiên như thế nào để thiên nhiên “làm cho cuộc sống của con người thêm hạnh phúc và tươi đẹp”?
2. Bài tập 2:
VẺ ĐẸP CỦA BÀI CA DAO: TRONG ĐẦM GÌ ĐẸP BẰNG SEN
Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh, bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
(1) Bài ca dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen” đạt đến độ hoàn mĩ hiếm có trong loại ca dao vịnh tả cảnh vật mang tính ngụ ngôn triết lý. Cảnh vật ở đây là cây sen trong đầm. Hình tượng cây sen trong đầm được giới thiệu, miêu tả cụ thể, chính xác,vừa chân thực, sống động, vừa mang tính tượng trưng khái quát rất cao. Ở đây, nội dung thẩm mĩ và ý nghĩa triết lý, nhân sinh gắn liền với nội dung sinh vật học tạo ra sự đa dạng, phong phú và vẻ đẹp tuyệt vời của một bài ca dao ngắn.
(2) Rất nhiều người ca ngợi câu thứ tư “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Huy Cận đặc biệt nhấn mạnh vào sự kì diệu của câu thơ thứ ba (“Nhị vàng, bông trắng lá xanh”) Thực ra cả bốn câu đều rất hay, nhưng mỗi câu hay một cách. Câu thơ thứ nhất: tác giả khẳng định và tuyệt đối hóa vẻ đẹp không gì sánh nổi của cây sen ở trong đầm: Trong đầm gì đẹp bằng sen? Khẳng định và tuyệt đối hóa cao độ như vậy nhưng tại sao người nghe, người đọc lại không có cảm giác chối tai, khó chịu về sự cực đoan, khiên cưỡng và võ đoán của tác giả? Vì tác giả bài ca dao đã khéo léo trình bày sự khẳng định dưới hình thức nghi vấn, hình thức thách đố để cho người nghe được suy nghĩ tự do.Và sự tuyệt đối hóa ở đây cũng được trình bày trong phạm vi có giới hạn cụ thể. Trạng ngữ “Trong đầm” đã hạn chế sự tuyệt đối hóa trong câu ca dao, làm cho nó trở thành tương đối và có tính thuyết phục. Câu thứ hai: “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng” Tác giả miêu tả vẻ đẹp của từng bộ phận cụ thể trong cây sen để chứng minh cho câu thứ nhất. Từ “Lá xanh” qua “bông trắng” đến “nhị vàng” tức là quan sát từ ngoài vào trong, rất tự nhiên, rất hợp lý. Từ “lại” được dùng rất đắt, có tác dụng nhấn mạnh sự đa dạng, nhiều thành phần và màu sắc đáng chú ý của cây sen. Từ “chen” nói lên sự kết chặt giữa hoa và nhị, chứng tỏ đây là bông sen mới nở. …
(Bình giảng ca dao, NXB GD,2007)
Câu 1: Xác định thể loại của đoạn trích trên.
Câu 2: Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên.
Câu 3: Cho câu văn sau: “...Nhiều người ca ngợi câu thứ tư “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.
a. Xác định thành phần vị ngữ trong câu văn trên.
b. Cho biết cấu tạo của thành phần vị ngữ đó.
Câu 4: Nêu cảm xúc của em sau khi đọc đoạn trích trên.
Câu 5: Viết đoạn văn ngắn ghi cảm nghĩ của em về bài ca dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen”
Giúp mình với
BÀI TẬP 1
Câu 1.
Thể loại của đoạn trích: Tùy bút (văn xuôi nghệ thuật) – trích từ Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân.
Câu 2.
Chi tiết miêu tả nước và cát sông Đà ở đoạn (1):
Câu 3.
Câu văn: “Rồi chúng tôi leo lên những mỏm núi cao nhất ở bên bờ thác để nhìn toàn cảnh.”
a. Thành phần vị ngữ:
→ “leo lên những mỏm núi cao nhất ở bên bờ thác để nhìn toàn cảnh”
b. Cấu tạo của vị ngữ:
→ Vị ngữ là cụm động từ, trong đó:
Câu 4.
Qua văn bản, có thể cảm nhận được tình yêu tha thiết, niềm tự hào sâu sắc của tác giả đối với thiên nhiên quê hương, đất nước, đặc biệt là vẻ đẹp hùng vĩ, kỳ diệu của sông Đà. Đồng thời thể hiện khát vọng chinh phục và cải tạo thiên nhiên để phục vụ cuộc sống con người.
Câu 5.
Theo em, chúng ta cần ứng xử hài hòa, tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên: khai thác hợp lí, không tàn phá môi trường, biết giữ gìn cảnh quan và tài nguyên thiên nhiên. Chỉ khi đó thiên nhiên mới thực sự mang lại hạnh phúc, sự bền vững và tươi đẹp cho con người.
BÀI TẬP 2
Câu 1.
Thể loại của đoạn trích: Văn bản nghị luận văn học (bình giảng ca dao).
Câu 2.
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận (kết hợp giải thích, phân tích).
Câu 3.
Câu văn: “…Nhiều người ca ngợi câu thứ tư ‘Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’.”
a. Thành phần vị ngữ:
→ “ca ngợi câu thứ tư ‘Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’”
b. Cấu tạo của vị ngữ:
→ Vị ngữ là cụm động từ, động từ trung tâm là ca ngợi.
Câu 4.
Sau khi đọc đoạn trích, em cảm thấy rất yêu thích và trân trọng vẻ đẹp của bài ca dao, đồng thời khâm phục ý nghĩa nhân sinh sâu sắc mà hình tượng hoa sen mang lại: sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp.
Câu 5.
Đoạn văn cảm nghĩ về bài ca dao “Trong đầm gì đẹp bằng sen”: