Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Đáp án:
Enzyme cắt được sử dụng trong kỹ thuật tạo ADN tái tổ hợp là Restrictaza
Đáp án cần chọn là: A
Đáp án:
A sai- ADN dùng trong kỹ thuật di truyền có thể được phân lập từ những nguồn khác nhau, có thể từ cơ thể sống hoặc tổng hợp nhân tạo.
C sai - Có có nhiều loại enzime cắt giới hạn khác nhau, có khả năng nhận biết và cắt phân tử ADN ở những vị trí đặc hiệu, các enzym này được phân lập từ nhiều nguồn tế bào khác nhau.
D sai - Các enzym ADN polymeraza, ligaza và restrictaza đều được sử dụng trong kỹ thuật di truyền.
Đáp án cần chọn là: B
Bước 1: Dung dịch nước rửa chén hoặc dịch tẩy rửa có thành phần xà phòng giúo phá vỡ màng tế bào và màng nhân, làm biến tính protein và cuộn mỡ lipit, nhờ đó nhân tế bào dễ bị tách khỏi màng. Bước 2: Dung dịch nước dứa (hoặc nước thịt, nước đu đủ) chứa enzyme protease bromelain. Enzyme này có khả năng cắt đứt các chuỗi polypeptit của protein như histon, các protein điều hoà hay màng nhân, giúc DNA thoát khỏi sự bao bọc của protein. Bước 3: Thêm ethanol lạnh. DNA không tan trong cồn lạnh nên sẻ kết tủa thành mầm trắng. Côn giúp loại bỏ các tạp chất hòa tan trong nước và để dễ thu hồi DNA. Bước 4: Dùng tọc hoặc dùa nhẹ nhàng lấy sợi DNA kết tủa lên, thao tác cẩn thận theo hướng dẫn để tránh làm đứt gãy sợi DNA.
Đáp án:
C - sai có nhiều loại enzime cắt giới hạn khác nhau → và được phân lập từ nhiều nguồn tế bào khác nhau
Đáp án cần chọn là: C
Đáp án B
Restrictase và ligase là 2 enzyme được sử dụng trong kỹ thuật tạo ADN tái tổ hợp
Bước 1: Dung dịch tẩy rửa có chất hoạt động bề mặt giúp nhũ hóa màng phospholipid của màng tế bào và màng nhân, làm biến tính protein, nhờ đó nhân bị phóng thích ra dịch chiết. Bước 2: Nước dứa chứa enzyme protease bromelain có khả năng cắt các chuỗi polypeptit của protein như histon và các protein kết với DNA, giúc DNA thoát khỏi lớp bao bọc. Có thể thay thế bằng nước thịt, nước đu đủ hay dung dịch protease tinh chế. Bước 3: Thêm ethanol lạnh. DNA không tan trong cồn nên sẻ kết tủa thành sợi trắng và tách ra khỏi dung dịch; côn cũng làm loại bỏ tạp chất hòa tan. Khi thu sợi DNA cần thao tác nhẹ nhàng để tránh đứt gãy.
Đáp án:
Trong kĩ thuật chuyển gen, thường sử dụng thể truyền có các gen chỉ thị đặc hiệu để nhận biết
(mang gen đánh dấu, hoặc phát sáng) nhằm có thể nhận biết các dòng tế bào mang ADN tái tổ hợp.
Đáp án cần chọn là: A
Khi ADN (DNA) nhân đôi, phân tử ADN mẹ dần dần tháo xoắn, hai mạch đơn tách rời nhau nhờ enzym helicaza. Mỗi mạch đơn của ADN mẹ sẽ đóng vai trò làm khuôn, enzym ADN‑polymeraza lấp ráp các nucleotit tự do từ môi trường nội bào vào theo nguyên tắc bổ sung A – T và G – X, hình thành mạch mới theo chiều 5' → 3'. Kết quả, tạo ra hai phân tử ADN con giống hệt nhau, mỗi phân tử có một mạch cũ của mẹ và một mạch mới được tổng hợp. Đây gọi là cơ chế sao chép ADN bán bảo tồn. Quá trình nhân đôi xảy ra trong nhân tế bào vào kỳ trung gian trước khi phân chia.
Trong kỹ thuật cấy gen (hay kỹ thuật di truyền), DNA tái tổ hợp là một phân tử DNA được tạo ra bằng cách ghép nối (tổ hợp) một đoạn gen mong muốn (thường là gen cần cấy từ một sinh vật này) vào một thể truyền (vector).
Để hiểu rõ hơn, hãy hình dung các thành phần chính:
Quá trình tạo DNA tái tổ hợp:
Tóm lại: DNA tái tổ hợp trong kỹ thuật cấy gen là phân tử DNA của thể truyền (plasmid hoặc DNA thể thực khuẩn) đã được gắn (nối) với gen cần chuyển từ một sinh vật khác.