Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du phía Bắc có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử đáng tự hào: - Hồ Núi Cốc là khu du lịch sinh thái nổi tiếng, gắn với truyền thuyết nàng Cống chàng Cốc, không gian trong xanh và nhiều hoạt động tham quan, vui chơi. - ATK Định Hóa là an toàn khu kháng chiến; nơi ần án hoạt động của Bác Hồ và Trung ương trong kháng chiến chống Pháp. Hiện nay du khách có thể tham quan nhà tiªn, hầm ngầm và các khu di tích khác. - Hang Phượng Hoàng – suối Mỏ Gà là quần thể hang động và suối nước trong xanh, phong cảnh hoang sơ. Ngoài ra còn có chùa Hang, chùa Đội Hoàng v.v. là các di tích tâm linh quan trọng. Bên cảnh các danh lam, Thái Nguyên có nhiều món ăn đặc sản: - Cơm lam Định Hóa: gạo nếp ngạm vào ống tre, nướng trên bội lửa, khi chín có mùi thơm nôàng; thường ăn với mờ hay muối vọc. - Bánh chưng Bờ Đậu: được gói bằng gạo nếp thơm, đỗ xào, thịt mỡ; bánh xanh thấp vào ngày Tết hay lễ hội. - Măng rừng Võ Nhai: măng tre tươi được thu hoạch trên rấy, muối chua hoặc xào chưa cay làm món ăn gia đình. - Thịt chua Đông Hỷ: thịt lợn cóm được ổ chua, phối lên men, có vị chua ngọt đặc trưng. Những điểm đến và món ăn được giới thiệu trên là những gợi ý cơ bản về văn hóa Thái Nguyên, phù hợp làm bài thu hoạch tuyên truyền du lịch.
Hình như câu này và câu này đều là GDCD thì phải? Sao bạn lại đăng nhầm môn nhỉ vì vậy mình xin phép đc xóa :D
Câu hỏi của Nguyễn Hải Đăng - Lịch sử lớp 8 | Học trực tuyến
Tham Khảo !
* Giới thiệu về nhà văn Ban-dắc (1799 - 1850)
- Ban-dắc là nhà văn hiện thực Pháp lớn nhất nửa đầu thế kỷ 19, bậc thầy của tiểu thuyết văn học hiện thực. Ông là tác giả của bộ tiểu thuyết đồ sộ “Tấn trò đời”
- “Cuộc đời ông là sự thất bại toàn diện trong sáng tác và kinh doanh” - đó là tổng kết chung về thời thanh niên của Ban-dắc từ khi vào đời cho đến năm (1828): Hai lần ứng cử vào Viện Hàn lâm Pháp đều thất bại. Ông chỉ thật sự được văn đàn Pháp công nhận sau khi mất. Người ủng hộ ông nhiều nhất khi còn sống là Vic-to Huy-go.
- Ông có một sức sáng tạo phi thường, khả năng làm việc cao. Thường chỉ ngủ một ngày khoảng 2 đến 3 tiếng, thời gian còn lại làm việc trên một gác xép.
- Con đường sự nghiệp của ông được chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1829 - 1841
+ Trong giai đoạn này, Ban-dắc cho ra đời liên tiếp nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong nhiều cảm hứng và chủ đề khác nhau: Miếng da lừa (1831), Người thầy thuốc nông thôn (1833), Đi tìm tuyệt đối (1833), …
+ Trong sự nghiệp sáng tác Ban-dắc đã viết về nhiều đề tài và mỗi vấn đề đều có một số tác phẩm, tạo nên sự đa dạng trong tư tưởng cũng như trong nghệ thuật của ông, như: nghiên cứu triết học (các tác phẩm Miếng da lừa, Đi tìm tuyệt đối, Kiệt tác vô danh...), cảm hứng thần bí (như: Lu-I Lam-ber,…), nghiên cứu phong tục (trong đó ông thiết lập một hệ thống các đề tài mà ông gọi là các "cảnh đời" vì cuộc đời được ông ví như một tấn hài kịch lớn).
- Giai đoạn 1841 - 1850
+ Ban-dắc đã bắt đầu công việc tập hợp lại các tác phẩm theo chủ đề và thống kê sắp đặt lại trong một hệ thống có tên chung là “Tấn trò đời”.
Trong thế kỉ XVIII-XIX về lĩnh vực văn học có rất nhiều tác giả với các tác phẩm tiêu biểu. Trong số đó tác giả Lev Tolstoy được yêu mến ở khắp mọi nơi như một tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong tất cả các nhà viết tiểu thuyết ở xứ sở bạch dương, đặc biệt nổi tiếng nhất là kiệt tác Chiến tranh và hòa bình.Lev Nikolayevich Tolstoy sinh vào tháng 9 năm 1828, là một tiểu thuyết gia người Nga. Ông nổi tiếng tôn thờ chủ nghĩa hòa bình và đồng thời là nhà triết học có tầm ảnh hưởng mang tính nhân loại..Bộ tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình cùng bao nhiêu tác phẩm khác ông đã viết bao giờ cũng là để truy tìm ý nghĩa cuộc sống, ý nghĩa đời người cho nhân loại và mỗi con người.Chiến tranh và hòa bình là lời thức tỉnh con người trước ranh giới của cái thiện và cái ác Chiến tranh và hòa bình mở đầu vào đêm trước chiến tranh giữa Pháp và Nga. Những quý tộc tham dự ban đầu lo sợ về nguy cơ bạo lực cực đoan sẽ xảy ra. Nhưng ngay sau đó đã chuyển sang những vấn đề mà tầng lớp quý tộc của họ luôn quan tâm như: tiền bạc, tình dục và cái chết.Không có nhân vật chính trong Chiến tranh và hòa bình thay vào đó người đọc sẽ đắm chìm vào một mạng lưới liên kết rộng lớn với những mối quan hệ nhiều nghi vấn về những câu chuyện xoay quanh mưu cầu cá nhân và chính trị của con người cũng như của một tầng lớp, một dân tộc.Tác phẩm đã đặt ra câu hỏi: Tại sao chiến tranh khởi phát? Và giữa thế giới hàng tỷ sinh mạng thì chiến tranh sẽ mang lại điều gì? Đến cuối cùng tác giả đã chỉ cho chúng ta biết rằng khi hòa bình bị đánh cắp thì con người sẽ lâm vào bất hạnh và đau khổ tột cùng.Chiến tranh và hòa bình đã đặt ra yêu cầu về quyền sống, quyền hạnh phúc của con người khi ngoài kia những kẻ cầm quyền vẫn chỉ biết châm ngòi chiến tranh nhằm trục lợi.Tác giả cho thấy sự ngu ngốc đầy nham hiểm và tàn bạo của những kẻ đã gây ra tất cả những tai họa này trong khi khoác lác về danh dự, lòng yêu nước, lòng can đảm trong chiến đấu và trong đời thường. Cuốn tiểu thuyết của Tolstoy kể về hòa bình nhiều hơn là về chiến tranh. Chứa đầy tình yêu của ông đối với lịch sử và văn hóa Nga nhưng không ca ngợi sự ồn ào và dữ dội của những vụ giết chóc.Ngoài những triết lý và câu chuyện nhân văn giữa ranh giới chiến tranh và hòa bình mà trong đó còn ẩn chứa bóng dáng của một cuốn biên niên sử và cũng có một phần của bài luận triết học đồ sộ. Tất cả những thứ đó hòa quyện lại với nhau tạo nên một tuyệt tác.
Lép Tôn-xtôi (1828-1910), nhà văn Nga, nổi tiếng với các tác phẩm: Chiến tranh và Hòa bình, An-na Ka-rê-ni-na, Phục sinh. Với chủ nghĩa hiện thực phê phán, qua các tác phẩm của mình, Tôn- x tôi đã chống lại trật tự xã hội phong kiến Nga hoàng, ca ngợi phẩm chất của người dân Nga trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lê-nin đã đánh giá các tác phẩm của Tôn-xtôi như “tấm gương phản chiếu cách mạng Nga”.
Tham khảo:
nêu một số tác phẩm văn học Xô Viết mà em biết ?
Chiến tranh và hòa bình (L. Tôn-xtôi)
- Bút ký người đi săn ( I.X. Turgeniev )
- Sông Đông êm đềm, Đất vỡ hoang (M. Sô-lô-khốp)
- Cánh buồm đỏ thắm (A. Grin)
- Thép đã tôi thế đấy (A-xtơ-rốp-xki)
giới thiệu vài nét về tác giả , tác phẩm , văn học tiêu biểu trong các thế kỉ XVlll-XlX
* Giới thiệu về nhà văn Ban-dắc (1799 - 1850)
- Ban-dắc là nhà văn hiện thực Pháp lớn nhất nửa đầu thế kỷ 19, bậc thầy của tiểu thuyết văn học hiện thực. Ông là tác giả của bộ tiểu thuyết đồ sộ “Tấn trò đời”
- “Cuộc đời ông là sự thất bại toàn diện trong sáng tác và kinh doanh” - đó là tổng kết chung về thời thanh niên của Ban-dắc từ khi vào đời cho đến năm (1828): Hai lần ứng cử vào Viện Hàn lâm Pháp đều thất bại. Ông chỉ thật sự được văn đàn Pháp công nhận sau khi mất. Người ủng hộ ông nhiều nhất khi còn sống là Vic-to Huy-go.
- Ông có một sức sáng tạo phi thường, khả năng làm việc cao. Thường chỉ ngủ một ngày khoảng 2 đến 3 tiếng, thời gian còn lại làm việc trên một gác xép.
- Con đường sự nghiệp của ông được chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1829 - 1841
+ Trong giai đoạn này, Ban-dắc cho ra đời liên tiếp nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong nhiều cảm hứng và chủ đề khác nhau: Miếng da lừa (1831), Người thầy thuốc nông thôn (1833), Đi tìm tuyệt đối (1833), …
+ Trong sự nghiệp sáng tác Ban-dắc đã viết về nhiều đề tài và mỗi vấn đề đều có một số tác phẩm, tạo nên sự đa dạng trong tư tưởng cũng như trong nghệ thuật của ông, như: nghiên cứu triết học (các tác phẩm Miếng da lừa, Đi tìm tuyệt đối, Kiệt tác vô danh...), cảm hứng thần bí (như: Lu-I Lam-ber,…), nghiên cứu phong tục (trong đó ông thiết lập một hệ thống các đề tài mà ông gọi là các "cảnh đời" vì cuộc đời được ông ví như một tấn hài kịch lớn).
- Giai đoạn 1841 - 1850
+ Ban-dắc đã bắt đầu công việc tập hợp lại các tác phẩm theo chủ đề và thống kê sắp đặt lại trong một hệ thống có tên chung là “Tấn trò đời”
Chào bạn, Bắc Giang có nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng với những sản phẩm đặc sắc. Một ví dụ tiêu biểu là mỳ Chũ – đặc sản của làng Nam Dương (huyện Lục Ngạn). Mỳ Chũ được làm hoàn toàn bằng gạo bao thai hồng. Gạo được ngâm vài giờ rồi xay thành bột, tráng bánh thật mỏng, đem phơi nắng cho khô rồi thái sợi. Quá trình làm mỳ đòi hỏi kinh nghiệm và sự tỉ mỉ trong từng khâu từ chọn gạo tới cắt sợi. Nhờ sử dụng gạo ngon và nguồn nước trong lành, sợi mỳ Chũ nhỏ, trắng, thơm và có độ dai đặc trưng; khi nấu không bị nở quá nhiều. Mỳ Chũ có thể dùng để nấu canh, xào hay ăn lẩu đều rất ngon. Nghề làm mỳ ở Nam Dương đã có hàng trăm năm, tạo việc làm cho hàng trăm hộ dân và sản phẩm đã trở thành đặc sản nổi tiếng được tiêu thụ trong cả nước và xuất khẩu sang nhiều nơi. Bạn có thể tìm hiểu thêm về các làng nghề khác của Bắc Giang như làng gốm Thổ Hà, làng rượu Vân, làng mây tre đan Tăng Tiến,…, mỗi nơi đều có những sản phẩm truyền thống độc đáo. Chúc bạn học tốt!
Mỳ Chũ là sản phẩm nổi tiếng của làng nghề Thủ Dương, xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Mỳ được làm từ gạo Bao Thai hồng – loại gạo đặc sản thơm ngon của địa phương. Sợi mỳ trắng, dai, mềm và có hương vị rất đặc trưng.
Quy trình làm mỳ gồm nhiều bước như: chọn gạo, xay bột, tráng bánh, phơi và cắt sợi. Tất cả đều được làm cẩn thận để giữ được chất lượng tốt nhất. Mỳ Chũ được dùng để nấu phở, xào, trộn hoặc nấu canh, rất tiện lợi và ngon miệng.
Ngày nay, Mỳ Chũ không chỉ nổi tiếng trong nước mà còn được xuất khẩu, góp phần quảng bá văn hóa và nghề truyền thống của Bắc Giang.
Bắc Giang là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa với nhiều làng nghề nổi tiếng, trong đó làng lụa Vạn Phúc là một điểm sáng đầy tự hào. Từ bao đời nay, người dân nơi đây đã gìn giữ và phát triển nghề dệt lụa tơ tằm, tạo nên những tấm lụa mềm mịn, óng ả và tinh xảo. Mỗi sợi tơ, mỗi đường thêu trên vải đều được chăm chút tỉ mỉ, thể hiện tài hoa và tâm huyết của người thợ. Không chỉ là sản phẩm thủ công tinh tế, lụa Vạn Phúc còn mang đậm bản sắc văn hóa dân gian, gắn bó mật thiết với đời sống và sinh hoạt của người dân. Qua những chiếc khăn, tà áo dài hay trang phục truyền thống, lụa Vạn Phúc không chỉ là món quà tinh thần mà còn là niềm tự hào của cả vùng quê Bắc Giang, góp phần giới thiệu vẻ đẹp của văn hóa Việt Nam đến với mọi người.