Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
|
|
Có 3 tôn giáo chính là Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo thấm sâu vào tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc
Để tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc, người Việt cần xác nhận tư tưởng tôn giáp:
+ Phật giáo không được tiếp nhận ở góc độ trí tuệ hay cầu giải thoát
+ Nho giáo không được tiếp nhận ở nghi lễ tủn mủn, giáo điều hà khắc
- Người Việt tiếp nhận tôn giáo tạo ra cuộc sống thiết thực, bình ổn, lành mạnh với những vẻ đẹp hài hòa, thanh lịch của những người sống nghĩa tình
Tác giả đã phân tích đặc điểm của vốn văn hóa dân tộc trên cơ sở những phương diện như sau:
- Tôn giáo: Tôn giáo hay triết học ở nước ta đều không phát triển bởi người Việt không cuồng tín tôn giáo mà cũng chẳng say mê triết học.
- Khoa học, kĩ thuật, giả khoa học, tất cả đều chưa phát triển đến độ trở thành truyền thống.
- Âm nhạc, hội họa, kiến trúc, thơ ca – nghệ thuật cũng không phát triển đến tuyệt kĩ. Người ta yêu nghệ thuật, dễ dàng làm được dăm ba câu thơ nhưng ít người gắn bó, kiếm tiền được từ nghề này...
Xem thêm: https://toploigiai.vn/soan-van-12-nhin-ve-von-van-hoa-dan-toc
Đặc điểm nổi bật của sáng tạo văn hóa Việt Nam là tạo ra một cuộc sống thiết thực, bình ổn, lành mạnh với những vẻ đẹp dịu dàng, thanh lịch, những con người hiền lành, tình nghĩa, sống có văn hóa trên một cái nền nhân bản.
- Dẫn chứng:
+ Công trình kiến trúc chùa Một Cột, các lăng tẩm của vua chúa đời Nguyễn, ....
+ Lời ăn tiếng nói của nhân dân trong tục ngữ, thành ngữ và ca dao: Chim khôn kêu tiếng rảnh rang/ Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe; Lời chào cao hơn mâm cỗ, ....
+ Có thể đối chiếu với thực tế đời sống của các dân tộc khác: sự kì vĩ của những Kim tự tháp (Ai Cập), của Vạn lí trường thành (Trung Quốc), ....
Những tôn giáo có ảnh hưởng mạnh đến văn hóa truyền thống Việt Nam là: Phật giáo và Nho giáo (Phật giáo và Nho giáo tuy từ ngoài du nhập vào nhưng đều để lại dấu ấn sâu sắc trong bản sắc dân tộc).
- Để tạo nên bản sác văn hóa dân tộc, người Việt Nam đã xác nhận tư tưởng của các tôn giáo này theo hướng: "Phật giáo không được tiếp nhận ở khía cạnh trí tuệ, cầu giải thoát, mà Nho giáo cũng không được tiếp nhận ở nghi lễ tủn mủn, giáo điều khắc nghiệt". Người Việt tiếp nhận tôn giáo để tạo ra một cuộc sống thiết thực, bình ổn, lành mạnh với những vẻ đẹp dịu dàng, thanh lịch, những con người hiền lành, tình nghĩa, sống có văn hóa trên một cái nền nhân bản.
- Dẫn chứng trong văn học:
a. Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo (Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Tư tưởng "nhân nghĩa", "yên dân", "điếu dân phạt tội" (thương dân, phạt kẻ có tội) có nguồn gốc từ Nho giáo (Đạo Khổng).
b. Thương thay thân phận đàn bàn Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu? (Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Quan niệm về thân phận, số kiếp .... là do ảnh hưởng đạo Phật.
+ Tạo tác: sự sáng tạo của dân tộc
+ Đồng hóa: tiếp thu cách chủ động, có sàng lọc, giá trị văn hóa bên ngoài
+ Khẳng định của tác giả: có căn cứ, cơ sở
+ Dân tộc trải qua thời gian bị đô hộ, đồng hóa, nhiều giá trị văn hóa bị mai một, xóa nhòa
→ Không chỉ trông cậy vào sự tạo tác
+ Tiếp thu văn hóa từ bên ngoài nhưng không rập khuôn máy móc mà có sự chọn lọc, biến đổi phù hợp
- Trong chữ viết, thơ ca
+ Tiếp thu chữ Hán → sáng tạo ra chữ Nôm
+ Tiếp thu các thể loại văn học Trung Quốc: thơ thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú → sáng tạo song thất lục bát, biến thể thơ bát cú
Câu 1:Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765), niên hiệu Cảnh Hưng, tại Thăng Long. Tổ tiên ông vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (thuộc Hà Tây và nay thuộc Hà Nội) sau di cư vào xã Nghi Xuân, huyện Tiên Điền (nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh).
Nguyễn Du thuộc về một gia đình khoa hoạn nổi danh ở làng Tiên Điền về thời Lê mạt. Trước ông, sáu bảy thế hệ viễn tổ đã từng đỗ đạt làm quan.
Đến thân phụ ông là Nguyễn Nghiễm (1708-1775), đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức Đại tư đồ (Tể tướng), tước Xuân Quận Công dưới triều Lê… Ngoài là một đại thần, ông Nghiễm còn là một nhà thơ, một nhà nghiên cứu sử học. Ông Nghiễm có cả thảy tám vợ và 21 người con trai. Người con trưởng là Nguyễn Khản (1734-1786) đỗ Tam giáp tiến sĩ, làm quan tới chức Tham Tụng, tước Toản Quận Công (con bà chính, rất mê hát xướng, nổi tiếng phong lưu một thời, thân với chúa Trịnh Sâm), người con thứ hai là Nguyễn Điều đỗ Hương cống, từng làm trấn thủ Sơn Tây. Nếu kể theo thứ tự này, thì Nguyễn Du đứng hàng thứ bảy, nên còn được gọi là Chiêu Bảy.
Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần (1740-1778), con gái một người thuộc hạ làm chức câu kế, người xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh. Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nghiễm, trẻ hơn chồng 32 tuổi. Bà sinh được năm con, bốn trai và một gái.
Thuở nhỏ Nguyễn Du sống trong nhung lụa, nhưng cuộc sống này kéo dài không quá mười năm. Vì 10 tuổi đã mồ côi cha, năm 13 tuổi, mồ côi mẹ, ông và các anh em ruột phải đến sống với người anh cả khác mẹ là Nguyễn Khản (khi ấy ông Khản đã hơn Nguyễn Du 31 tuổi)).
Năm 1780, khi ấy Nguyễn Du mới 15 tuổi thì xảy ra “Vụ mật án Canh Tý”: Chúa Trịnh Sâm lập con thứ là Trịnh Cán làm thế tử, thay cho con trưởng là Trịnh Tông. Ông Khản giúp Trịnh Tông, việc bại lộ, bị giam. Đến khi Trịnh Tông lên ngôi, ông Khản được cử lên làm Thượng thư Bộ Lại và Tham tụng. Quân lính khác phe (sử gọi là “kiêu binh”) không phục, kéo đến phá nhà, khiến ông Khản phải cải trang trốn lên Sơn Tây sống với em là Nguyễn Điều rồi về quê ở Hà Tĩnh. Thế là anh em Nguyễn Du từ bấy lâu đã đến nương nhờ ông Khản, mỗi người phải mỗi ngã.
Năm 1783, Nguyễn Du thi Hương đỗ tam trường (tú tài), sau đó không rõ vì lẽ gì không đi thi nữa. Trước đây, một võ quan họ Hà (không rõ tên) ở Thái Nguyên, không có con nên đã nhận ông làm con nuôi. Vì thế, khi người cha này mất, Nguyễn Du được tập ấm một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên.
Năm 1786, Tây Sơn bắt đầu đưa quân ra Bắc Hà.
Năm 1789, Nguyễn Huệ, một trong ba thủ lĩnh của nhà Tây Sơn đã kéo quân ra Bắc đánh tan hai mươi mấy vạn quân Thanh sang tiến chiếm Đại Việt. Nguyễn Du cũng chạy theo vua Lê Chiêu Thống (1766-1793) nhưng không kịp, đành trở về quê vợ, quê ở Quỳnh Côi ở Thái Bình, sống nhờ nhà người anh vợ là danh sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn (1750-?).
Được vài năm, Nguyễn Du về Nghệ An. Năm 1796, nghe tin ở Gia Định, chúa Nguyễn Ánh (1762-1819) đang hoạt động mạnh, ông định vào theo, nhưng chưa đi khỏi địa phận Nghệ An thì đã bị quân Tây Sơn do tướng Nguyễn Thuận chỉ huy, bắt giữ ba tháng. Trở về Tiên Điền (Hà Tĩnh), ông sống chật vật một thời gian dài cho đến mùa thu năm 1802, khi chúa Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu Gia Long, thì ông được gọi ra làm quan cho nhà Nguyễn.
Năm 1802, ông nhậm chức Tri huyện tại huyện Phù Dung (nay thuộc Khoái Châu, Hưng Yên). Tháng 11 cùng năm, đổi làm Tri phủ Thường Tín (Hà Tây, nay thuộc Hà Nội).
Kể từ đó, Nguyễn Du lần lượt đảm đương các chức việc sau: Năm 1803: đến cửa Nam Quan tiếp sứ thần nhà Thanh, Trung Quốc.
Năm 1805: thăng hàm Đông Các điện học sĩ.
Năm 1807: làm Giám khảo trường thi Hương ở Hải Dương.
Năm 1809: làm Cai bạ dinh Quảng Bình.
Năm 1813: thăng Cần Chánh điện học sĩ và giữ chức Chánh sứ đi Trung Quốc.
Sau khi đi sứ về vào năm 1814, ông được thăng Hữu tham tri Bộ Lễ.
Năm 1820, Gia Long mất, Minh Mạng (1791-1840) lên ngôi, Nguyễn Du lại được cử làm Chánh sứ đi Trung Quốc, nhưng chưa kịp lên đường thì mất đột ngột (trong một trận dịch khủng khiếp làm chết hàng vạn người lúc bấy giờ) ở kinh đô Huế vào ngày 10 tháng 8 năm Canh Thìn tức 18 tháng 9 năm 1820
Lúc đầu (1820), Nguyễn Du được táng ở xã An Ninh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Bốn năm sau mới cải táng về Tiên Điền (Hà Tĩnh).
Tác phẩm bằng chữ Hán:
Tính đến tháng 5 năm 2008, giới chuyên môn đã sưu tập được 249 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, được chia ra như sau:
- Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên) gồm 78 bài, viết chủ yếu trong những năm tháng trước khi làm quan nhà Nguyễn.
- Nam trung tạp ngâm (Ngâm nga lặt vặt lúc ở miền Nam) gồm 40 bài, viết khi làm quan ở Huế, Quảng Bình và những địa phương ở phía nam Hà Tĩnh.
- Bắc hành tạp lục (Ghi chép linh tinh trong chuyến đi sang phương Bắc) gồm 131 bài thơ, viết trong chuyến đi sứ sang Trung Quốc.
Tác phẩm bằng chữ Nôm
- Đoạn trường tân thanh (Tiếng kêu mới về nỗi đan đứt ruột. Tên phổ biến là Truyện Kiều), được viết bằng chữ Nôm, gồm 3.254 câu thơ theo thể lục bát. Nội dung của truyện dựa theo tác phẩm Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Trung Quốc. Nội dung chính của truyện xoay quanh quãng đời lưu lạc sau khi bán mình chuộc cha của Thuý Kiều, nhân vật chính trong truyện, một cô gái có tài sắc.Văn chiêu hồn (tức Văn tế thập loại chúng sinh, dịch nghĩa: Văn tế mười loại chúng sinh), hiện chưa rõ thời điểm sáng tác. Trong văn bản do Đàm Quang Thiện hiệu chú có dẫn lại ý của ông Trần Thanh Mại trên “Đông Dương tuần báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hằng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn giải thoát để cầu siêu cho hàng triệu linh hồn. Ông Hoàng Xuân Hãn cho rằng có lẽ Nguyễn Du viết Văn chiêu hồn trước cả Truyện Kiều, khi ông còn làm cai bạ ở Quảng Bình (1802-1812). Tác phẩm được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm.
- Thác lời trai phường nón, 48 câu, được viết bằng thể lục bát. Nội dung là thay lời anh con trai phường nón làm thơ tỏ tình với cô gái phường vải.
- Văn tế sống Trường Lưu nhị nữ, 98 câu, viết theo lối văn tế, để bày tỏ nỗi uất hận vì mối tình với hai cô gái phường vải khác.
Còn lại thì mình chịu=)
+ Tạo tác: sự sáng tạo của dân tộc.
+ Đồng hóa: tiếp thu một cách chủ động, có sàng lọc những giá trị văn hóa bên ngoài.
- Khẳng định của tác giả: có cơ sở và căn cứ.
+ Dân tộc ta trải qua thời gian dài bị đô hộ, đồng hóa, nhiều giá trị văn hóa bị mai một, xóa nhòa => không thể chỉ trông cậy vào sự tạo tác.
+ Chúng ta tiếp thu văn hóa bên ngoài những không rập khuôn và máy móc mà có sự chọn lọc và biến đổi cho phù hợp.
Ví dụ:
- Trong chữ viết, thơ ca:
+ Tiếp thu chữ Hán và dùng trong thời gian dài => sau đó sáng tạo ra chữ Nôm.
+ Tiếp thu các thể loại văn học của Trung Quốc: thơ thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú ... => sáng tạo ra song thất lục bát, những biến thể trong thơ bát cú....
Khung cảnh ngày Tết:
+ Khói hương, mâm cỗ thịnh soạn trong thời buổi đất nước còn nhiều khó khăn sau ba mươi năm chiến tranh
+ Mọi người trong gia đình tề tựu, quây quần
+ Tất cả chuẩn bị chu đáo trong khoảnh khắc tri ân trước tổ tiên trong chiều 30 Tết
- Hình ảnh gieo vào lòng người niềm xúc động rưng rưng, để “nhập vào dòng xúc động tri ân tổ tiên”
- Bày tỏ lòng tri ân trước tổ tiên, trong lễ cũng tất niên, trở thành truyền thống trân trọng, tự hào của dân tộc ta
- Dù cuộc sống hiện đại vẫn cần gìn giữ giá trị truyền thống tốt đẹp trong quá khứ.
Trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa, con người ngày càng có xu hướng tiếp cận và chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các nền văn hóa ngoại lai. Trong bối cảnh đó, việc giữ gìn và lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống dân tộc không chỉ là trách nhiệm, mà còn là niềm tự hào và động lực để định vị bản sắc dân tộc trên trường quốc tế. Ca sĩ Hòa Minzy với MV "Bắc Bling" đậm chất truyền thống dân ca Quan họ Bắc Ninh đã tạo nên hiệu ứng mạnh mẽ, không chỉ về mặt nghệ thuật mà còn truyền cảm hứng về tinh thần giữ gìn bản sắc văn hóa. Câu nói của cô: “Bỏ lỡ một cơ hội thử sức ở quốc tế nhưng cố gắng để quốc tế hóa bản sắc văn hóa dân tộc” là minh chứng sống động cho khát vọng lan tỏa văn hóa truyền thống trong thời đại hiện đại.
Văn hóa truyền thống là những giá trị được hình thành, lưu truyền qua nhiều thế hệ, phản ánh tâm hồn, lối sống và tinh thần dân tộc. Đó có thể là những làn điệu dân ca, trang phục, phong tục, tín ngưỡng, ẩm thực, ngôn ngữ... Mỗi quốc gia, dân tộc đều có một kho tàng văn hóa riêng biệt làm nên bản sắc riêng. Tuy nhiên, trong cuộc sống hiện đại ngày nay, những giá trị ấy đang đứng trước nguy cơ bị mai một, lãng quên hoặc hòa tan vào dòng chảy của văn hóa đại chúng.
Chính vì vậy, việc lan tỏa văn hóa truyền thống không chỉ là bảo vệ một di sản, mà còn là cách để khẳng định vị thế dân tộc trên trường quốc tế. Việc một nghệ sĩ trẻ như Hòa Minzy chọn cách kết hợp yếu tố truyền thống với phong cách hiện đại để truyền tải đến giới trẻ là một hướng đi đúng đắn. Nó cho thấy rằng, văn hóa truyền thống không hề cũ kỹ hay lỗi thời, mà vẫn có thể "sống" mạnh mẽ trong lòng thế hệ trẻ nếu được sáng tạo, đổi mới và đặt đúng ngữ cảnh.
Với vai trò là một người trẻ, mỗi chúng ta không thể đứng ngoài xu thế này. Chúng ta có thể lan tỏa văn hóa truyền thống bằng những hành động rất thiết thực: mặc áo dài trong dịp lễ, tìm hiểu và sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn, thưởng thức và chia sẻ âm nhạc dân gian, tham gia các lễ hội truyền thống, giới thiệu văn hóa Việt đến bạn bè quốc tế qua mạng xã hội… Quan trọng hơn, giới trẻ cần nhận thức rõ rằng việc yêu, hiểu và trân trọng giá trị truyền thống không làm chúng ta tụt hậu, mà chính là nền tảng để phát triển bền vững trong xã hội hiện đại.
Cũng cần thấy rằng, lan tỏa văn hóa truyền thống không đồng nghĩa với việc bảo thủ hay phủ nhận cái mới. Trái lại, đó là sự giao thoa, chọn lọc để làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc. Việc hiện đại hóa nhưng vẫn giữ tinh thần truyền thống là cách tiếp cận thông minh và mang tính thời đại. Những sản phẩm âm nhạc, điện ảnh, thời trang hay kiến trúc mang màu sắc truyền thống nhưng được thể hiện bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại sẽ là cầu nối đưa văn hóa dân tộc vươn xa.
Tóm lại, trong bối cảnh hội nhập, việc lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống không chỉ là một lựa chọn mà còn là trách nhiệm của thế hệ trẻ. Chỉ khi chúng ta biết trân trọng, gìn giữ và chủ động lan tỏa những giá trị cốt lõi ấy, văn hóa dân tộc mới thực sự "sống" và "thở" trong dòng chảy hiện đại của thời đại 4.0. Và chính từ đó, chúng ta mới có thể tự tin khẳng định: Việt Nam – một đất nước giàu bản sắc và đậm đà tinh thần dân tộc – xứng đáng được biết đến và ngưỡng mộ trên bản đồ văn hóa thế giới.
Trong thời đại toàn cầu hóa, khi văn hóa thế giới giao thoa mạnh mẽ, việc giữ gìn và lan tỏa bản sắc dân tộc trở thành một nhiệm vụ quan trọng. Câu chuyện về ca sĩ Hòa Minzy – người từ chối cơ hội phát triển ở nước ngoài để tập trung quảng bá âm nhạc truyền thống qua video “Bắc Bling” – đã khiến nhiều người xúc động. Câu nói của cô: “Bỏ lỡ một cơ hội thử sức ở quốc tế nhưng cố gắng để quốc tế hóa bản sắc văn hóa dân tộc” đã truyền cảm hứng sâu sắc về tình yêu quê hương và ý thức lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống trong cuộc sống hiện đại.
Văn hóa truyền thống là linh hồn của dân tộc, là những giá trị được vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử: tiếng nói, trang phục, ẩm thực, lễ hội, âm nhạc dân gian, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “kính trên nhường dưới”... Lan tỏa văn hóa truyền thống nghĩa là mang những giá trị đó ra ánh sáng, để mọi người – đặc biệt là thế hệ trẻ – hiểu, yêu và tự hào về cội nguồn dân tộc mình.
Trong xã hội hiện nay, việc lan tỏa văn hóa truyền thống có ý nghĩa to lớn. Nó giúp chúng ta bảo vệ bản sắc dân tộc trước làn sóng toàn cầu hóa, góp phần khẳng định vị thế của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Những sản phẩm nghệ thuật như “Bắc Bling” của Hòa Minzy hay “See Tình” của Hoàng Thùy Linh là minh chứng rõ ràng: văn hóa truyền thống khi được thổi hồn sáng tạo vẫn có thể tỏa sáng rực rỡ, thu hút hàng triệu khán giả trong và ngoài nước. Ngoài nghệ thuật, nhiều bạn trẻ cũng đang gìn giữ văn hóa qua những việc nhỏ: mặc áo dài, nói lời hay, ứng xử lễ phép, tham gia bảo tồn di sản quê hương.
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những người trẻ thờ ơ, sính ngoại, coi văn hóa dân tộc là “cũ kỹ”, hoặc biến tấu sai lệch khiến giá trị truyền thống bị méo mó. Vì vậy, lan tỏa văn hóa truyền thống cần đi đôi với hiểu biết và thái độ trân trọng. Chúng ta có thể học hỏi thế giới, nhưng không được đánh mất mình; có thể hội nhập, nhưng phải giữ được hồn Việt.
Là người trẻ, mỗi chúng ta có thể bắt đầu từ những việc nhỏ nhất: chia sẻ điều hay về quê hương trên mạng xã hội, tự hào khi nói về áo dài, món ăn Việt, hay ủng hộ những sản phẩm tôn vinh văn hóa dân tộc. Khi thế hệ trẻ biết yêu và tự hào về truyền thống, thì văn hóa Việt Nam sẽ luôn được tiếp nối và tỏa sáng.
Lan tỏa giá trị văn hóa truyền thống chính là giữ gìn căn cước tinh thần của dân tộc giữa thời đại mới. Giống như Hòa Minzy, mỗi người trẻ hôm nay đều có thể góp một phần nhỏ để “quốc tế hóa bản sắc Việt Nam”, để khi bước ra thế giới, chúng ta vẫn là chính mình – một người Việt Nam tự hào, tự tin và đậm đà bản sắc.