K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

1.

Danh sách các xã, phường, đặc khu tại huyện Tiên Yên (sau sáp nhập 2025):

Xã Tiên Yên: Được thành lập từ thị trấn Tiên Yên cũ và một phần của các xã Yên Than, Đại Dực, Đông Ngũ, Vô Ngại.

Xã Điền Xá: Sáp nhập từ xã Hà Lâu, Điền Xá cũ và một phần còn lại của xã Yên Than.

Xã Đông Ngũ: Gồm xã Đông Hải và phần còn lại của xã Đại Dực, xã Đông Ngũ cũ.

Xã Hải Lạng: Sáp nhập từ xã Đồng Rui, một phần xã Hải Lạng và phần còn lại của xã Hải Hòa.

Xã Bình Liêu: Một trong những đơn vị hành chính thuộc vùng III.

Xã Lục Hồn: Cũng thuộc vùng III.

Xã Hoành Mô: Nằm trong vùng III cùng với các xã khác.

Đặc khu Vân Đồn: Bao gồm thị trấn Cái Rồng và một số xã.

Đặc khu Cô Tô: Bao gồm thị trấn Cô Tô và các xã khác.

Ý nghĩa tên gọi:

Tên gọi theo địa lý: Nhiều tên gọi như "Đầm Hà", "Quảng Hà" có thể liên quan đến các đặc điểm tự nhiên như sông, đầm lầy trong khu vực, theo thông tin từ các bài báo về sáp nhập hành chính.

Tên gọi liên quan đến lịch sử, văn hóa: Một số tên như "Hoành Mô" có thể là tên địa danh cũ hoặc gợi nhớ một sự kiện lịch sử nào đó tại địa phương.

2.

Từ năm 938, lịch sử Quảng Ninh đã trải qua nhiều sự kiện tiêu biểu, bao gồm:

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938: Ngô Quyền đã lãnh đạo quân dân đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, kết thúc hơn 1000 năm Bắc thuộc và mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài cho dân tộc.

Thời nhà Trần: Quảng Ninh là nơi có vị trí chiến lược quan trọng, là trung tâm Phật giáo của nước Đại Việt với Khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều.

Kháng chiến chống quân Mông - Nguyên: Vùng đất Quảng Ninh là nơi diễn ra trận chiến quyết định trên sông Bạch Đằng năm 1288, do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy, đánh tan quân xâm lược Mông - Nguyên.

3.

Văn hóa biển ở Quảng Ninh có những biểu hiện và ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội:

Kinh tế: Văn hóa biển thể hiện qua các ngành nghề truyền thống như đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, chế biến hải sản. Ngoài ra, nó còn là nền tảng cho sự phát triển du lịch biển, đảo.

Văn hóa - xã hội: Văn hóa biển in đậm trong đời sống tinh thần của người dân Quảng Ninh với các lễ hội truyền thống như Lễ hội đền Cửa Ông, Lễ hội Yên Tử, Lễ hội đình Trà Cổ. Các di sản văn hóa phi vật thể như hát nhà tơ - hát đối, hát chèo thuyền cũng là một phần của văn hóa biển.

4.

Để thể hiện sự trân trọng, quá trình lao động sáng tạo và phát huy những thành quả của con người trên vùng đất Quảng Ninh, bạn có thể thực hiện những hành động sau:

Tìm hiểu và học hỏi: Tích cực tìm hiểu về lịch sử, văn hóa, truyền thống của Quảng Ninh để thêm yêu và tự hào về quê hương.
Bảo tồn và phát huy: Tham gia các hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, di tích lịch sử của địa phương.

Đóng góp và xây dựng: Nỗ lực học tập, lao động để đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Quảng bá hình ảnh: Giới thiệu về vẻ đẹp thiên nhiên, con người, văn hóa của Quảng Ninh đến bạn bè và du khách.

1
1.Danh sách các xã, phường, đặc khu tại huyện Tiên Yên (sau sáp nhập 2025):Xã Tiên Yên: Được thành lập từ thị trấn Tiên Yên cũ và một phần của các xã Yên Than, Đại Dực, Đông Ngũ, Vô Ngại. Xã Điền Xá: Sáp nhập từ xã Hà Lâu, Điền Xá cũ và một phần còn lại của xã Yên Than. Xã Đông Ngũ: Gồm xã Đông Hải và phần còn lại của xã Đại Dực, xã Đông Ngũ cũ. Xã Hải Lạng: Sáp nhập...
Đọc tiếp

1.

Danh sách các xã, phường, đặc khu tại huyện Tiên Yên (sau sáp nhập 2025):

Xã Tiên Yên: Được thành lập từ thị trấn Tiên Yên cũ và một phần của các xã Yên Than, Đại Dực, Đông Ngũ, Vô Ngại.

Xã Điền Xá: Sáp nhập từ xã Hà Lâu, Điền Xá cũ và một phần còn lại của xã Yên Than.

Xã Đông Ngũ: Gồm xã Đông Hải và phần còn lại của xã Đại Dực, xã Đông Ngũ cũ.

Xã Hải Lạng: Sáp nhập từ xã Đồng Rui, một phần xã Hải Lạng và phần còn lại của xã Hải Hòa.

Xã Bình Liêu: Một trong những đơn vị hành chính thuộc vùng III.

Xã Lục Hồn: Cũng thuộc vùng III.

Xã Hoành Mô: Nằm trong vùng III cùng với các xã khác.

Đặc khu Vân Đồn: Bao gồm thị trấn Cái Rồng và một số xã.

Đặc khu Cô Tô: Bao gồm thị trấn Cô Tô và các xã khác.

Ý nghĩa tên gọi:

Tên gọi theo địa lý: Nhiều tên gọi như "Đầm Hà", "Quảng Hà" có thể liên quan đến các đặc điểm tự nhiên như sông, đầm lầy trong khu vực, theo thông tin từ các bài báo về sáp nhập hành chính.

Tên gọi liên quan đến lịch sử, văn hóa: Một số tên như "Hoành Mô" có thể là tên địa danh cũ hoặc gợi nhớ một sự kiện lịch sử nào đó tại địa phương.

2.

Từ năm 938, lịch sử Quảng Ninh đã trải qua nhiều sự kiện tiêu biểu, bao gồm:

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938: Ngô Quyền đã lãnh đạo quân dân đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, kết thúc hơn 1000 năm Bắc thuộc và mở ra thời kỳ độc lập, tự chủ lâu dài cho dân tộc.

Thời nhà Trần: Quảng Ninh là nơi có vị trí chiến lược quan trọng, là trung tâm Phật giáo của nước Đại Việt với Khu di tích lịch sử nhà Trần tại Đông Triều.

Kháng chiến chống quân Mông - Nguyên: Vùng đất Quảng Ninh là nơi diễn ra trận chiến quyết định trên sông Bạch Đằng năm 1288, do Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn chỉ huy, đánh tan quân xâm lược Mông - Nguyên.

3.

Văn hóa biển ở Quảng Ninh có những biểu hiện và ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội:

Kinh tế: Văn hóa biển thể hiện qua các ngành nghề truyền thống như đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, chế biến hải sản. Ngoài ra, nó còn là nền tảng cho sự phát triển du lịch biển, đảo.

Văn hóa - xã hội: Văn hóa biển in đậm trong đời sống tinh thần của người dân Quảng Ninh với các lễ hội truyền thống như Lễ hội đền Cửa Ông, Lễ hội Yên Tử, Lễ hội đình Trà Cổ. Các di sản văn hóa phi vật thể như hát nhà tơ - hát đối, hát chèo thuyền cũng là một phần của văn hóa biển.

4.

Để thể hiện sự trân trọng, quá trình lao động sáng tạo và phát huy những thành quả của con người trên vùng đất Quảng Ninh, bạn có thể thực hiện những hành động sau:

Tìm hiểu và học hỏi: Tích cực tìm hiểu về lịch sử, văn hóa, truyền thống của Quảng Ninh để thêm yêu và tự hào về quê hương.
Bảo tồn và phát huy: Tham gia các hoạt động bảo tồn di sản văn hóa, di tích lịch sử của địa phương.

Đóng góp và xây dựng: Nỗ lực học tập, lao động để đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Quảng bá hình ảnh: Giới thiệu về vẻ đẹp thiên nhiên, con người, văn hóa của Quảng Ninh đến bạn bè và du khách.

0
11 tháng 4 2019

a) Hỏng đèn.

 Đèn ................bị hỏng..............

b) Người ta đã phá ngôi nhà dột nát ấy đi.

 Ngôi nhà dột nát ấy ...đã bị người ta phá đi..............................

c) Xã A đông dân hơn xã B.

 Xã B ......ít dân hơn xã A........................

d) Mây bị nắng xua đi.

 Nắng ......xua mây đi........................

đ) Kì nghỉ hè này kéo dài 2 tháng.

 Chúng em có ..........2 tháng nghỉ hè....................

e) Nước đầy thùng.

 Thùng ...........đầy nước...................

f) Em sống ở ven đường 73, Hà Nội.

 Địa chỉ ....nhà em ở đường 73, Hà nôi..........................

g) Núi Phan-xi-păng cao hơn núi Cấm Sơn.

 Núi Cấm Sơn ......thấp hơn núi phan-xi-păng.......................

11 tháng 4 2019

Viết lại câu sao cho nghĩa không đổi :

a) Hỏng đèn.

 Đèn bị hỏng.

b) Người ta đã phá ngôi nhà dột nát ấy đi.

 Ngôi nhà dột nát ấy đã bị người ta phá đi.

c) Xã A đông dân hơn xã B.

 Xã B thưa dân hơn xã A.

d) Mây bị nắng xua đi.

 Nắng xua mây đi

đ) Kì nghỉ hè này kéo dài 2 tháng.

 Chúng em có kì nghỉ hè 2 tháng.

e) Nước đầy thùng.

 Thùng bị đầy nước.

f) Em sống ở ven đường 73, Hà Nội.

 Địa chỉ nhà em ở ven đường 73, Hà Nội

g) Núi Phan-xi-păng cao hơn núi Cấm Sơn.

\(\rightarrow\) Núi Cấm Sơn thấp hơn núi Phan-xi-păng.

[Nhận xét giúp mình về 2 đoạn văn này nhé !]Đề 1 : Viết đoạn văn 6-8 câu nêu cảm nghĩ của em về hiện tượng lũ lụt ở miền Trung mà em đã từng đọc , từng thấy trên tivi hoặc các trang mạng xã hội . BÀI LÀM Trong những ngày qua , người miền Trung đang phải gánh lấy biết bao hậu quả khinh khủng từ cơn ác mộng mang...
Đọc tiếp

[Nhận xét giúp mình về 2 đoạn văn này nhé !]

Đề 1 : Viết đoạn văn 6-8 câu nêu cảm nghĩ của em về hiện tượng lũ lụt ở miền Trung mà em đã từng đọc , từng thấy trên tivi hoặc các trang mạng xã hội .

BÀI LÀM

Trong những ngày qua , người miền Trung đang phải gánh lấy biết bao hậu quả khinh khủng từ cơn ác mộng mang tên lũ lụt gây ra . Bầu trời tối sầm , mưa không ngớt , xung quanh là một màn nước trắng xóa bao phủ cả miền Trung . Nước dâng lên cao , cuồn cuộn chảy cuốn phăng mọi thứ , nhấn chìm đồng ruộng , những ngôi nhà thấp , … . Xác trâu bò trôi lênh bềnh trên nước , người dân thì chen chúc nhau trèo lên mái nhà đợi thuyền cứu sinh . Giờ đây, trận lũ ấy đã đi qua nhưng còn để lại bao cảnh thương tâm . Người người than khóc khi mất người thân ; người nông dân thì trắng tay bởi lúa giống , nhà cửa , trâu bò đều trôi theo dòng nước lũ . Những đứa trẻ miền Trung ngày càng gầy guộc đi vì thiếu thức ăn , đến cả đi học cũng chẳng thể . Chính vì thế , chúng ta nền trích một phần tiền thưởng , tiền tiêu vặt của mình để cùng “chung tay góp sức” giúp đỡ người miền Trung về món ăn tinh thần lẫn giá trị vẫn chất .

 

Đề 2 : Mạng Internet hiện nay được sử dụng rất rộng rãi chính vì thế người ta đã dùng để xem phim , coi báo , chơi game . Em hãy viết 1 đoạn văn 6-8 câu nêu cảm nghĩ của em về thực trang mạng Internet nói chung

BÀI LÀM

Internet là nơi hội tụ các nguồn thông tin trở thành thế giới thu nhỏ được sử dụng rộng rãi,vì vậy chúng ta có thể đọc báo , xem phim , chơi game , … . Nhưng mạng Internet cũng như một con dao hai lưỡi , gây ra biết bao tệ nạn xã hội như : các trò chơi giải trí bạo lực , những hiểm họa khôn lường từ mạng xã hội. Nếu dạo một vòng quanh các quán Internet ven đường thì ôi thôi hình ảnh của những cậu học trò mắt dán lên màn hình, tay lia lịa trên bàn phím khiến cho bất cứ ai cũng ngán ngẩm. Và rất có thể vì “con ma điện tử”ấy mà họ đánh mất đi tương lai đẹp đẽ của chính mình . Ngoài ra , nghiện mạng xã hội cũng là một vấn đề đáng lo ngại : dùng những tài khoản “ảo” để bới móc , bôi nhọ người khác một cách không thương tiếc . Không ít người đã bị trầm cảm , áp lực hay nặng nề hơn là tự tử chỉ vì những lời nói “ảo” ấy ! Nhưng nếu biết sử dụng Internet một cách thông minh , ta có thể dễ dàng tra cứu tài liệu , cập nhập thông tin nhanh chóng và kết nối bạn bè khắp các vùng miền , đất nước . Vì vậy , chúng ta hãy là một người dùng thông minh , tránh xa các sự cám dỗ nguy hiểm ấy , “hãy điều khiển Internet chứ đừng để chúng điều khiển bạn”

[Các bạn giúp mình nhận xét về 2 đoạn văn nha ! Ngày mai mình sẽ nộp cho cô rồi , nhất là đề số 2 ấy]

3
5 tháng 12 2016

very good

5 tháng 12 2016

hay wáyeu

16 tháng 11 2021

Trong kho tàng văn học trung đại có rất nhiều những tác giả đã dùng ngòi bút của mình để viết về những mảnh đời bất hạnh. Mà tiêu biểu nhất đó là số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ. Được sinh ra làm người nhưng không sống đúng giá trị của một con người. Trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ. Nàng chính là một đại diện tiêu biểu cho tầng lớp phụ nữ nói riêng và phụ nữ trong xã hội cũ nói chung.

Vũ Nương là một người con gái với xuất thân bình dân và vẻ đẹp dung dị mặn mà. Chính vì thế nàng đã được con trai hào phú trong làng để ý tới. Trương Sinh không tiếc trăm ngàn lạng vàng đến hỏi cưới nàng về làm vợ. Thế nhưng Trương Sinh là công tử ít học, từ bé sống trong nhung lụa nên có tính đa nghi, gia trưởng. Từ sau khi làm dâu ý thức được thân phận nhỏ bé, gia cảnh bần hàn của mình Vũ Nương chưa một lần dám phản kháng hay làm trái ý chồng. Cuộc sống những tưởng êm ả thế nhưng binh biến loạn lạc, Trương Sinh phải lên đường ra chiến trận. Ngày chia tay nàng rót chén rượu đầy cho chồng mà thưa rằng: “Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ…”. Mong muốn của nàng chẳng phải chức tước công lao chỉ đơn giản là hai tiếng hạnh phúc bình dị. Đó chính là niềm khát khao cháy bỏng của người vợ trong những ngày binh chiến loạn lạc.

Vũ Nương ở lại một tay tần tảo lo lắng việc nhà, chăm sóc mẹ già lại phải cáng đáng thêm đứa con mới lọt lòng. Thế nhưng tuyệt nhiên chưa bao giờ người phụ nữ ấy oán trách nửa lời. Sau khi tiễn con trai lên đường mẹ già vì quá đau buồn mà sinh bệnh nặng. Vũ Nương ngày đêm túc trực thăm nom, đi khắp nơi kiếm thầy tìm thuốc chữa cho mẹ chồng, đồng thời hết lời khuyên lơi nhưng bà không qua khỏi. Mẹ chồng vô cùng cảm động trước tình cảm của con dâu nên trước khi nhắm mắt xuôi tay bà cầm tay nàng mà dặn dò : “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống nòi tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.” Sau khi mẹ chồng qua đời nàng hết lòng ma chay, tang chú lễ nghĩa cho trọn đạo dâu hiền.

Về phần con nhỏ, do quấy khóc nên hàng đêm Vũ Nương ẵm con trên tay chỉ vào chiếc bóng mình trên tường và nói “Cha con đến kìa”. Mỗi lần như thế đứa bé lại cười reo thích thú. Lâu dần thành quen nàng cũng chẳng còn nhớ giải thích về “chiếc bóng” trên tường với con nữa.

Giặc tan, Trương Sinh trở về tưởng rằng hạnh phúc sẽ mỉm cười với nàng từ đây thế nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. Chỉ vì hiểu lầm nhỏ nhặt mà đã đẩy cuộc đời Vũ Nương vào bế tắc.

Chính chiếc bóng mình trên tường đã khiến Trương Sinh nảy sinh lòng đa nghi đố kỵ. Không nghe vợ giải thích chỉ biết đánh đuổi nàng ra khỏi nhà. Vũ Nương vì quá tủi nhục đã trẫm mình xuống sông tự vẫn kết thúc nỗi oan nghiệt thấu trời. Nguyên nhân đẩy nàng đến cái chết không phải do sự vô tâm của chồng mà chính là sự cay nghiệt của miệng đời.

Số phận của Vũ Nương cũng chính là hình ảnh của người phụ nữ trong xã hội cũ. Luôn bị áp bức và dồn đến đường cùng. Dù họ có xinh đẹp tài hoa hay sang hèn thì đều chung một tiếng đó là “bạc mệnh”. Như nhà thơ Nguyễn Du từng viết:

“Đau đớn thay thân phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Họ là những nạn nhân của chế độ cũ, của những hủ tục lạc hậu và định kiến hà khắc. Sống ở đó họ chỉ tồn tại như những món đồ vô tri vô giác, mang đi đổi chác, bán mua và hoàn toàn không có quyền lên tiếng hay thanh minh gì cho mình. Vũ Nương chết mang theo nỗi oan thấu trời xanh thế nhưng kẻ khiến nàng rơi vào đường cùng là Trương Sinh lại không bị xã hội lên án hay dè bỉu. Thậm chí khi nàng đã được minh oan, Trương Sinh cũng không bị cắn rứt lương tâm, không muốn nhắc lại chuyện cũ mà coi như “nó đã qua”. Phải chăng sự sống và cái chết của người phụ nữ trong xã hội bị coi thường đến mức rẻ rúm? Họ không có quyền thanh minh và lại càng không được bảo vệ đến tính mạng?

Nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã từng ngậm ngùi khi nói về thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ bằng những vần thơ đầy đau thương:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Thế nhưng mặc dù đã đạp lên số phận, đã khẳng định tiếng nói vị thế của mình song hành động đó của bà chỉ như một điểm sáng vụt qua giữa bầu trời đầy đen tối. Nó không đủ để làm nên một đại cách mạng về quyền sống và quyền làm người của phụ nữ trong xã hội đương thời đầy rối ren và bế tắc.

Vũ Nương chính là một hình ảnh đại diện cho số phận người phụ nữ trong xã hội cũ. Những con người sinh ra làm con người nhưng không được sống trọn vẹn một kiếp người. Đó cũng là tiếng nói chống lại sự bất công, phân biệt đối xử trong xã hội, và là tiếng lòng nhân ái đầy sâu sắc mà nhà văn Nguyễn Dữ muốn gửi gắm.

4 tháng 11 2018

" Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tâm lòng son"
Bốn câu thơ trên tuy ngắn gọn những cũng đủ để "Bà chúa thơ Nôm" nói lên suy nghĩ của mình về số phận của đời của người phụ nữ. Từ "thân em" là từ ngữ chỉ người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa."Vừa trắng lại vừa tròn" là cái hình ảnh người phụ nữ xinh đẹp, duyên dáng. Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh bánh trôi nước để nói lên cái sự chịu vùi dập từ những thành kiến bất công đường thời mà người phụ nữ gánh chịu. Đồng thời, ta thấy được cái quan niệm "trọng nữ khinh nam" vẫn tồn tại khiến người phụ nữ phải chịu bất công, số phận và cuộc đời của họ lại bị những người đàn ông quyết định. Chao ôi, người phụ nữ thật can đảm và mạnh mẽ mới có thể chịu được những điều ấy. Thân phận của họ vẫn cứ thế, bấp bênh như câu thành ngữ "bảy nổi ba chìm" đã được đảo ngược ở trong bài thơ, không biết sẽ đi về đâu và như thế nào. Nhưng dù thế nào họ vẩn cố gắng giữ cái giá, phẩm chất của mình, họ vẫn giữ tấm lòng sắt son, thủy chung dù có ở cảnh ngộ nào cũng vây. Qua đó, ta thấy tác giả đã ca ngợi em đẹp của người phụ nữ phong kiến đương thời cả về hình thức lẫn phẩm chất của họ. Đồng thời, bài thơ "Bánh trôi nước" là một bài thơ thể hiện cảm hứng nhân đạo trong văn học viết Việt Nam dưới thời phong kiến, ngợi ca vẻ đẹp, phẩm chất của người phụ nữ,và thể hiện lòng cảm thương sâu sắc đối với thân phận nổi chìm của họ.

4 tháng 11 2018

link này nha

https://h.vn/hoi-dap/question/67565.html

học tốt

k

mình sẽ tạo ra 1 câu truyện từ bạn VŨ QUANG MINH nhatất cả chỉ là tưởng tượng thôi nha : BẮT ĐẦUNgười ta kể rằng, ở trường THCS Xã Kép, có một điều kỳ lạ xảy ra suốt nhiều năm qua. Vào mỗi giờ ra chơi, nếu học sinh nào quên không cất bút, chỉ để hớ hênh trên bàn học, thì sau khi quay lại — chiếc bút ấy sẽ biến mất.Không ai biết thực thể nào đã lấy nó đi. Chỉ có điều, ai...
Đọc tiếp

mình sẽ tạo ra 1 câu truyện từ bạn VŨ QUANG MINH nha

tất cả chỉ là tưởng tượng thôi nha : BẮT ĐẦU

Người ta kể rằng, ở trường THCS Xã Kép, có một điều kỳ lạ xảy ra suốt nhiều năm qua. Vào mỗi giờ ra chơi, nếu học sinh nào quên không cất bút, chỉ để hớ hênh trên bàn học, thì sau khi quay lại — chiếc bút ấy sẽ biến mất.

Không ai biết thực thể nào đã lấy nó đi. Chỉ có điều, ai liều lĩnh quay lại tìm thì đôi khi… thấy một vỏ bút rỗng nằm ngay ngắn trên mặt bàn — ruột bút, mực, và ngòi đều biến mất không dấu vết.

Một vài học sinh từng thề rằng họ nghe thấy tiếng cào nhẹ lên mặt bàn, hay thoáng thấy một bóng đen cúi xuống chỗ ngồi của mình. Nhưng khi quay lại nhìn — chẳng có ai cả.

Đến nay, chưa ai tìm lại được chiếc bút nào còn nguyên vẹn. Và từ đó, học sinh trong trường đều truyền nhau một câu nhắc nhở:

Ra chơi nhớ cất bút nếu ko muốn bị mất

Nguồn gốc của Thực Thể Bút Mất

Chuyện kể rằng, cách đây hơn mười năm, trong một lớp học cũ ở dãy nhà A, có một cậu học sinh tên K. — một người rất yêu thích viết lách. Cậu luôn mang theo chiếc bút mực xanh, tự khắc tên mình lên nắp bút, và viết những câu chuyện, những ước mơ nhỏ trong quyển sổ tay.

Một ngày mưa lớn, trường ngập nước, mọi người đều vội chạy về. K. vẫn ngồi trong lớp, cố chép nốt bài kiểm tra vì không muốn bị điểm kém. Sét đánh trúng cây bàng trước sân, một nhánh gãy rơi trúng mái tôn… và kể từ đó, không ai thấy K. nữa.

Chỉ có chiếc bàn nơi cậu ngồi là vẫn còn — trên đó, vỏ bút bị nứt đôi, còn ruột bút biến mất. Người ta nói linh hồn K. chưa rời đi, bởi cậu còn tiếc nuối những dòng chữ chưa viết xong. Từ đó, mỗi khi học sinh để quên bút trên bàn, K. sẽ “mượn” nó để viết tiếp phần câu chuyện của mình. Nhưng khi viết xong, chỉ còn lại cái vỏ trống rỗng...

Một số học sinh khẳng định rằng vào buổi chiều muộn, nếu ở lại lớp một mình, có thể nghe thấy tiếng bút viết loạt xoạt trên giấy, dù chẳng có ai ngồi đó.

Từ ấy, dân trường thì thầm với nhau:

“Chiếc bút bị lấy mất không phải bị đánh cắp… mà là đang viết nốt giấc mơ của K

Lời Gọi Hồn Trong Lớp Học Bỏ Trống

Nhiều năm sau, có một học sinh tên Minh, nổi tiếng là gan lì và thích khám phá những câu chuyện ma học đường. Nghe về truyền thuyết chiếc bút bị mất, Minh không tin. Cậu cho rằng đó chỉ là trò dọa nhau của mấy anh chị khóa trước.

Một buổi chiều thứ Sáu, khi cả trường đã tan học, Minh lén quay lại lớp 7/3 — nơi được cho là lớp học cũ của K. Cậu đặt một cây bút mực lên bàn, thắp một ngọn nến nhỏ, rồi nói khẽ:

“Nếu có ai ở đây… và muốn viết tiếp câu chuyện của mình, hãy dùng cây bút này.”

Không gian im lặng. Chỉ có tiếng gió rít qua khung cửa. Nhưng vài phút sau, ngọn nến bắt đầu chập chờn, ánh sáng lắc lư như có ai vừa đi qua. Chiếc bút trên bàn tự động lăn nhẹ, rồi… dừng lại, đầu bút hướng về cuốn vở trước mặt Minh.

Cậu nín thở, mở nắp bút ra. Ruột bút vẫn còn nguyên. Nhưng khi đặt xuống giấy, bút tự viết — những nét chữ run rẩy, nguệch ngoạc hiện ra:

“Đừng… để… quên… bút…”

Ngay khoảnh khắc ấy, ngọn nến vụt tắt. Minh hét lên, chạy vội ra ngoài. Sáng hôm sau, bạn bè tìm thấy cuốn vở của cậu trên bàn, trang giấy bị xé rách một góc, còn cây bút thì chỉ còn lại cái vỏ rỗng.

Từ đó, không ai dám ở lại lớp sau giờ tan học nữa. Và truyền thuyết vẫn được truyền miệng đến tận bây giờ — như một lời nhắc rùng mình cho học sinh toàn trường:

Ra chơi, nhớ cất bút. Vì có thể… K. vẫn đang đi tìm cây bút để viết tiếp giấc mơ của mình.”

các bạn thấy thế nào :)

9
4 tháng 10 2025

Hay quá bạn ơi

Chuyện này hay nha

1,Tìm dẫn chứng , luận điểm cho minh nhá. Chỉ cần copy ra là được!Ca dao không những là tiếng nói của khối óc mà chủ yếu còn là tiếng nói trái tim của nhân dân ta. Thật vậy, trong hàng ngàn năm sống, làm việc và chiến đấu đã qua, cha ông ta đã bày tỏ tình cảm buồn vui của mình trong vô vàn câu ca dao gợi cảm. Qua đó, chúng ta cảm nhận được nhữngtình cảm thiết tha và cao quý của...
Đọc tiếp

1,Tìm dẫn chứng , luận điểm cho minh nhá. Chỉ cần copy ra là được!hihi

Ca dao không những là tiếng nói của khối óc mà chủ yếu còn là tiếng nói trái tim của nhân dân ta. Thật vậy, trong hàng ngàn năm sống, làm việc và chiến đấu đã qua, cha ông ta đã bày tỏ tình cảm buồn vui của mình trong vô vàn câu ca dao gợi cảm. Qua đó, chúng ta cảm nhận được nhữngtình cảm thiết tha và cao quý của người Việt Nam mình thật rõ rệt. Đầu tiên, tiếng nói trái tim ấy thể hiện khá sinh động tình yêu quê hương đất nước của cha ông ta. Đó là niềm tự hào, gắn bó kháng khít với bao danh lam thắng cảnh của nơi chôn nhau cắt rốn. Điều này dễ hiểu.

Thời xưa, điều kiện đi lại khó khăn, hiểu biết của mỗi người đều có hạn, ít ai hình dung được hết một dải gấm vóc non sông trải dài từ Bắc chí Nam của đất nước mình. Do vậy, mỗi người, ai cũng gắn bó máu thịt với làng mạc quê hương, ruộng lúa, bờ tre, ngọn rau, tấc đất của mình. Chính vì lẽ đó mà người dân xứ Lạng tự hào:

Đồng Đăng có phố Kì Lừa  … Bỏ công bác mẹ sinh thành ra em.

Người con của mảnh đất xứ Nghệ cũng hãnh diện về quê hương mình:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh 

Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

Xưa kia hay ngay cả bây giờ, trong hàng triệu người Việt Nam, có biết bao người chưa một lần đặt chân đến Kinh kì (Đông Đô, Thăng Long, Hà Nội), mảnh đất trái tim Tổ quốc. Thế nhưng ai lại không xúc động tâm hồn khi nghe thấy những lời ca thắm thiết:

Gió đưa cành trúc la đà 

Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

Dù yêu một cây đa bến nước vô danh, hay yêu bức “họa đồ” của một vùng “non xanh nước biếc” hữu danh nào đó, thì đây cũng là khởi điểm của tình yêu đất nước, là tình cảm cao quý, thiêng liêng đối với hồn thiêng sông núi Việt Nam. Chính từ tình yêu cao cả ấy mà mỗi người Việt Nam xác định được một thái độ tình cảm đúng đắn, đối xử thân ái với nhau, “chị ngã em nâng”, “lá lành đùm lá rách”, hỗ trợ nhau trong hoàn cảnh ngặt nghèo. Khi ấy, lòng yêu nước thể hiện ra ở tình cảm đồng bào máu thịt:

Bầu ơi thương lấy bí cùng 

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Bầu và bí tuy là khác giống, nhưng vẫn mang nặng nghĩa chị tình em, vì cùng sinh trưởng chung trên một giàn. Con người đâu khác. Tuy nguồn gốc, hoàn cảnh và địa vị xã hội khác nhau, nhưng mọi người vẫn tồn tại trong cùng chung một đất nước. Trong quá trình dài lâu sống chung với nhau như thế, tình cảm hình thành, phát triển, trong ngôn ngữ Việt Nam chúng ta có từ đồng bào để chỉ “người trong một nước”. Từ đó, một câuca dao đầy gợi cảm đã nảy sinh từ nghìn xưa, đến nay ai ai cũng nhớ nằm lòng:

 

Qua ca dao, người bình dân Việt Nam đã thể hiện được những tình cảm thiết tha và cao quý của mình

Nhiễu điều phủ lấy giá gương  

Người trong một nước phải thương nhau cùng. 

Trong ca dao Việt Nam, tình yêu đất nước đồng bào thiết tha, nồng thắm bao nhiêu thì tình cảm gia đình càng thiết tha nồng thắm bấy nhiêu. Điều này đã rõ. Gia đình từ nghìn xưa vốn là đơn vị cơ bản của đất nước. Gia đình thuận hòa, êm ấm là góp phần làm nên một xã hội phồn vinh hạnh phúc. Ai cũng biết trong tình cảm gia đình, cao quý nhất là tình cảm của con cái đối với các bậc sinh thành. Ca dao có biết bao câu tuyệt đẹp về mối quan hệ này:

Công cha như núi Thái Sơn 

…Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Đặc biệt, ca dao có những câu tuyệt đẹp về tình cảm mẹ con:

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa , 

 

Miệng nhai cơm búng, lưỡi lừa cá xương. 

Vì thế, khi chia xa, phải rời mẹ, có người con nào không khỏi bâng khuâng đau xót:

Chiều chiều chim vịt kêu chiều  

Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau. 

Trân trọng tình cảm gia đình, nhân dân ta đề cao tình yêu vợ chồng gắn bó nồng thắm, thủy chung. ‘“Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”. Cả trong cảnh ngộ đói nghèo, khổ cực, người bình dân vần yêu đời: Râu tôm nấu với ruột bầu  Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon. Bởi lẽ họ nghĩ là:

Thà rằng ăn bát cơm rau

Còn hơn cá thịt nói nhau nặng lời.

Trong cuộc sống, nhân dân phải làm việc vất vả, thường xuyên va chạm với biết bao trở ngại chông gai, hiểm nguy, cùng cực, nhưng từ nghìn xưa, người lao động vẫn luôn giữ được lòng son sắt với cuộc đời. Có gì nhọc nhằn hơn công việc một nắng hai sương, dầm mưa dãi gió, để mong sao có được “dẻo thơm một hạt”. Thế mà họ làm nên đươc bao khúc hòa ca lao động:

Trên đồng cạn dưới đồng sâu  

Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa. 

Mỗi thành viên một việc làm, kể cả con trâu nữa chứ! Đủ thấy đối với nhà nông, thật đúng “con trâu là đầu cơ nghiệp”, nên được họ yêu thương biết mấy. Thử nghe lời họ thủ thỉ với con trâu:

Trâu ơi! Ta bảo trâu này  

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta  

Cấy cày vốn nghiệp nông gia  

Ta đây, trâu đấy, ai mà quản công  

Bao giờ cây lúa còn bông  

Thì còn ngọn cỏ ngoài đồng trâu ăn.

Gắn bó khăng khít với thiên nhiên, hơn ai hết, người nông dân yêu mến, hãnh diện trước bức tranh thiên nhiên hào phóng, tươi đẹp, có cả phần xương máu, mồ hôi của cha ông bao đời, của cả chính mình góp phần tô điểm:

Đứng bên ni đồng, ngó bên tê đồng mênh mông bát ngát 

Đứng bên tê đồng, ngó bên ni đồng bát ngát mênh mông 

Thân em như chẽn lúa đòng  

Phất phơ dưới ngọn nắng hồng ban mai.  

Chính lòng yêu đời, niềm lạc quan, đã giúp người lao động vượt lên mọi gian khổ nhọc để vui sống, vững tin:

Công lênh chẳng quản bao lâu 

Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.

Cho dầu phải lâm vào cảnh đời đau thương tủi cực, phải lỡ bước sa chân, người nông dân hướng thiện, trước sau vẫn giữ vẹn một tấm lòng nhân hậu thủy chung, nào khác con cò trong câu ca dao gợi cảm: dù chết vẫn muốn được chết trong sạch, thanh cao:

Có xáo thời xáo nước trong  

Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

Bởi vậy, có người so sánh vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân với hoa sen:

Nhụy vàng bông trắng lá xanh  

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Là phương tiện để bày tỏ tiếng nói trái tim, nói chung, ca dao đã thể hiện khá sinh động, tuy chưa phải là đầy đủ và toàn diện những sắc thái tình cảm thiết tha và cao quý của nhân dân lao động, nhưng cũng đủ cho ta thấy một đời sống tinh thần phong phú, đa dạng của những người đã sản sinh ra nó. Ngày nay đọc lại, ai cũng thấy ngoài giá trị nghệ thuật văn chương, ca dao còn có giá trị nhân văn to lớn.

1
7 tháng 8 2016

Luận điểm:-Ca dao không những là tiếng nói của khối óc mà chủ yếu còn là tiếng nói trái tim của nhân dân ta. Thật vậy, trong hàng ngàn năm sống, làm việc và chiến đấu đã qua, cha ông ta đã bày tỏ tình cảm buồn vui của mình trong vô vàn câu ca dao gợi cảm. Qua đó, chúng ta cảm nhận được nhữngtình cảm thiết tha và cao quý của người Việt Nam mình thật rõ rệt.

                   - Chính từ tình yêu cao cả ấy mà mỗi người Việt Nam xác định được một thái độ tình cảm đúng đắn, đối xử thân ái với nhau, “chị ngã em nâng”, “lá lành đùm lá rách”, hỗ trợ nhau trong hoàn cảnh ngặt nghèo

                      -Qua ca dao, người bình dân Việt Nam đã thể hiện được những tình cảm thiết tha và cao quý của mình

                   -Trong ca dao Việt Nam, tình yêu đất nước đồng bào thiết tha, nồng thắm bao nhiêu thì tình cảm gia đình càng thiết tha nồng thắm bấy nhiêu. Điều này đã rõ. Gia đình từ nghìn xưa vốn là đơn vị cơ bản của đất nước. Gia đình thuận hòa, êm ấm là góp phần làm nên một xã hội phồn vinh hạnh phúc. Ai cũng biết trong tình cảm gia đình, cao quý nhất là tình cảm của con cái đối với các bậc sinh thành

                     -Trân trọng tình cảm gia đình, nhân dân ta đề cao tình yêu vợ chồng gắn bó nồng thắm, thủy chung. ‘“Thuận vợ thuận chồng, tát biển Đông cũng cạn”. Cả trong cảnh ngộ đói nghèo, khổ cực, người bình dân vần yêu đời: Râu tôm nấu với ruột bầu  Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.

                           -Trong cuộc sống, nhân dân phải làm việc vất vả, thường xuyên va chạm với biết bao trở ngại chông gai, hiểm nguy, cùng cực, nhưng từ nghìn xưa, người lao động vẫn luôn giữ được lòng son sắt với cuộc đời. Có gì nhọc nhằn hơn công việc một nắng hai sương, dầm mưa dãi gió, để mong sao có được “dẻo thơm một hạt”. 

                     -Gắn bó khăng khít với thiên nhiên, hơn ai hết, người nông dân yêu mến, hãnh diện trước bức tranh thiên nhiên hào phóng, tươi đẹp, có cả phần xương máu, mồ hôi của cha ông bao đời, của cả chính mình góp phần tô điểm:

                      -Chính lòng yêu đời, niềm lạc quan, đã giúp người lao động vượt lên mọi gian khổ nhọc để vui sống, vững tin:

                       -Cho dầu phải lâm vào cảnh đời đau thương tủi cực, phải lỡ bước sa chân, người nông dân hướng thiện, trước sau vẫn giữ vẹn một tấm lòng nhân hậu thủy chung, nào khác con cò trong câu ca dao gợi cảm: dù chết vẫn muốn được chết trong sạch, thanh cao

                      -Là phương tiện để bày tỏ tiếng nói trái tim, nói chung, ca dao đã thể hiện khá sinh động

Phần còn lại là dẫn chứng để Cm cho luận điểm

7 tháng 8 2016

Bạn có thể chỉ ra cho mình luận cứ được ko

1 tháng 11 2016

trong bài thơ nào Đàm Thị Thanh Trà

1 tháng 11 2016

1) Nồi sầu chia li đầy lưu luyến và bịn rịn của người vợ có chồng ra ihiến trận được tác giả khắc hoạ khá đậm nét trong khố thơ đầu tiên. Bằng biện pháp nghệ thuật tương phản đối lập: giữa hình ảnh kẻ ở và -gười đi (Chàng thì đi - Thiếp thì về), giữa không gian rộng - hẹp (cõi xa- buồng cũ), giữa hai hoàn cảnh (mưa gió - chiếu chăn) tác giả đã gợi ẻn cả một hiện thực chia li phũ phàng và nồi niềm đau đớn trước tình cảnh hai vợ chồng đang mặn nồng thì phải xa cách bởi cuộc chiến tranh phi nghĩa.