Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống.
- Giải thích “sự tử tế” là tấm lòng lương thiện, phẩm chất tốt đẹp của con người, luôn hướng đến mọi người, sẵn sàng giúp đỡ người khác khi gặp khó khăn, sẵn sàng sẻ chia với người khác.
- Ý nghĩa của sự tử tế trong cuộc sống:
+ Khi giúp đỡ người khác bằng tấm lòng chân thành, ta sẽ thấy vui vẻ, thoải mái, hạnh phúc, được mọi người yêu quý, kính trọng.
+ Những người nhận được sự tử tế, quan tâm, sẻ chia cảm thấy có động lực để vững vàng, có niềm tin hơn vào cuộc đời.
+ Khi tất cả mọi người đều đối xử với nhau bằng sự tử tế, tốt bụng, xã hội trở nên tốt đẹp hơn.
- Phản đề:
+ Phê phán những người sống vô cảm, xấu xa.
+ Không phải sự tử tế nào cũng chân thành, có những người làm việc tốt để đánh bóng tên tuổi bản thân -> lên án.
- Liên hệ bản thân.
Câu 2:
Bài làm của học sinh đảm bảo các ý sau:
1. Giới thiệu tác phẩm “Chinh phụ ngâm” và tác giả, dịch giả.
a. Tác giả Đặng Trần Côn (?):
- Sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII.
- Là người thông minh, tài hoa, hiếu học.
- Tính cách “đuyềnh đoàng ko buộc”- tự do, phóng túng nên ko đỗ đạt cao, chỉ đỗ Hương cống và giữ các chức quan thấp.
- Các tác phẩm: Chinh phụ ngâm, thơ và phú bằng chữ Hán.
b. Dịch giả:
- Đoàn Thị Điểm (1705- 1748):
+ Hiệu: Hồng Hà nữ sĩ.
+ Quê: Giai Phạm - Văn Giang - xứ Kinh Bắc.
+ Là người nổi tiếng tài sắc, tính cách khác thường.
+ 37 tuổi kết hôn với ông Nguyễn Kiều- một tiến sĩ góa vợ. Năm 1743, ông Nguyễn Kiều đi xứ Trung Quốc. Trong thời gian ông đi xứ, Đoàn Thị Điểm sống cuộc sống ko khác người chinh phụ là mấy " đồng cảm
c. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm:
- Đầu đời vua Lê Hiển Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành.
- Triều đình cất quân đánh dẹp.
" Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”.
d. Đoạn trích
- Vị trí: từ câu 9 – câu 16 trong đoạn trích sách giáo khoa.
2. Cảm nhận tâm trạng người chinh phụ trong đoạn trích.
a. Cảm nhận ngoại cảnh (câu 9 – 16)
- Tiếng gà: “gà eo óc gáy sương năm trống”: “eo óc” từ láy tượng thanh diễn tả âm thanh nhức nhối, thê lương, vang lên, vọng từ xa đến cho thấy không gian tĩnh mịch, vắng vẻ.
-> Chinh phụ đã thao thức qua cả một đêm dài
- Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên.
-> Báo hiện đã hết một ngày dài: “phất phơ” là từ láy tượng hình, gợi nhịp điệu chậm rãi, tẻ nhạt.
-> tâm trạng con người buồn chán, ngao ngán.
=> Hai hình ảnh tương hỗ để diễn tả sự thao thức triền miên, khắc khoải của chinh phụ trong cô đơn, lê loi.
=> Đau khổ trong vô vọng
=> Từ nỗi cô đơn bủa vây, chinh phụ cảm nhận thấm thía nỗi cô đơn hơn bao giờ hết:
- Khắc giờ đằng đẵng như niên: thời gian trôi qua rất nặng nề, vô vị.
- Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa: nỗi buồn trải dài mênh mông đến không cùng.
-> Dùng biện pháp so sánh để diễn tả cụ thể tâm trạng của chinh phụ để thấy nỗi buồn mênh mông.
b. Thể hiện qua sự gắng gượng chạy trốn nỗi cô đơn (câu 13- câu 16)
- Gương đốt hương:
+ để tìm sự thanh thản trong mùi trầm thoang thoảng
+ tìm sự che chở ở thế giới siêu nhiên, thần bí.
-> Trái với mục đích hướng đến của chinh phụ, thực tế lại “hồn đà mê mải”, chinh phụ càng chìm đắm sâu hơn trong sầu muộn.
- Gượng soi gương: để tìm thú vui trong việc chỉnh trang nhan sắc.
-> Nhưng khi soi gương lại phải đối diện với hai điều:
+ Đối mặt với sự cô đơn, thấm thía tình cảnh bi đát của mình: chỉ một mình mình một bóng
+ Nhận thấy tuổi xuân đang dần tàn phai.
-> Nước mắt càng thêm chan chứa “lệ lại châu chan”, càng thấy buồn khổ hơn bao giờ hết.
=> Người chinh phụ thấm thía hơn tuổi xuân của mình tàn phai trong cô đơn, sầu muộn.
- Gượng đánh đàn: nhưng khi chạm đến đàn lại tự ý thức về tình cảnh của mình:
+ Thấy tủi thân trước những biểu tượng của đôi lứa ẩn chứa trong các nhạc cụ:
· Đàn sắt, đàn cầm: gảy hòa âm với nhau được ví cảnh vợ chồng hòa thuận.
· Dây uyên: dây đàn uyên ương – biểu tượng cho lứa đôi gắn bó, hòa hợp.
· Phím đàn loan phượng – biểu tượng của lứa đôi gắn bó.
=> Tất cả các nhạc cụ để có đôi có lứa, chỉ có mình mình cô đơn, lẻ bóng.
=> Càng cô đơn, tủi thân
-> Thậm chí thấy lo lắng, khi chơi đàn rất sợ:
+ Dây đàn bị đứt
+ Phím đàn bị chùng
-> Biểu hiện cho sự không may mắn của lứa đôi, là điềm gở.
=> Tìm đến những nhạc cụ nhưng cũng không chạy trốn được nỗi cô đơn.
=> Chinh phụ cố gắng tìm quên bằng cách tìm đến những thú vui của phụ nữ quý tộc xưa. Càng tìm quên lại càng đối diện với bi kịch của mình, càng thấm thía bi kịch của mình và càng đau khổ hơn bao giờ hết.
Caau1: Thể thơ được sử dụng trong đoạn trích: song thất lục bát.
Câu 2: Nhân vật trữ tình trong đoạn trích là người chinh phụ/ người phụ nữ có chồng đi chinh chiến nơi xa/ người vợ có chồng đi chinh chiến nơi xa.
Câu 3: “Mẹ già, con thơ” trong đoạn trích được miêu tả qua những hình ảnh, từ ngữ;
Mẹ già phơ phất mái sương,/ Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Còn thơ măng sữa, / Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Câu 4: Tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai câu thơ: cô đơn, buồn tủi, nhớ thương chồng.
Câu 5: Nhân vật trữ tình hiện lên với những phẩm chất:
- Đảm đang, tần tảo.
- Giàu đức hi sinh.
Câu 6:
- Người phụ nữ trong xã hội xưa là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa, số phận bất hạnh nhưng sáng ngời phẩm chất tốt đẹp.
-> Tình cảm, suy nghĩ:
+ Xót thương, cảm thông với số phận bất hạnh, không được hạnh phúc.
+ Ngợi ca, trân trọng, cảm phục những phẩm chất tốt đẹp của họ.
Gợi ý trả lời
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.
Câu 2: Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều sau: : tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết.
Câu 3:
Điệp cấu trúc “nếu là … con hãy (con phải) được lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành một người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu.
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản.
Câu 4:
Thông điệp:
Phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là: biểu cảm
Câu 2:
Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều: tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết
Câu 3:
Phép điệp cấu trúc: nếu là….con hãy.
Được lặp di lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành 1 người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản
Câu 4:
Theo em, thông điệp có ý nghĩa nhất là: phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Vì khi chúng ta mở rộng tấm lòng, chia sẻ với người khác những niềm vui,nỗi buồn của mình, học cách lắng nghe, đồng cảm, sẻ chia với những buồn vui, khó khăn của người khác. Khi đó, ta sẽ thấy yêu đời và yêu người hơn, cuộc sống này ấm áp yêu thương và đáng sống biết bao.
câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ
câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả
phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống
câu 3:
chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.
chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.
câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt.
Mỗi người đều có một vẻ bề ngoài khác nhau, không ai là giống ai. Có người xinh đẹp, có người xấu xí, có người cao lớn, có người thấp bé, có người giàu có, có người nghèo khó. Vẻ bề ngoài là thứ đầu tiên đập vào mắt chúng ta nhưng nó không phải là tất cả. Đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài là một thói quen xấu cần được loại bỏ.
Thói quen đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài có thể dẫn đến những hậu quả tiêu cực. Nó khiến chúng ta trở nên hẹp hòi, thiếu hiểu biết, đánh giá sai lầm về con người. Khi chúng ta chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài của một người, chúng ta chỉ thấy những gì họ thể hiện ra bên ngoài mà không biết được những gì họ có bên trong. Chúng ta có thể sẽ đánh giá họ là người kiêu ngạo, lạnh lùng, hoặc ngược lại, là người nghèo khó, hèn kém. Điều này có thể dẫn đến những hiểu lầm, mâu thuẫn, thậm chí là xa lánh nhau.
Ngoài ra, thói quen đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài cũng có thể khiến chúng ta bỏ lỡ những mối quan hệ tốt đẹp. Trong cuộc sống, có rất nhiều người có vẻ bề ngoài không được bắt mắt, nhưng họ lại có những phẩm chất tốt đẹp như thông minh, tài năng, tốt bụng, nhân hậu. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào vẻ bề ngoài của họ mà không tiếp xúc, tìm hiểu, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội được gặp gỡ những người bạn tốt. Vì vậy, chúng ta cần loại bỏ thói quen đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài. Để làm được điều đó, chúng ta cần học cách nhìn nhận con người một cách toàn diện, không chỉ dựa vào vẻ bề ngoài. Chúng ta cần dành thời gian để tìm hiểu, tiếp xúc với họ để có thể hiểu rõ họ hơn. Khi chúng ta hiểu rõ một người, chúng ta sẽ có thể đánh giá họ một cách khách quan và chính xác hơn.
Mình biết rằng bạn là một người tốt nhưng bạn lại có thói quen đánh giá người khác qua vẻ bề ngoài. Điều này khiến bạn bỏ lỡ nhiều cơ hội tốt đẹp trong cuộc sống. Mình mong rằng bạn sẽ thay đổi thói quen này. Hãy học cách nhìn nhận con người một cách toàn diện, không chỉ dựa vào vẻ bề ngoài. Khi bạn làm được điều đó, bạn sẽ thấy cuộc sống trở nên tươi đẹp và ý nghĩa hơn.
câu 1 :
Nhân dân ta có rất nhiều câu ca dao hay viết về cha mẹ như:
"Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ kinh́ cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con''.
Người mẹ là người cùng ta thực hiện mơ ước cuả ta mẹ luôn hy sinh bản thân minh̀ để cho con cómột cuộc sống tốt đẹp hơn
Câu 1
1. Mở bài:
- Dẫn dắt vào bài bằng các tình càm cao quý trong cuộc sống của mỗi người: tình cảm gia đình, tình anh em, tình cảm bạn bè,..
- Nhấn mạnh tình mẫu tử là loại tình cảm có vị trí đặc biệt quan trọng
2. Thân bài:
* Khái quát chung thế nào là tình mẫu tử:
+ Đây là một tình cảm thiêng liêng giữa mẹ và con
+ Tình mẫu tử thể hiện sự gắn bó, yêu thương và chăm sóc
* Bình luận về tình mẫu tử:
+ Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng và có vai trò đặc biệt với mỗi con người:
- Từ khi con người sinh ra đã có mẹ ở bên, có sự yêu thương che chở của mẹ: mẹ mang thai, sinh chúng ta, chăm chúng ta,….
- Mẹ là người có tấm lòng cao cả, tha thứ mọi lội lầm dù lớn đến mức nào của chúng ta
- Tình mẫu tử cũng là truyền thống đạo lí của dân tộc ta từ xưa
+ Tình mẫu tử đối với mỗi người:
- Một người có tình mẫu tử sẽ có cuộc sống hạnh phúc, được yêu thương
- Ai không có tình mẫu tử thì rất bất hạnh và là một thiệt thòi
+ Vai trò của tình mẫu tử:
- Tình mẫu tử soi sáng đường cho chúng ta đi
- Giúp chúng ta thức tỉnh khi có chút vấp ngã trong cuộc sống
* Trách nhiệm của chúng ta trước tình mẫu tử:
+ Chúng ta cần giữ gìn và tôn trọng tình cảm thiêng liêng này
+ Không ngừng học tập và báo đáp công ơn mẹ cha
+ Không có những hành động thiếu tình mẫu tử
3. Kết bài
Đưa ra cảm nghĩ của bản thân về tình mẫu tử
- Đây là một tình cảm rất thiêng liêng
- Chúng ta phải tự hào vì được có tình mẫu tử
- Cố gắng học tập để báo hiếu cha mẹ
Câu 2:
1. Mở Bài
- Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Du và đoạn trích “Trao duyên”.
- Nêu nội dung chính của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.
2. Thân Bài
a. Hai câu thơ đầu
- Thúy Kiều nhờ cậy Thúy Vân nối duyên với Kim Trọng.
- Lời nói, hành động trang trọng (từ “cậy”, “lạy”, “thưa”) nhưng cũng mang sắc thái nài ép Thúy Vân nhận lời giúp đỡ.
b. Sáu câu thơ tiếp theo
- Thúy Kiều giãi bày nguyên nhân dẫn đến việc nhờ cậy Thúy Vân giúp mình. Đó là sự dang dở trong tình yêu với Kim Trọng: “Giữa đường đứt gánh tương tư”.
- Hình ảnh ẩn dụ “gánh tương tư”: Chỉ tình yêu của Thúy Kiều và Kim Trọng.
- Nàng chia sẻ với em gái về câu chuyện tình yêu của mình. Kể từ khi gặp Kim Trọng, hai người đã nảy sinh tình cảm cùng thề nguyền, đính ước nhưng bỗng nhiên sóng gió xảy ra với gia đình Kiều, nàng đành hi sinh chữ “tình” để làm tròn chữ “hiếu” với cha mẹ.
c. Bốn câu cuối
- Thúy Kiều thuyết phục Thúy Vân bằng những lí lẽ xác đáng. Nàng nhắc đến “ngày xuân”, tuổi trẻ của Thúy Vân vẫn còn dài và nhắc đến tình nghĩa chị em máu mủ khiến Thúy Vân không thể từ chối việc nàng cậy nhờ.
- Dù cho bản thân mình có “thịt nát xương mòn” thì Kiều vẫn vui vẻ, “ngậm cười” nơi chín suối. Nàng quả là người con gái sống tình nghĩa và có đức hi sinh.
-Thành ngữ “thịt nát xương mòn”, “ngậm cười chín suối” được Nguyễn Du sử dụng tài tình và khéo léo.
- Giọng điệu xót xa, đau đớn.
3. Kết Bài
- Nêu cảm nhận riêng của bản thân về 12 câu thơ đầu.
- Khẳng định giá trị của 12 câu thơ đầu trong đoạn trích “Trao duyên”.
Sự ra đời của thuốc kháng sinh được coi là bước ngoặt lớn của nền y học, chúng giúp điều trị dứt điểm một số vấn đề về sức khỏe. Tuy nhiên, nhiều người chưa thực sự hiểu biết về loại dược phẩm này, họ có xu hướng lạm dụng thuốc. Mọi người cần từ bỏ việc lạm dụng thuốc kháng sinh bởi thói quen này dẫn đến nhiều nguy cơ mà con người phải đối mặt trong điều trị bệnh tật.
Vậy thế nào là thuốc kháng sinh, là lạm dụng thuốc kháng sinh? Thuốc kháng sinh là các loại thuốc có tác dụng tiêu diệt các loại vi khuẩn gây nên các bệnh lý nhiễm trùng hay được kết hợp trong việc điều trị một số loại bệnh khác. Lạm dụng thuốc kháng sinh là sử dụng bừa bãi, bất kì bị bệnh, ôm, ho hay như thế nào cũng dùng thuốc kháng sinh mà không đúng liều lượng. Hiện nay tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh của nhiều nhiều rất phố biến cụ thể như: “Tỷ lệ kháng erythromycin ở Việt Nam là 92,1%”, “Theo số liệu báo cáo của 15 bệnh viện trực thuộc Bộ, bệnh viện đa khoa tỉnh ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh,… về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh giai đoạn 2008 – 2009 cho thấy: năm 2009, 30 – 70% vi khuẩn gram âm đã kháng với kháng sinh nhóm cephalosporin thế hệ 3 và thế hệ 4, gần 40 – 60% kháng với nhóm aminoglycosid và fluoroquinolon”, “ Theo Cục Quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế), kết quả khảo sát việc bán thuốc kháng sinh ở các hiệu thuốc vùng nông thôn và thành thị cho thấy, nhận thức về kháng sinh và kháng thuốc của người bán thuốc lẫn người dân đều rất thấp. Có đến 88% số dân ở thành thị, 91% số dân ở nông thôn sử dụng kháng sinh không có đơn của bác sĩ”,.... Vậy lí do gì mà người dân lại sử dụng thuốc kháng sinh nhiều như vậy? Đầu tiên phải nói đến do bệnh nhân: Nhiều người tưởng rằng kháng sinh chữa được bách bệnh, nên hễ bị bệnh là dùng kháng sinh, vì ở ta việc mua bán kháng sinh còn dễ dàng. Khuynh hướng tự mua thuốc, tự chữa bệnh ngày càng phổ biến - đó là lý do dễ lạm dụng kháng sinh. Tiếp đến là do thầy thuốc: Trong thực tế hằng ngày, việc sử dụng kháng sinh cũng rộng rãi. Ví dụ, khi chưa xác định được loại vi khuẩn nào và nên dùng loại kháng sinh nào là thích hợp, nhưng theo yêu cầu của bệnh nhân, một số thầy thuốc cũng dễ chỉ định sử dụng kháng sinh. Biết là chưa thật xác đáng, nhưng một số thầy thuốc vẫn kê đơn kháng sinh. Đó cũng là một cách lạm dụng kháng sinh. Lạm dụng thuốc kháng sinh không chỉ lãng phí mà còn gây tổn hại đến sức khỏe, các bệnh do virut không chữa được bằng kháng sinh mà vẫn dùng kháng sinh. Gây khó khăn cho chẩn đoán: bệnh nhân bị viêm ruột thừa cấp mà dùng kháng sinh sẽ làm cho lu mờ các triệu chứng gây khó chẩn đoán. Có khi có tác dụng chữa nhưng lại dễ gây ra phản ứng dị ứng, mẫn cảm thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Sử dụng nhiều kháng sinh và liều cao có khả năng gây suy tủy, nhất là trường hợp sử dụng chloramphenicol nhiều. Một số kháng sinh như streptomycine, kanamycine dùng liều cao có thể gây điếc và suy thận. Lạm dụng kháng sinh làm cho vi khuẩn nhờn thuốc, kháng thuốc ngày càng nhiều, từ đó việc chữa trị bệnh càng khó khăn. Ngày nay các tụ cầu trùng kháng thuốc cephalosporin càng nhiều. Một số vi khuẩn khác cũng kháng thuốc do đó tác dụng chữa trị của kháng sinh ngày càng hạn chế. Nhiều người khi dùng thuốc kháng sinh chỉ cho rằng nó thuận tiện, giá thành cũng không quá đắt nhưng người dân lại đâu biết rằng tác hại của nó vô cùng nghiêm trọng. Vậy nên mọi người cần làm gì để hạn chế hay bỏ tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh? Nguyên tắc bạn cần biết khi dùng thuốc kháng sinh đó là chỉ điều trị bệnh do vi khuẩn gây ra và dùng chúng khi thực sự cần thiết, được bác sĩ đồng ý. Đúng liều: khi được bác sĩ kê đơn có thuốc kháng sinh, luôn uống đủ liều lượng đã được kê, không bỏ dở nửa chừng, ngay cả khi cảm thấy bệnh đã đỡ nhiều. Đúng chỉ dẫn: Không dùng thuốc kháng sinh thừa từ lần sử dụng trước; không chia sẻ thuốc kháng sinh trong toa thuốc đang dùng cho người khác uống, ngay cả khi đó là người thân của mình. Vì khi chia sẻ, sẽ thiếu liều thuốc cần uống và vô tình tạo cơ hội cho vi khuẩn mạnh mẽ lên và kháng lại các thuốc điều trị. Điều này gây nguy hiểm cho chính bản thân, cho gia đình và cộng đồng.
Nâng cao nhận thức ngay từ mỗi cá nhân bằng cách bắt đầu bằng thói quen tuân thủ đơn thuốc của bác sĩ, không tự ý mua kháng sinh về dùng cho bất cứ ai hoặc dùng trong chăn nuôi. Nhắc nhở những người quen nếu thấy họ dùng kháng sinh bừa bãi.
Có thể nói thói quen lạm dụng thuốc kháng sinh là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng mà chúng ta không nên chủ quan. Tốt nhất, mỗi người cần có ý thức sử dụng thuốc phù hợp, theo chỉ định của bác sĩ. Nếu sau một thời gian điều trị bạn không thấy hiệu quả, hãy đi tái khám và nhận tư vấn từ bác sĩ “hãy dùng kháng sinh đúng cách vì tương lai của chính chúng ta”.
Thuốc kháng sinh là vũ khí tuyệt vời do con người tạo ra để chống lại các bệnh do nhiễm vi khuẩn, nhưng giờ đây vi khuẩn lại có khả năng đề kháng lại thuốc kháng sinh vốn được dùng để tiêu diệt chúng. Kháng kháng sinh đang là mối đe dọa lớn nhất đối với toàn ngành y tế nói riêng và cả xã hội nói chung.
Kháng sinh là thuốc tiêu diệt hoặc kiềm hãm sự phát triển của vi khuẩn, từ đó giảm đáp ứng viêm gây ra bởi vi khuẩn. Kháng sinh có tác dụng khác nhau trên từng loại vi khuẩn, một số kháng sinh có tác dụng trên nhiều chủng vi khuẩn được gọi là kháng sinh phổ rộng, một số loại khác tác dụng trên một số chủng vi khuẩn nhất định được gọi là phổ hẹp.
Hiện tượng kháng kháng sinh xảy ra khi mầm bệnh hay vi khuẩn có khả năng tạo ra cách chống lại thuốc kháng sinh làm cho kháng sinh không thể tiêu diệt hoặc ngăn chặn được sự phát triển của chúng.
Kháng kháng sinh đang là mối đe dọa lớn nhất đối với toàn ngành y tế nói riêng và cả xã hội nói chung khi bị ở bất cứ triệu chứng sức khỏe nào người dân cũng tự ý mua và sử dụng thuốc kháng sinh. Ngày nay do việc mua và sử dụng kháng sinh quá dễ dàng nên chỉ cần xuất hiện vài biểu hiện bất thường về sức khỏe như sốt, ho, sổ mũi là mọi người tự ý đến hiệu thuốc để mua kháng sinh, hay các bậc cha mẹ tự ý mua kháng sinh cho con mình sử dụng mà không cần biết con mình có nhiễm khuẩn hay không, trẻ em thì có phải uống liều như người lớn không và uống trong thời gian bao lâu là hợp lý.
Bên cạnh đó, các hiệu thuốc dễ dàng tự ý bán thuốc kháng sinh cho bệnh nhân mà không quan tâm bệnh nhân có toa của bác sĩ hay không, hay thậm chí bệnh nhân chỉ cần mang toa thuốc cũ, toa thuốc của người quen, hoặc chỉ cần bảo muốn mua thuốc kháng sinh là được.
Có nhiều loại bệnh lý khác nhau như bệnh miễn dịch, ngộ độc, bệnh chuyển hóa, bệnh nhiễm trùng v.v… Trong đó chỉ có bệnh nhiễm trùng là cần phải sử dụng kháng sinh. Trong các bệnh lý khác, sử dụng kháng sinh không những không giúp điều trị bệnh mà còn làm tăng tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc. Trong hầu hết các trường hợp sốt, đau họng, sổ mũi đa số là do virus gây nên, và kháng sinh thì chỉ có hiệu quả trên vi khuẩn. Theo Cục Quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế), kết quả khảo sát việc bán thuốc kháng sinh ở các hiệu thuốc vùng nông thôn và thành thị cho thấy, nhận thức về kháng sinh và kháng thuốc của người bán thuốc lẫn người dân đều rất thấp. Có đến 88% số dân ở thành thị, 91% số dân ở nông thôn sử dụng kháng sinh không có đơn của bác sĩ”,....
Lạm dụng thuốc kháng sinh không chỉ lãng phí mà còn gây tổn hại đến sức khỏe, các bệnh do virut không chữa được bằng kháng sinh mà vẫn dùng kháng sinh. Gây khó khăn cho chẩn đoán: bệnh nhân bị viêm ruột thừa cấp mà dùng kháng sinh sẽ làm cho lu mờ các triệu chứng gây khó chẩn đoán. Có khi có tác dụng chữa nhưng lại dễ gây ra phản ứng dị ứng, mẫn cảm thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Sử dụng nhiều kháng sinh và liều cao có khả năng gây suy tủy, nhất là trường hợp sử dụng chloramphenicol nhiều. Một số kháng sinh như streptomycine, kanamycine dùng liều cao có thể gây điếc và suy thận. Lạm dụng kháng sinh làm cho vi khuẩn nhờn thuốc, kháng thuốc ngày càng nhiều, từ đó việc chữa trị bệnh càng khó khăn. Ngày nay các tụ cầu trùng kháng thuốc cephalosporin càng nhiều. Một số vi khuẩn khác cũng kháng thuốc do đó tác dụng chữa trị của kháng sinh ngày càng hạn chế. Nhiều người khi dùng thuốc kháng sinh chỉ cho rằng nó thuận tiện, giá thành cũng không quá đắt nhưng người dân lại đâu biết rằng tác hại của nó vô cùng nghiêm trọng. Vậy nên mọi người cần làm gì để hạn chế hay bỏ tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh? Nguyên tắc bạn cần biết khi dùng thuốc kháng sinh đó là chỉ điều trị bệnh do vi khuẩn gây ra và dùng chúng khi thực sự cần thiết, được bác sĩ đồng ý. Đúng liều: khi được bác sĩ kê đơn có thuốc kháng sinh, luôn uống đủ liều lượng đã được kê, không bỏ dở nửa chừng, ngay cả khi cảm thấy bệnh đã đỡ nhiều. Đúng chỉ dẫn: Không dùng thuốc kháng sinh thừa từ lần sử dụng trước; không chia sẻ thuốc kháng sinh trong toa thuốc đang dùng cho người khác uống, ngay cả khi đó là người thân của mình. Vì khi chia sẻ, sẽ thiếu liều thuốc cần uống và vô tình tạo cơ hội cho vi khuẩn mạnh mẽ lên và kháng lại các thuốc điều trị. Điều này gây nguy hiểm cho chính bản thân, cho gia đình và cộng đồng.
Nâng cao nhận thức ngay từ mỗi cá nhân bằng cách bắt đầu bằng thói quen tuân thủ đơn thuốc của bác sĩ, không tự ý mua kháng sinh về dùng cho bất cứ ai hoặc dùng trong chăn nuôi. Nhắc nhở những người quen nếu thấy họ dùng kháng sinh bừa bãi.
Có thể nói thói quen lạm dụng thuốc kháng sinh là một vấn đề cực kỳ nghiêm trọng mà chúng ta không nên chủ quan. Tốt nhất, mỗi người cần có ý thức sử dụng thuốc phù hợp, theo chỉ định của bác sĩ. Nếu sau một thời gian điều trị bạn không thấy hiệu quả, hãy đi tái khám và nhận tư vấn từ bác sĩ “hãy dùng kháng sinh đúng cách vì tương lai của chính chúng ta”.
Dàn ý Viết bài văn nghị luận thuyết phục mọi người từ bỏ thói quen lạm dụng thuốc kháng sinh
Mở bài
- Dẫn dắt và nêu vấn đề của bài viết:
Mọi người cần từ bỏ việc lạm dụng thuốc kháng sinh bởi thói quen này dẫn đến nhiều nguy cơ mà con người phải đối mặt trong điều trị bệnh tật.
Thân bài
- Sắp xếp các ý theo trật tự khác nhau, kết hợp giữa lí lẽ và dẫn chứng để thuyết phục mọi người từ bỏ thói quen lạm dụng thuốc kháng sinh:
+ Giải thích thế nào là thuốc kháng sinh, lạm dụng thuốc kháng sinh và trình bày hiện trạng lạm dụng thuốc kháng sinh hiện nay trong cộng đồng.
+ Những lí do để mọi người nên từ bỏ thói quen lạm dụng thuốc kháng sinh:
• Lạm dụng thuốc kháng sinh gây lãng phí tiền bạc.
• Lạm dụng thuốc kháng sinh gây khó khăn cho việc chẩn đoán, điều trị bệnh.
• Lạm dụng thuốc kháng sinh dẫn đến tình trạng kháng thuốc kháng sinh, gây nguy hiểm cho tính mạng.
+ Dự đoán lập luận của những người có thói quen lạm dụng thuốc kháng sinh (Ví dụ: dựa vào hướng dẫn của người bán thuốc; tham khảo thông tin trên mạng, không có thời gian để đi khám bác sĩ,...). Từ đó, người viết có thể phản biện lại. Chẳng hạn: Người bán thuốc không phải là bác sĩ khám bệnh, họ không đủ kiến thức chẩn đoán và kê đơn điều trị cho người bệnh.
+ Làm thế nào để từ bỏ thói quen lạm dụng thuốc kháng sinh (Ví dụ: hiểu tác hại của việc lạm dụng thuốc kháng sinh, khi có bệnh cần đi khám bác sĩ, mua và sử dụng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ,...)?
Kết bài
Khẳng định lại thông điệp mọi người cần từ bỏ thói quen lạm dụng thuốc kháng sinh vì một cuộc sống khoẻ mạnh, an toàn cho bản thân và cộng

✍️ Câu 1: Phân tích, đánh giá nhân vật Thị Phương (khoảng 200 chữ)
Thị Phương là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam giàu đức hy sinh, nghĩa tình và lòng dũng cảm. Trong đoạn trích, nàng hiện lên với tấm lòng hiếu thảo, sẵn sàng dâng mạng sống để cứu mẹ chồng khỏi nanh vuốt của quỷ dữ và thần rừng. Không chỉ là người con dâu mẫu mực, Thị Phương còn là biểu tượng của tình người, của sự kiên cường trước nghịch cảnh. Nàng không hề than vãn hay sợ hãi, mà luôn giữ thái độ lễ phép, khéo léo trong lời ăn tiếng nói, thể hiện bản lĩnh và trí tuệ. Qua nhân vật Thị Phương, tác giả đề cao vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong xã hội xưa – những con người tuy nhỏ bé nhưng mang trong mình sức mạnh phi thường. Đồng thời, nhân vật cũng gợi nhắc chúng ta về giá trị của tình thân, của lòng nhân ái và niềm tin vào đạo lý “ở hiền gặp lành” trong cuộc sống.
🏠 Câu 2: Thuyết phục các bạn trẻ từ bỏ thói quen "bỏ quên" gia đình trong đời sống hiện nay (khoảng 600 chữ)
Trong nhịp sống hiện đại đầy hối hả, không ít bạn trẻ đang dần hình thành thói quen “bỏ quên” gia đình – nơi từng là chốn yêu thương, là điểm tựa tinh thần vững chắc. Đây là một thực trạng đáng lo ngại, bởi gia đình không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là nơi nuôi dưỡng nhân cách và tâm hồn mỗi con người.
Nhiều bạn trẻ mải mê với công việc, học hành, các mối quan hệ xã hội mà quên đi những bữa cơm gia đình, những cuộc trò chuyện thân mật với cha mẹ. Có người dành hàng giờ cho mạng xã hội nhưng lại không dành nổi vài phút để hỏi thăm người thân. Sự xa cách ấy không chỉ khiến cha mẹ tổn thương mà còn làm chính chúng ta mất đi những giá trị tinh thần quý báu.
Gia đình là nơi duy nhất luôn yêu thương ta vô điều kiện. Cha mẹ là người sẵn sàng hy sinh tất cả để con cái được hạnh phúc. Khi ta vấp ngã, gia đình là nơi duy nhất dang tay đón ta trở về. Vì vậy, việc “bỏ quên” gia đình không chỉ là sự vô tâm mà còn là sự thiếu trách nhiệm với chính bản thân mình.
Để thay đổi thói quen này, mỗi bạn trẻ cần học cách trân trọng những điều giản dị: một bữa cơm cùng gia đình, một lời hỏi thăm, một cái ôm ấm áp. Hãy dành thời gian cho gia đình như cách ta dành cho những điều mình yêu thích. Hãy coi cha mẹ là người bạn đồng hành, là nơi để sẻ chia, để yêu thương.
Từ bỏ thói quen “bỏ quên” gia đình không khó, chỉ cần ta có trái tim biết yêu thương và một chút thời gian để quay về. Bởi lẽ, gia đình không phải là nơi ta đến khi thuận lợi, mà là nơi ta cần nhất khi yếu lòng. Hãy sống sao cho mỗi ngày trở về nhà là một ngày hạnh phúc – đó mới là thành công thực sự của tuổi trẻ.
Câu 1:
Trong đoạn trích "Gặp quỷ dữ và thần rừng" (trích chèo Trương Viên), nhân vật Thị Phương hiện lên như một biểu tượng sáng ngời của đạo hiếu và sự hy sinh cao cả, đại diện cho những phẩm chất cao quý nhất của người phụ nữ Việt Nam truyền thống.
Thị Phương được khắc họa qua hành động và lời đối đáp trong hai tình huống kịch tính: đối mặt với quỷ dữ và chạm trán thần rừng (hổ). Khi mẹ chồng đói lả, kiệt sức, chính Thị Phương là người chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ, thể hiện sự chu đáo và lo lắng hết mực cho mẹ: "Con trông bên đông có lửa / Mẹ ngồi đây, con thử vào coi". Tinh thần hiếu thảo này càng được đẩy lên đỉnh điểm khi đối diện với cái chết. Trước nanh vuốt của quỷ dữ và sau đó là hổ dữ, phản ứng của Thị Phương không phải là sự sợ hãi cho bản thân, mà là sự kiên quyết xin chết thay mẹ: "Ông để mẹ già, tôi xin thế mạng". Lời nói chân thành, thống thiết này bộc lộ một tấm lòng hiếu thảo tuyệt đối, sẵn sàng dâng hiến mạng sống mình để bảo toàn tính mạng cho mẹ chồng—người mà theo quan niệm phong kiến xưa, nàng có bổn phận phụng dưỡng. Sự hy sinh quên mình của Thị Phương không chỉ cảm hóa được quỷ dữ (qua sự can thiệp của Quỷ cái) mà còn lay động được cả thần rừng hung tợn ("Thấy mẹ con tiết nghĩa thay là / Tha cho đó an toàn tính mệnh"). Điều này khẳng định sức mạnh của tình thương và đạo đức truyền thống. Nhân vật Thị Phương, qua ngòi bút dân gian, trở thành một mẫu hình lý tưởng về lòng hiếu thảo, sự kiên trinh và đức hạnh, khiến người đọc, người xem vừa cảm phục vừa xót xa.Câu 2:
Đầu tiên và quan trọng nhất, gia đình là nguồn cội, là bến đỗ bình yên duy nhất mà chúng ta có. Cuộc sống ngoài kia đầy rẫy sự cạnh tranh, áp lực và đôi khi là sự lạnh nhạt, giả dối. Khi vấp ngã, khi mệt mỏi, ai là người sẵn sàng dang rộng vòng tay đón nhận chúng ta vô điều kiện? Đó chính là cha mẹ, anh chị em. Họ là những người chứng kiến sự trưởng thành của bạn, hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu của bạn, và luôn mong muốn điều tốt đẹp nhất cho bạn. Việc "bỏ quên" gia đình đồng nghĩa với việc bạn tự tước đi quyền được chở che, được yêu thương và được phục hồi năng lượng tinh thần ở nơi an toàn nhất. Thứ hai, thời gian là hữu hạn, đặc biệt là thời gian chúng ta có thể ở bên cha mẹ. Cha mẹ đang già đi mỗi ngày. Mỗi cuộc điện thoại bị trì hoãn, mỗi bữa cơm gia đình bị bỏ lỡ vì một cuộc hẹn hò hay một buổi tiệc tùng không quá quan trọng, đều là sự mất mát vĩnh viễn không thể lấy lại được. Nhiều bạn trẻ chỉ nhận ra giá trị của gia đình khi đã quá muộn, khi cha mẹ không còn đủ sức khỏe để chờ đợi, hoặc khi họ đã vĩnh viễn ra đi. Sự hối tiếc lúc đó là vô nghĩa. Thanh xuân của bạn có thể dài, nhưng thanh xuân của cha mẹ thì không. Hãy trân trọng từng khoảnh khắc hiện tại. Thứ ba, việc dành thời gian cho gia đình giúp chúng ta học hỏi được nhiều bài học quý giá về trách nhiệm, sự sẻ chia, lắng nghe và thấu hiểu—những kỹ năng sống thiết yếu mà không trường lớp nào dạy. Trong một xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân, việc duy trì sự kết nối gia đình giúp cân bằng cái tôi, rèn luyện khả năng sống vì người khác. Những bữa cơm chung, những buổi trò chuyện đơn giản là cơ hội để học cách giao tiếp, giải quyết mâu thuẫn và xây dựng sự đồng cảm. Đây là nền tảng vững chắc để bạn xây dựng các mối quan hệ khác thành công trong tương lai, kể cả mối quan hệ hôn nhân và gia đình riêng sau này. Thay vì đắm chìm trong thế giới ảo hay những mối bận tâm phù phiếm, hãy chủ động dành thời gian cho gia đình. Một cuộc gọi video ngắn mỗi ngày, một bữa cơm cuối tuần, hay đơn giản chỉ là ngồi cùng phòng và trò chuyện bâng quơ cũng đủ để giữ lửa yêu thương. Đừng để sự vô tâm biến tình thân thành một khái niệm xa xỉ. Tóm lại, thói quen "bỏ quên" gia đình là một sự lựa chọn đầy rủi ro và thiển cận. Gia đình không chỉ là nơi ta sinh ra, mà còn là nơi nuôi dưỡng tâm hồn ta trưởng thành. Hãy thức tỉnh và nhận ra rằng, dù thế giới ngoài kia có rộng lớn và hấp dẫn đến đâu, thì vòng tay gia đình vẫn là nơi ấm áp và cần thiết nhất cho hạnh phúc đích thực của mỗi người.Trong nhịp sống hiện đại đầy hối hả, với sự bùng nổ của công nghệ số và vô vàn cám dỗ giải trí, một thực trạng đáng buồn đang dần trở nên phổ biến: nhiều bạn trẻ dường như đang "bỏ quên" gia đình mình. Sự chú tâm thái quá vào công việc, bạn bè, mạng xã hội hay những thú vui cá nhân đã khiến sợi dây kết nối giữa các thành viên trong gia đình trở nên lỏng lẻo. Bài viết này nhằm mục đích thuyết phục các bạn trẻ rằng việc duy trì và nuôi dưỡng mối quan hệ gia đình không chỉ là trách nhiệm mà còn là chìa khóa mở ra một cuộc sống cân bằng, hạnh phúc và bền vững hơn.
Câu 1:
Văn học dân gian và sân khấu truyền thống Việt Nam luôn hướng đến việc khắc họa những con người mang vẻ đẹp đạo đức, tiêu biểu cho chuẩn mực nhân cách của cộng đồng. Trong đoạn trích “Gặp quỷ dữ và thần rừng (Hổ)” thuộc vở chèo Trương Viên, nhân vật Thị Phương hiện lên là hình tượng tiêu biểu cho người phụ nữ Việt Nam giàu đức hi sinh và nghĩa tình. Trước cảnh binh biến loạn lạc, Thị Phương không chỉ một lòng giữ trọn tiết hạnh với chồng mà còn tận tâm phụng dưỡng mẹ chồng già yếu. Khi đối diện với hiểm nguy nơi rừng sâu, nàng sẵn sàng xin thế mạng cho mẹ, chấp nhận cái chết để giữ trọn chữ hiếu. Đặc biệt, hành động dâng chính thân thể mình trước hổ dữ cho thấy đỉnh cao của lòng hi sinh, tình mẫu tử và đạo nghĩa làm dâu. Qua nhân vật Thị Phương, tác giả dân gian đã ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam: hiếu thảo, thủy chung, giàu đức hi sinh, coi đạo nghĩa và tình thân cao hơn sự sống cá nhân. Đây chính là giá trị nhân văn sâu sắc mà đoạn trích mang lại.
Câu 2:
Nhà văn Lev Tolstoy từng nói: “Gia đình là nơi cuộc sống bắt đầu và tình yêu không bao giờ kết thúc.” Còn Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Gia đình là tế bào của xã hội.” Những lời nói ấy cho thấy vai trò thiêng liêng của gia đình trong đời sống con người. Thế nhưng, trong xã hội hiện đại ngày nay, không ít bạn trẻ đang dần “bỏ quên” gia đình, một thực trạng đáng suy ngẫm.
“Bỏ quên gia đình” là việc con người mải mê với công việc, học tập, mạng xã hội hay các mối quan hệ bên ngoài mà thờ ơ, thiếu quan tâm, chia sẻ và gắn bó với những người thân yêu nhất. Biểu hiện của hiện tượng này rất dễ nhận thấy: ít trò chuyện với cha mẹ, thờ ơ trước nỗi buồn của người thân, coi bữa cơm gia đình là điều không cần thiết, dành hàng giờ cho điện thoại nhưng lại keo kiệt thời gian cho gia đình.
Thực trạng ấy ngày càng phổ biến, đặc biệt trong giới trẻ. Nhịp sống gấp gáp, áp lực học tập, công việc cùng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ khiến nhiều người vô tình xa rời tổ ấm của mình. Tuy nhiên, nguyên nhân không chỉ đến từ hoàn cảnh khách quan mà còn xuất phát từ ý thức chủ quan: sự vô tâm, ích kỉ, coi gia đình là điều hiển nhiên luôn tồn tại.
Việc “bỏ quên” gia đình để lại nhiều hệ quả nghiêm trọng. Gia đình vốn là nơi nuôi dưỡng tâm hồn, là chỗ dựa tinh thần vững chắc nhất. Khi thiếu đi sự gắn kết gia đình, con người dễ rơi vào cô đơn, lạc lõng và mất phương hướng trong cuộc sống. Ngược lại, sự quan tâm, yêu thương từ gia đình giúp mỗi cá nhân có thêm động lực vượt qua khó khăn, hoàn thiện nhân cách và sống nhân ái hơn.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng, có những người trẻ phải bận rộn mưu sinh, học tập xa nhà nên không thể ở bên gia đình thường xuyên. Điều đó không đáng trách nếu họ vẫn giữ được sự quan tâm, yêu thương qua những hành động nhỏ như một cuộc gọi, một lời hỏi han chân thành. Điều đáng phê phán chính là sự thờ ơ, vô cảm ngay cả khi có điều kiện quan tâm đến gia đình.
Gia đình là nơi duy nhất yêu thương ta vô điều kiện. Vì vậy, mỗi người trẻ cần ý thức trân trọng mái ấm của mình khi còn có thể. Hãy dành thời gian cho gia đình, lắng nghe cha mẹ, sẻ chia với người thân, bởi có những điều nếu bỏ lỡ sẽ không bao giờ tìm lại được.
Vì vậy, từ bỏ thói quen “bỏ quên” gia đình không chỉ là trách nhiệm mà còn là cách để mỗi người sống trọn vẹn và hạnh phúc hơn. Bản thân tôi nhận ra rằng, dù đi đâu, làm gì, gia đình vẫn luôn là điểm tựa thiêng liêng nhất, nơi ta cần giữ gìn và yêu thương suốt cuộc đời.