Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền ở vĩ tuyến 17. Miền Bắc do Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quản lý, miền Nam do chính quyền Ngô Đình Diệm kiểm soát dưới sự hậu thuẫn của Mỹ. Hiệp định quy định năm 1956 sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước, nhưng Mỹ và chính quyền Sài Gòn không thực hiện, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam.
Từ năm 1954 đến 1959, cách mạng miền Nam chủ yếu đấu tranh chính trị hòa bình. Nhân dân miền Nam đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, đòi tự do dân chủ và tổng tuyển cử. Tuy nhiên, chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành các chiến dịch “tố cộng, diệt cộng”, lập nhà tù, đàn áp dã man cán bộ và quần chúng cách mạng. Hàng chục vạn người bị bắt, giết hại, khiến phong trào đấu tranh chính trị không thể tiếp tục đơn thuần bằng biện pháp hòa bình.
Trước tình hình đó, cuối năm 1959, Đảng chủ trương cho nhân dân miền Nam sử dụng bạo lực cách mạng kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Đầu năm 1960, phong trào Đồng Khởi bùng nổ, tiêu biểu nhất là ở tỉnh Bến Tre. Nhân dân nổi dậy phá chính quyền cơ sở của địch, lập chính quyền cách mạng ở nhiều xã, ấp. Phong trào nhanh chóng lan ra khắp Nam Bộ, Tây Nguyên và một phần Trung Trung Bộ. Kết quả của phong trào Đồng Khởi là hệ thống chính quyền Sài Gòn ở nông thôn bị tan rã từng mảng lớn, lực lượng vũ trang cách mạng được hình thành và phát triển. Tháng 12 năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng miền Nam.
Từ năm 1961 đến 1965, Mỹ tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt”. Đây là loại hình chiến tranh xâm lược thực dân mới, trong đó Mỹ không trực tiếp đưa quân chiến đấu mà dựa vào quân đội Sài Gòn, có cố vấn Mỹ chỉ huy, trang bị vũ khí hiện đại. Biện pháp chủ yếu là dồn dân lập “ấp chiến lược” nhằm tách cách mạng ra khỏi nhân dân. Quân dân miền Nam đã tiến hành đấu tranh toàn diện chống chiến lược này. Trận Ấp Bắc đầu năm 1963 là trận tiêu biểu, chứng minh quân giải phóng có thể đánh bại quân đội Sài Gòn được trang bị hiện đại. Phong trào phá ấp chiến lược diễn ra mạnh mẽ, đến cuối năm 1964 thì phần lớn ấp chiến lược bị phá. Chiến tranh đặc biệt của Mỹ thất bại.
Từ năm 1965 đến 1968, Mỹ chuyển sang chiến lược “chiến tranh cục bộ”. Mỹ trực tiếp đưa hơn nửa triệu quân viễn chinh và quân đồng minh vào miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân. Quân dân miền Nam đương đầu với những cuộc hành quân lớn của Mỹ như Vạn Tường, Plây-me, Dầu Tiếng… và giành được nhiều thắng lợi quan trọng. Miền Bắc vừa sản xuất, vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa chi viện sức người, sức của cho miền Nam.
Đỉnh cao của giai đoạn này là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Trong dịp Tết Nguyên đán, quân giải phóng đồng loạt tấn công vào hầu hết các đô thị lớn và căn cứ quân sự quan trọng của Mỹ và chính quyền Sài Gòn, trong đó có Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Mặc dù ta chịu nhiều tổn thất về quân sự, nhưng cuộc tổng tiến công đã gây chấn động mạnh về chính trị, làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, buộc Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc và chấp nhận đàm phán tại Paris.
Từ năm 1969 đến 1973, Mỹ thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Mỹ rút dần quân viễn chinh, tăng cường trang bị và giao nhiệm vụ chiến đấu cho quân đội Sài Gòn, đồng thời dùng không quân và hải quân yểm trợ. Quân dân ta tiếp tục tiến công trên cả ba mặt trận quân sự, chính trị và ngoại giao. Cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn miền Nam đã giáng đòn nặng nề vào quân đội Sài Gòn. Trên mặt trận ngoại giao, ta buộc Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973. Theo hiệp định, Mỹ cam kết rút hết quân khỏi Việt Nam và tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất của Việt Nam.
Sau Hiệp định Paris, quân Mỹ rút khỏi miền Nam, nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn tiếp tục chiến tranh. Lúc này, so sánh lực lượng đã thay đổi có lợi cho cách mạng. Đảng ta xác định thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến.
Đầu năm 1975, quân ta mở Chiến dịch Tây Nguyên. Ngày 10 tháng 3 năm 1975, ta đánh chiếm Buôn Ma Thuột. Thắng lợi này làm cho hệ thống phòng thủ của địch ở Tây Nguyên sụp đổ nhanh chóng. Địch rút chạy hỗn loạn, tạo ra bước ngoặt chiến lược cho cuộc kháng chiến.
Tiếp đó, ta mở Chiến dịch Huế – Đà Nẵng. Cuối tháng 3 năm 1975, quân ta tiến công giải phóng Huế, sau đó là Đà Nẵng. Chỉ trong thời gian ngắn, toàn bộ miền Trung được giải phóng, quân đội Sài Gòn bị tan rã trên diện rộng.
Cuối cùng là Chiến dịch Hồ Chí Minh, bắt đầu ngày 26 tháng 4 năm 1975. Năm cánh quân của ta tiến công vào Sài Gòn từ nhiều hướng. Sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, quân ta tiến vào trung tâm Sài Gòn. 11 giờ 30 phút cùng ngày, xe tăng của quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập, Tổng thống chính quyền Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam hoàn toàn được giải phóng.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước kết thúc thắng lợi, đất nước được thống nhất, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên độc lập, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đây là toàn bộ quá trình giải phóng miền nam từng chiến dịch
Mong mn thích
ok
Tớ cảm thấy bạn là bạn là một người rất giỏi địa lí đó
cảm ơn bn rất nhìu
cũng dc đó minh nhưng ông học xg bài cô tiên chưa mà lên diễn đàn chat
xong rồi lâm