K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

Câu 1 (2,0 điểm):

Hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về nguy cơ “giản lược hoá những kết nối cần thiết” trong đời sống do mạng xã hội.

Câu 2 (4,0 điểm):

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) so sánh tâm trạng nhân vật Mỵ và nhân vật Mao trong hai đoạn trích sau:

Ngày tết, Mỵ cũng uống rượu. Mỵ lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát. Rồi say, Mỵ lịm mặt ngồi đấy nhìn người nhảy đồng, người hát. Nhưng lòng Mỵ đang sống về ngày trước, tai văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước Mỵ thổi sáo giỏi. Mùa xuân đến, Mỵ uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mỵ uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mỵ hết núi này sang núi khác.

Rượu tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả, Mỵ không biết. Mỵ vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mỵ mới đứng dậy. Nhưng Mỵ không bước ra đường. Mỵ từ từ vào buồng.

Chẳng năm nào A Sử cho Mỵ đi chơi Tết. Mỵ cũng chẳng buồn đi.

Bấy giờ Mỹ ngồi xuống giường, trông ra cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Từ nãy Mỵ thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui như những đêm Tết ngày trước. Mỵ trẻ. Mỵ vẫn còn trẻ. Mỵ muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi Tết. Huống chi A Sử với Mỵ, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau. Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mỵ sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra.

Mà tiếng sáo gọi bạn vẫn lửng lơ bay ngoài đường.”

(Trích Vợ chồng A Phủ, in trong tập truyện Truyện Tây Bắc, Tô Hoài, NXB Văn học, 1971, tr.135-136)

Ngày ấy cả vùng này biết tiếng cô Mao đẹp người, nết cũng đẹp, con gái bản trên làng dưới không ai dám nhận mình thêu thùa, dệt vải vừa nhanh vừa đẹp như cô. Cả vùng cũng chỉ có nhà anh Chúng chồng đủ bạc trắng, đủ gạo, rượu như bố mẹ Mao thách cưới, vậy là Mao về làm dâu nhà Chúng. Trước ngày cưới, cả đêm tiếng chân ngựa bồn chồn ngoài bờ rào đá làm Mao thức trắng. Mờ sáng thì con ngựa ấy bỏ đi, một lúc sau thì tiếng đàn môi cất lên từ sau hẻm núi. Tiếng đàn môi nghe rất xa. Mao ngồi dậy, nhìn qua ô cửa bé bằng hai bàn tay, thấy ngoài trời mù mịt sương ập xuống mảnh sân, vườn, nhìn từ nhà ra bờ rào đã không thấy rõ. Tiếng đàn môi từ rất xa kia lại giống như mũi tên xuyên qua sương dày đặc, lao đến. Tiếng đàn môi buồn rầu, trách móc. Mao lặng lẽ khóc, từ hôm ấy Mao không bao giờ nghe tiếng đàn môi dành cho riêng mình nữa.

Sau ngày cưới một năm, hai năm, rồi ba năm, chờ mãi mà vợ chồng Mao vẫn chưa có con. Lúc đầu nhà chồng còn chạy tìm thầy tìm thuốc sau thấy không làm được gì đành thôi. Bố chồng, mẹ chồng nối nhau đi, thương con dâu như con gái nên không đành mở miệng bảo con trai đi tìm vợ mới, dù cả họ chỉ còn mỗi một người đàn ông trẻ nhất là Chúng.

(Trích Tiếng đàn môi sau bờ rào đá, in trong tập truyện ngắn cùng tên của Đỗ Bích Thuý, NXB Văn học, 2021, tr.139-140)

* Vợ chồng A Phủ viết năm 1953, là một truyện ngắn hay của nhà văn Tô Hoài về đề tài Tây Bắc. Truyện kể về cô Mỵ đẹp, có tài thổi sáo và đã có người yêu. Nhà Mỵ nghèo, vì món nợ của cha mẹ mà bị nhà thống lý Pá Tra lừa bắt về làm con dâu gạt nợ nhà thống lý. Hồi mới về làm dâu, Mỵ còn cảm thấy đau khổ và muốn chết, nhưng thương bố, Mỵ quay trở lại làm dâu nhà Pá Tra. Từ đó Mỵ dần quen khổ, mỗi ngày một lầm lì, không nói cho đến khi mùa xuân đến...

* Tiếng đàn môi sau bờ rào đá được Đỗ Bích Thuý viết vào khoảng những năm 2000. Cô Mao đẹp người đẹp nết lấy anh Chúng vì Chúng là người duy nhất chồng đủ bạc đủ rượu. Tuy không có con với Mao song Chúng vẫn giữ lại Mao ở lại nhà làm bổn phận mẹ già trông nom con cái của Chúng với người đàn bà khác. Trước cuộc sống đi ngang về tắt của chồng, Mao bắt đầu khắc khoải về tiếng đàn môi của người thương...

1
30 tháng 5 2025

thưa cô


Câu 1: Nguy cơ “giản lược hoá những kết nối cần thiết” trong đời sống do mạng xã hội

Mạng xã hội đã và đang trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hiện đại, mang lại vô vàn tiện ích nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn nguy cơ "giản lược hoá những kết nối cần thiết". Điều này thể hiện rõ nhất ở sự rút ngắn các giai đoạn giao tiếp, tìm hiểu, thậm chí là quyết định những vấn đề trọng đại như hôn nhân. Thay vì những buổi gặp gỡ trực tiếp, những lần trò chuyện sâu sắc hay các nghi thức truyền thống đòi hỏi thời gian và sự gắn kết, giờ đây chỉ cần vài cú chạm, vài tin nhắn, con người đã có thể đưa ra những phán đoán, kết luận vội vàng về nhau. Hậu quả là các mối quan hệ trở nên hời hợt, thiếu chiều sâu, dễ tan vỡ. Sự giản lược này không chỉ tước đi những trải nghiệm quý giá trong quá trình xây dựng tình cảm mà còn làm mất đi ý nghĩa của sự gắn bó bền chặt, bởi lẽ một "kết nối" được hình thành quá nhanh chóng thường thiếu đi nền tảng vững chắc của sự thấu hiểu và sẻ chia. Để giữ gìn những giá trị đích thực trong các mối quan hệ, chúng ta cần tỉnh táo và biết cách cân bằng giữa thế giới ảo và đời thực.


Câu 2: So sánh tâm trạng nhân vật Mỵ và nhân vật Mao

Tô Hoài và Đỗ Bích Thúy là hai nhà văn thuộc hai thế hệ khác nhau, nhưng cả hai đều đã khắc họa thành công số phận người phụ nữ miền núi trong tác phẩm của mình. Nếu Mỵ trong "Vợ chồng A Phủ" là hình ảnh tiêu biểu cho kiếp người bị đày đọa dưới ách cường quyền, thần quyền thời Pháp thuộc, thì Mao trong "Tiếng đàn môi sau bờ rào đá" lại mang nỗi đau đớn, khắc khoải của người phụ nữ trong bối cảnh xã hội đổi thay. Dù khác biệt về thời đại và hoàn cảnh, tâm trạng của Mỵ và Mao lại có những điểm tương đồng và khác biệt sâu sắc, phản ánh chung bi kịch và khát vọng sống của những người phụ nữ vùng cao.


I. Những điểm tương đồng trong tâm trạng

Cả Mỵ và Mao đều trải qua những bi kịch cuộc đời dẫn đến tâm trạng đau khổ, tuyệt vọng, đồng thời vẫn ấp ủ một khát vọng sống tiềm tàng.

Trước hết, đó là tâm trạng đau khổ, u uất vì bị tước đoạt tự do và hạnh phúc cá nhân. Mỵ bị nhà thống lí Pá Tra bắt về làm con dâu gạt nợ, cuộc đời bị trói buộc trong cái nhà tù không có song sắt: "Mỵ cúi mặt, mặt buồn rười rượi". Nàng sống như một cái bóng, "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa", mất đi ý niệm về thời gian và sự sống. Nỗi đau của Mỵ không chỉ là sự đày đọa thể xác mà còn là sự tàn phá tâm hồn, khiến nàng trở nên vô cảm, chai sạn trước mọi thứ xung quanh. Tương tự, Mao cũng rơi vào cảnh sống không hạnh phúc. Tuy không bị "bắt về" như Mỵ, nhưng cuộc hôn nhân của Mao với Chúng lại dựa trên "đủ bạc trắng, đủ gạo, rượu" của nhà chồng, chứ không phải tình yêu đích thực. Nàng chứng kiến cảnh chồng "đi ngang về tắt" với người đàn bà khác, trong khi mình phải chấp nhận phận "mẹ già trông nom con cái của Chúng với người đàn bà khác". Nỗi đau của Mao là sự tủi nhục, đắng cay khi hạnh phúc gia đình tan vỡ, bản thân bị gạt ra lề cuộc sống riêng của chồng, dù vẫn ở trong cùng một mái nhà. Cả hai nhân vật đều trải qua sự cô độc, lẻ loi trong chính căn nhà của mình, nơi lẽ ra phải là tổ ấm.

Thứ hai, dù trong cảnh tuyệt vọng, cả Mỵ và Mao đều có những khoảnh khắc bừng tỉnh, nhận ra bi kịch của mình và ấp ủ khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc. Ở Mỵ, điều này thể hiện rõ nhất vào đêm tình mùa xuân. Khi men rượu thấm vào và tiếng sáo gọi bạn lửng lơ bay ngoài đường, lòng Mỵ "phơi phới trở lại", nàng nhớ về quá khứ tươi đẹp, nhớ về những ngày tháng tự do, hồn nhiên. "Mỵ trẻ. Mỵ vẫn còn trẻ. Mỵ muốn đi chơi." Chính sự trỗi dậy của khao khát sống, khao khát tình yêu đã khiến Mỵ có ý định phản kháng, dù chỉ là ý nghĩ "Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mỵ sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa." Đây là biểu hiện của một sức sống mãnh liệt, không chấp nhận cái chết mòn của tâm hồn. Với Mao, tiếng đàn môi từ "sau hẻm núi", "từ rất xa kia" là sợi dây kết nối nàng với quá khứ, với mối tình không thành. Tiếng đàn môi "buồn rầu, trách móc" đã lay động tâm hồn Mao, khiến nàng "lặng lẽ khóc", nhận ra bi kịch của cuộc đời mình. Mặc dù văn bản không trực tiếp miêu tả khát vọng phản kháng mãnh liệt như Mỵ, nhưng sự "khắc khoải về tiếng đàn môi của người thương" chính là biểu hiện của một tâm hồn vẫn còn nhạy cảm, vẫn còn khao khát được yêu thương, được sống một cuộc đời trọn vẹn, không chấp nhận hiện thực nghiệt ngã.


II. Những điểm khác biệt trong tâm trạng

Dù có những điểm tương đồng, tâm trạng của Mỵ và Mao vẫn có những nét riêng biệt do hoàn cảnh xã hội và tư tưởng của mỗi tác giả.

Điểm khác biệt rõ rệt nhất nằm ở tính chất của sự phản kháng và mức độ ý thức về số phận. Tâm trạng của Mỵ, đặc biệt là vào đêm tình mùa xuân, cho thấy một sự bùng nổ của khát vọng sống và ý chí phản kháng mạnh mẽ. Từ chỗ "vô cảm", Mỵ đã có ý nghĩ muốn chết để thoát khỏi đau khổ, rồi sau đó là hành động cởi trói cho A Phủ, cùng A Phủ trốn thoát. Sự phản kháng của Mỵ mang tính tự giải thoát, tự cứu mình và có tính bước ngoặt, dẫn đến một sự thay đổi lớn trong cuộc đời. Nàng ý thức rõ ràng về sự bất công, về việc mình bị tước đoạt hạnh phúc. Ngược lại, tâm trạng của Mao chủ yếu là sự khắc khoải, dằn vặt nội tâm và nỗi buồn tủi. Tiếng đàn môi dù có sức lay động lớn nhưng chưa dẫn đến một hành động phản kháng hay ý chí tự giải thoát rõ ràng như Mỵ. Mao vẫn bị kẹt trong sự chấp nhận số phận, dù đau khổ. Nỗi buồn của Mao mang tính chất trầm lắng, kéo dài hơn là một sự bùng nổ. Sự khác biệt này có thể lí giải một phần bởi bối cảnh thời đại: Mỵ sống trong thời kì vùng lên đấu tranh của dân tộc, còn Mao sống ở thời kì hòa bình, khi vấn đề cá nhân, hạnh phúc gia đình trở thành trọng tâm.

Thứ hai, cảm thức về hạnh phúc và tình yêu cũng có những sắc thái riêng. Mỵ nhớ về tiếng sáo gọi bạn của "bao nhiêu người mê" theo nàng, nhớ về tình yêu đôi lứa tự do, hồn nhiên. Đó là một tình yêu trọn vẹn, được thể hiện công khai và được cộng đồng chấp nhận. Nỗi nhớ ấy là động lực trực tiếp để Mỵ khao khát thoát khỏi cảnh địa ngục trần gian. Còn Mao, tiếng đàn môi cũng gợi về tình yêu nhưng là một tình yêu đã mất, một sự nuối tiếc, một vết thương lòng. Tiếng đàn môi "buồn rầu, trách móc" như một lời than thở cho một mối tình dang dở. Nỗi khắc khoải của Mao mang sắc thái của sự chấp nhận một bi kịch đã an bài, dù trong lòng vẫn còn vết thương. Mỵ khao khát giành lại hạnh phúc đã mất, còn Mao dường như chỉ còn biết khắc khoải về một hạnh phúc không bao giờ thuộc về mình.


III. Tổng kết

Tóm lại, dù cùng chia sẻ những nỗi đau chung của người phụ nữ miền núi bị áp bức, tước đoạt hạnh phúc, nhưng tâm trạng của Mỵ và Mao lại có những nét riêng biệt sâu sắc. Mỵ là biểu tượng của sức sống tiềm tàng và khát vọng phản kháng mạnh mẽ, bùng cháy để tự giải thoát. Mao là hình ảnh của sự khắc khoải, day dứt trước một số phận đã an bài, thể hiện nỗi đau âm ỉ, dai dẳng. Qua đó, cả Tô Hoài và Đỗ Bích Thúy đều đã thể hiện sự đồng cảm sâu sắc với số phận của người phụ nữ, đồng thời khẳng định giá trị của khát vọng tự do và hạnh phúc, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

xin cô tick ạ

Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có...
Đọc tiếp

Ngày tết, Mị cũng uống rượu. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ực từng bát. Rồi say, Mị lịm mặt ngồi đấy nhìn mọi người nhảy đồng, người hát, nhưng lòng Mị thì đang sống về ngày trước. Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng. Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi. Mùa xuân này, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo. Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm thổi sáo đi theo Mị. Rượu đã tan lúc nào. Người về, người đi chơi đã vãn cả. Mị không biết, Mị vẫn ngồi trơ một mình giữa nhà. Mãi sau Mị mới đứng dậy, nhưng Mị không bước ra đường chơi, mà từ từ bước vào buồng. Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi Tết. Mị cũng chẳng buồn đi. Bấy giờ Mị ngồi xuống giường, trông ra cửa sổ lỗ vuông mờ mờ trăng trắng. Đã từ nãy, Mị thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Huống chi A Sử với Mị, không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau! Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa. Nhớ lại, chỉ thấy ứa nước mắt ra. Mà tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lửng lơ bay ngoài đường… Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong đoạn trích trên; từ đó, nhận xét cách nhìn mới mẻ về người nông dân của nhà văn Tô Hoài.

1
13 tháng 3 2023

Đây là dàn bài chi tiết chị đã soạn trước đấy em có thể tham khảo dựa vào bài dưới đây. Tuy nhiên, đây chỉ là 1 dàn bài tương đối đầy đủ nhất để em tự viết. ( Nên tự triển khai  để nhớ kiến thức nhé).

A. Mở bài: Tự viết

B. Thân bài: 

1. Khái quát về tác giả, tác phẩm:

Tô Hoài được mệnh danh là nhà văn viết hay nhất về đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc đồng thời cũng là cây bút tiên phong trong việc khai hoang mảng hiện thực bị bỏ quên trong văn xuôi, đó là hiện thực cuộc sống và số phận con người....

Vợ chồng A Phủ là 1 trong những tác phẩm hay nhất viết về tài miền núi, cũng là 1 trong những tác phẩm xuất sắc nhất trong đời văn của Tô Hoài. Tác phẩm được in trong tập " Truyện Tây Bắc" được giải nhất của Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 - 1955. Ông viết " VCAP" như 1 cách để trả ơn sâu nặng cho đồng bào nơi đây. Trải qua 2 chặng đường của Mị và A Phủ, nhà văn đã phản ánh số phận khổ đau của người lao động miền núi dưới chế độ thực dân phong kiến chúa đất, chúa mường vùng cao cũng như sự trỗi dậy sức sống tiềm tàng của họ.

2. Khái quát nhân vật Mị.

-  Mị là cô gái H’mông xinh đẹp, thùy mị, nết na, yêu đời và vui sống. Ở tuổi đôi mươi Mị đẹp như một bông hoa ban, hoa đào giữa núi rừng Tây Bắc. Mị thổi kèn lá hay như thổi sáo “ có biết bao người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”  Tâm hồn của cô gái ấy nhạy cảm, dễ rung động trước cái đẹp của thiên nhiên nơi núi rừng, bản làng của tình yêu, tình người đang nảy nở.

-   Mị có một tình yêu, một tâm hồn thiếu nữ tài hoa, xinh đẹp đang rộng mở để đón nhận những hương hoa của cuộc đời.  Vào đêm mùa xuân năm ấy, Mị đã bị bắt cóc về làm dâu trừ nợ cho nhà thống Lí. Nguyên do bắt nguồn từ món nợ truyền kiếp mà bố mẹ để lại.

3. Phân tích :

a. Khung cảnh mùa xuân ( mặc dù trong đoạn văn không có đưa đoạn trích ra nhưng phải có khái lược )

- Năm ấy, mùa xuân về sớm hơn mọi năm, ở Hồng Ngày có tục lệ gặt lái xong là ăn tết mà không có phụ thuộc vào thời gian. Hồng ngày năm ấy đón tết lúc " gió và rét rất dữ dội". Kết hợp với các màu sắc rực rỡ " cỏ gianh vàng ửng" ; những ruộng bí đỏ, những chiếc váy hoa trên bản làng Mèo Đỏ " xòe như con bướm rực rỡ" xua tan không khí giá lạnh của vùng cao Tây Bắc. Đón tết lúc gặt hái xong nên ngày tết có sự no đủ khi " ngô lúa đầy nhà kho", con người thảnh thơi. Kết hợp với các âm thanh  tiếng cười trẻ con đợi tết, đám thanh niên mặc váy áo mới, xòe ô, dắt ngựa đi đánh quay, ném pao....

b. Phân tích đoạn trích trên:

- Tiếng sáo lấp ló đầu núi: sử dụng từ láy " lấp ló" để miêu tả bóng dáng của người thổi sáo gợi âm thanh tiếng sáo từ xa vọng lại lúc mờ lúc tỏ...

- Ý nghĩa của tiếng sáo: đó là biểu tượng của sự tự do, hạnh phúc của tình yêu.Từ láy " văng vẳng" không chỉ miêu tả tiếng sáo của hiện tại mà còn là âm thanh của ký ức, của hoài niệm đưa Mị trẻ về những tháng ngày tự do của tuổi trẻ hạnh phúc.

-Mị ngồi  " Nhẩm thầm" lời bài hát  kết hợp với tiếng sáo ==> chứng tỏ là trước đó Mị đã thuộc kể từ khi còn ở với cha ==> đó là những năm tháng tự do của cuộc đời Mị.

- Nếu trước đây Mị tuyệt giao với thế giới bên ngoài, đào sâu chôn chặt quãng đời thiếu nữ  sống lùi lũi như 1 con rùa thì giờ đây Mị đã bước qua ranh giới câm lặng của kiếp vật để trở vào thế giới của con người.

- Trong cái nồng nàn của bữa rượu ngày tết, " Mị cũng uống rượu...cứ uống ực từng bát". Sau bao tháng ngày đau đớn, tủi nhục, giờ là lúc Mị được sống lại với chính con người mình. Mị uống như để quên đi cái phần đời cay đắng vừa qua, như để sống lại mạnh mẽ cái phần đời tươi trẻ đã có.

- " ực " là từ mô phỏng âm thanh, cách uống nhanh, uống nhiều . uống từng ngụm lớn. Đây không phải là cách uống nhâm nhi, thưởng thức chén rượu đầu xuân. 

- Lời hát kết hợp với men rượu như cánh diều gặp gó đưa Mị bay về với những kỉ niệm của ngày trước. Đó là những tháng ngày tươi đẹp,hạnh phúc và đầy kiêu hãnh của tuổi trẻ. " Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi..." ==> Tình trạng sống mà như đã chết ở hiện tại được bởi bỏ. Quá khứ tươi đẹp tưởng như đã bị vùi chôn dưới lớp tro tàn nguội lại , nay đã " bùng cháy"/

- Nguồn sinh khí được tiếp lấy từ những ngày tháng tự do, hạnh phúc đã qua giống như trận mưa tưới tắm đến đâu làm tươi tốt đến đấy. Có lẽ vì thế mà Mị " thấy phơi phới trở lại, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước" ==> để rồi sau những tháng ngày mất ý niệm về không gian, thời gian, bản thân, Mị cảm thấy mình " trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ" và Mị " muốn được đi chơi".

* HÀNH ĐỘNG BƯỚC VÀO BUỒNG:

- Hình ảnh lỗ vuông mờ mờ được 1 lần nữa được lặp lại...

- Câu trần thuật " rượu tan lúc nào...mà từ từ bước vào buồng" ==> những câu văn chậm rãi như nhịp điệu mỏi mòn,tê dại gợi tả hình ảnh Mị như chiếc bóng câm lặng vật vờ trong đêm. 

- " Chẳng năm nào A Sử cho Mị đi chơi tết" nên Mị ở nhà như một thói quen, quán tính....

- Như 1 lẽ tự nhiên, khi ý thức sống đã trỗi dậy thì cũng là lúc Mị cảm thấy rõ hơn bao giờ hết cái vô nghĩa lý của cuộc sống thực tại. Nếu trước đây Mị " quen khổ" đến mức chai sạn, không còn tưởng đến việc ăn lá ngón tự tử thì giờ đây " nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay không buồn nhớ lại nữa" ==> Đây là biểu hiện của sự phản khác với hoàn cảnh giữa 1 bên là sự khát vọng 1 bên là thực tại đáng chán vẫn đang hiện hữu.

*  Chi tiết tiếng sáo lửng lơ được khép lại ở đoạn trích như đang cứu rỗi linh hồn Mị, đang tiếp đà hồi sinh mạnh mẽ trong Mị " tiếng gọi bạn yêu vẫn lơ lửng..." Câu văn miêu tả tiếng sáo có chữ " mà" đứng ở đầu cầu. Chữ " mà" diễn đạt tự do tình yêu như 1 điều tất yếu nó tha thiết lay tỉnh và thức dậy quá quá khứ tươi đẹp để náo nức trong lòng Mị.

* Hồi tưởng quá khứ: Không khí mùa xuân ở bản làng Hồng Ngày và hơi men rượu tiếp tục là tác nhân tác động hiếm hoi đã len lỏi vào tâm hồn khô cằn của Mị . 

c. tóm tắt sơ lược phần cuối: tiếng sáo làm Mị ý thức được bi kịch của mình ==> đánh thức mình bằng khát vọng tự do ==> Mị đứng dậy chuẩn bị váy , quấn lại tóc sửa soạn đi chơi ==> đó là ngọn lửa khao khát tự do đang cháy lên trong Mị.

Nhận xét về cách nhìn mới mẻ của nhà văn: ( gợi ý) 

+ So sánh với các nhà văn viết về người nông dân như Nam Cao  ==> nhà văn để cho nhân vật chết để giải thoát cho chính mình

+ Còn đối với Tô Hoài ông để sức sống tiềm tàng trong nhân vật được trỗi dậy để bừng lên sức sống và tìm được lối thoát cho mình. 

+ Nhà văn phát hiện ra bản chất, khao khát sống của con người. 

26 tháng 3 2019

Dịch đây nè:

Nếu bạn có thể dịch, tôi sẽ yêu bạn cả đời

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
1. Lắng nghe sự thinh lặng Answer: Bài văn mẫu về chủ đề lắng nghe sự thinh lặng. Mở bài Trong cuộc sống ồn ào, vội vã, con người thường mải mê chạy theo những thanh âm, những tiếng nói từ bên ngoài mà quên mất đi một điều vô cùng quan trọng: lắng nghe sự thinh lặng. Sự thinh lặng không phải là sự im bặt, trống rỗng, mà là một không gian để tâm hồn nghỉ ngơi, để trí não soi chiếu những suy tư sâu sắc. James Lovelock từng ví Trái Đất như một cái cây tồn tại thầm lặng, trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai, cho thấy sự vận động và biến đổi kỳ diệu diễn ra trong im lặng. Chủ đề "Lắng nghe sự thinh lặng" mời gọi mỗi chúng ta nhìn nhận lại cách sống, cách cảm nhận thế giới và thấu hiểu chính mình. Thân bài 1. Giải thích và ý nghĩa của sự thinh lặng Sự thinh lặng là trạng thái không có tiếng động hoặc âm thanh. Tuy nhiên, trong ngữ cảnh nghị luận xã hội, thinh lặng mang ý nghĩa sâu sắc hơn: đó là sự tĩnh tâm, là khoảng không gian nội tâm để con người suy ngẫm, chiêm nghiệm. Lắng nghe sự thinh lặng là khả năng tạm gác lại những xô bồ, náo nhiệt của cuộc sống, để tâm trí được thanh lọc và tập trung vào những giá trị cốt lõi. 2. Biểu hiện của việc lắng nghe sự thinh lặng Việc lắng nghe sự thinh lặng được thể hiện qua nhiều khía cạnh:
  • Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
  • Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
  • Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
3. Bàn luận mở rộng Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng khó tìm thấy sự thinh lặng. Mạng xã hội, thông tin liên tục, công việc áp lực khiến chúng ta luôn trong trạng thái "bận rộn". Điều này dẫn đến sự căng thẳng, lo âu và mất kết nối với chính mình. Do đó, việc chủ động tìm kiếm và lắng nghe sự thinh lặng là vô cùng cần thiết. Nó là liều thuốc chữa lành tâm hồn, giúp cân bằng cảm xúc và sống chậm lại. Kết bài "Lắng nghe sự thinh lặng" không phải là một hành động thụ động mà là một nghệ thuật sống, một sự chủ động tìm kiếm bình yên trong tâm hồn. Giống như cây sồi già vẫn giữ nguyên dáng vẻ qua bao năm tháng dù có nhiều sự thay đổi lặng lẽ, sự thinh lặng giúp chúng ta giữ vững bản ngã giữa dòng đời vạn biến. Hãy dành cho mình những khoảng lặng cần thiết để thấu hiểu bản thân, yêu thương cuộc sống và cảm nhận thế giới một cách trọn vẹn hơn. 2. Bàn luận về ý kiến của A. Camus Answer: Bài văn mẫu bàn luận về ý kiến của A. Camus về người nghệ sĩ. Mở bài Albert Camus, trong diễn văn nhận giải Nobel năm 1957, đã đưa ra một nhận định sâu sắc về vai trò và sứ mệnh của người nghệ sĩ: "Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi." (2) Ý kiến này khẳng định mối quan hệ biện chứng, không thể tách rời giữa cá nhân người nghệ sĩ, cái đẹp trong nghệ thuật và trách nhiệm với cộng đồng. Bằng trải nghiệm văn học, ta thấy nhận định của Camus là kim chỉ nam cho mọi hoạt động sáng tạo chân chính. Thân bài 1. Mối tương quan giữa người nghệ sĩ và cộng đồng Người nghệ sĩ không tồn tại biệt lập mà luôn trong mối tương quan với xã hội, với "người khác". Cuộc sống, con người là chất liệu vô tận cho sáng tạo. Các tác phẩm văn học lớn đều phản ánh hiện thực, số phận con người, và những vấn đề của thời đại. Ví dụ, Nam Cao với tác phẩm Chí Phèo, đã phơi bày bi kịch của người nông dân bị bần cùng hóa, bị xã hội vùi dập, qua đó thể hiện sự gắn bó sâu sắc với cộng đồng, lên tiếng bênh vực những số phận bất hạnh. 2. Cân bằng giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng "Cái đẹp không thể bỏ qua" là mục tiêu hướng tới của nghệ thuật. Văn chương phải là cái đẹp, là sự tinh tế trong ngôn từ, cấu trúc, hình ảnh. Tuy nhiên, cái đẹp đó không phải là sự phù phiếm, thoát ly thực tế mà phải gắn liền với "cộng đồng không thể tách khỏi". Tác phẩm đạt đến cái đẹp chân chính khi nó vừa mang giá trị thẩm mỹ cao, vừa chứa đựng thông điệp nhân văn sâu sắc, phục vụ con người, thức tỉnh lương tri. 3. Trải nghiệm văn học chứng minh Qua các tác phẩm văn học, ta thấy rõ sự tôi luyện của người nghệ sĩ trong mối tương quan này.
  • Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
  • Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
4. Bàn luận mở rộng Nhận định của Camus vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Người nghệ sĩ hiện đại cần tránh hai khuynh hướng: hoặc quá chú trọng vào cái tôi cá nhân, cái đẹp thuần túy mà xa rời thực tế cuộc sống; hoặc biến nghệ thuật thành công cụ tuyên truyền khô khan, thiếu tính thẩm mỹ. Con đường chân chính của nghệ thuật là sự dung hòa giữa cái đẹp và trách nhiệm xã hội. Kết bài Tóm lại, ý kiến của Albert Camus là một triết lý sâu sắc về nghệ thuật và người nghệ sĩ. Sứ mệnh của người nghệ sĩ không chỉ là sáng tạo ra cái đẹp mà còn là gắn bó mật thiết với cộng đồng, dùng nghệ thuật để phục vụ con người. Sự tôi luyện bản thân trên "quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi" chính là con đường dẫn đến những tác phẩm văn học vĩ đại, có giá trị vượt thời gian.
Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng...
Đọc tiếp

Câu 1. Nghị luận xã hội (8,0 điểm)

“Trái Đất dường như là một thực thể sống: không phải như cách người xưa nhìn nàng một Nữ thần đa cảm, có mục đích và tầm nhìn - mà là như một cái cây. Một cái cây vốn tồn tại thầm lặng, chẳng bao giờ dịch chuyển trừ phi đung đưa theo gió, nhưng vẫn luôn trò chuyện không ngừng với ánh nắng và đất đai. Cây sử dụng ánh nắng, nước, khoáng chất dinh dưỡng để lớn lên và thay đổi. Song, tất cả sự thay đổi đó lặng lẽ tới mức, với tôi, cây sồi già trong sân trông vẫn như khi tôi nhìn thấy nó thuở ấu thơ.” (James Lovelock) (1)

Từ văn bản trên, anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận về chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng.

Câu 2. Nghị luận văn học (12,0 điểm)

Trong diễn văn đọc tại lễ bế mạc các hoạt động vinh danh giải Nobel ngày 10 tháng 12 năm 1957 ở Stockholm, A. Camus cho rằng: “Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”(2)

Bằng trải nghiệm văn học, anh/ chị hãy bàn luận ý kiến trên.

1
2 tháng 10 2025

Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)

Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng


Bài làm:

Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.

Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.

Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.

Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.

Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.


Kết luận:

Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.


Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)

Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”


Bài làm:

Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.

Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.

Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.

Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.

Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.

Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.


Kết luận:

Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.

26 tháng 3 2019

Câu hỏi :

Dịch nghĩa từ : гэрийн нохойг уншаарай

Trả lời :

Đọc chó về nhà

P/S : Mk cx ko chắc nx , nhưng bn nên cho bt từ đó là tiếng nước nào chứ !!!!

sai rồi phải là 

ĐỌC LÀ CON CHÓ 

đó là tiếng MÔNG CỔ

Đọc chó về nhà

27 tháng 3 2019

Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.

27 tháng 3 2019

Dịch ra tiếng việt:

Tôi đang mặc những chiếc lông vũ với một chiếc lông dài. Tôi thường có dây nóng và ướt làm việc trong môi trường. Trong công việc, tôi làm việc về phía trước, đẩy về phía trước, tôi đánh trắng. Thường làm việc 1-3 lần một ngày, nhưng thật không may, đôi khi tôi không thể sử dụng nó.

Dịch ra tiếng anh: 

What am I Dressing up the feathers with a long feather. I usually have hot and wet wires working in the environment. At work, I work forward, pushing forward, I hit the white. Usually work 1-3 times a day, but unfortunately sometimes I can not use it.

Câu 1:

Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.

Câu 2:

Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"

– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.

– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu:  ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.

Bình luận các ý kiến:

 Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.

12 tháng 12 2021

-

7 tháng 1 2022

các bn chỉ cần dịch 사랑해 thui nha

7 tháng 1 2022

사랑해= tôi mến bạn 도와주세요 = cứu giúp 

1. Đặt vấn đềSử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người...
Đọc tiếp

1. Đặt vấn đề

Sử thi "Đăm Săn" là pho sử thi nổi tiếng của người Ê-đê. Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là một trong những trích đoạn tiêu biểu kể lại hành trình chinh phục Nữ Thần Mặt Trời của người anh hùng Đăm Săn. Đồng thời, nó còn phản ánh diện mạo đời sống tinh thần, niềm tin cộng đồng người Ê-đê. Thông qua đoạn trích, không gian sinh hoạt của người Ê-đê được hiện lên rõ nét và trở thành một điểm nhấn thú vị, đáng để khám phá.

2. Giải quyết vấn đề

a. Kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Trước hết, kiến trúc nhà ở của người Ê-đê trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" gắn liền với hình ảnh nhà sàn dài. Nhà sàn dài là kiến trúc độc đáo và đặc biệt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Đặc trưng của nhà dài Tây Nguyên bao gồm: hình thức của thang, cột sàn và cách bố trí vật dụng trên mặt bằng sinh hoạt. Điều này được miêu tả rất rõ trong đoạn trích ở các chi tiết: "Chồm lên hai lần, chàng leo hết cầu thang. Chàng giậm chân trên sàn sân, hai lần sàn sân làm như vỗ cánh, bảy hàng cột nhà chao qua chao lại từ đông sang tây", "cầu thang trông như cái cầu vồng", "tòa nhà dài dằng dặc", "voi vây chặt sàn sân", "các xà ngang xà dọc đều thếp vàng". Hình ảnh nhà sàn dài dằng dặc, cầu thang, xà ngang xuất hiện nhiều lần và được lặp đi lặp lại cho thấy dấu ấn kiến trúc nhà ở đặc trưng của đồng bào người Ê-đê. Tuy kiến trúc nhà ở không được miêu tả một cách tỉ mỉ nhưng những hình ảnh tiêu biểu như vậy cũng đủ để làm đồng hiện nền văn hóa đặc sắc của vùng Tây Nguyên.

b. Sinh hoạt của người Ê-đê trong không gian nhà ở trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời"

Không gian nhà dài chính là nơi cư trú của người dân Ê-đê. Tại đây diễn ra rất nhiều hoạt động gắn liền với văn hóa của người Ê-đê như hội họp, ăn mừng, kể chuyện sử thi, tổ chức nghi lễ thờ cúng thần linh,... Đoạn văn trong đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" đã miêu tả lại khung cảnh của người dân như sau: "tôi tớ trải dưới một chiếu trắng, trải trên một chiếu đỏ làm chỗ ngồi cho nhà tù trưởng. Rồi họ đem thuốc sợi cả hòm đồng, thuốc lá cả sọt đại, trầu vỏ cả gùi to, không còn sợ thiếu thuốc thiếu trần cho Đăm Săn ăn, hút. Họ đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa êpang, sáng như ánh mặt trời, nấu cơm mời khách. Họ đi lấy rượu, đem một ché tuk da lươn, một ché êbah Mnông, trên vẽ hoa kơ-ụ, dưới lượn hoa văn, tai ché hình mỏ vẹt xâu lỗ. Đó là những cái ché ngã giá phải ba voi. Ai đi lấy nước cứ đi lấy nước, ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần. Cần cắm rồi, người ta mời Đăm Săn vào uống.". Các vật dụng xuất hiện trong đoạn văn như: ché tuk, ché êbah, là những đồ vật được làm bằng gốm với hình hoa văn đa dạng, được xem là những đồ vật quý của người Ê-đê. Nó biểu thị cho sự sung túc, giàu có, phải "ngã giá bằng ba voi" mới có được.

Hơn nữa, đoạn văn còn làm nổi bật được hoạt động và tính cách của người dân Ê-đê. Để thiết đãi vị tù trưởng Đăm Săn - vị khách quý của buôn làng, người dân nô nức thi nhau mang ra những món ăn ngon nhất, những loại thuốc quý nhất để thiết đãi: thuốc sợi, thuốc lá, trầu vỏ, gà mái ấp, gà mái đẻ, gạo trắng. Người Ê-đê hiện lên với nét tính cách xởi lởi, hào phóng, nồng hậu. Những hoạt động thiết đãi tù trưởng Đăm Săn cũng chính là những hoạt động của dân làng khi tiếp đón những vị khách quý từ phương xa.

Bên cạnh đó, chi tiết "chiêng xếp đầy nhà ngoài", "cồng chất đầy nhà trong" và "ai đánh chiêng cứ đánh chiêng, ai cắm cần cứ cắm cần" đã phản ánh phong tục đánh cồng chiêng và uống rượu cần của người dân vùng Tây Nguyên. Cồng chiêng không chỉ là nhạc cụ mà nó còn chứa đựng giá trị văn hóa của cộng đồng người Ê-đê. Chính vì vậy, chi tiết Đăm Săn đến nhà Nữ Thần Mặt Trời thấy hình ảnh "chiêng xếp đầy nhà ngoài, cồng xếp đầy nhà trong" biểu thị cho sự quyền lực và giàu có. Người Ê-đê tin rằng: mỗi một chiếc cồng đều ẩn chứa một vị thần cho nên càng nhiều cồng, cồng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Ngoài ra, tục uống rượu cần cũng là một nét đẹp văn hóa trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Rượu cần trong đoạn trích chính là phương tiện để gắn kết tình cảm giữa người tù trưởng Đăm Săn và Đăm Par Kvây. Rượu không chỉ đóng vai trò trong các buổi thực hành nghi lễ để cầu xin đấng thần linh mà nó còn thể hiện đầy đủ tinh thần tập thể của cộng đồng, lòng mến khách của chủ nhà.

Có thể nói, những vật dụng trong căn nhà của người Ê-đê không chỉ gắn liền với hoạt động sống mà còn phản ánh được tính cách, sự giàu có, phồn vinh của cả một cộng đồng.

3. Kết luận

Đoạn trích "Đăm Săn đi bắt Nữ Thần Mặt Trời" là đoạn trích quan trọng của sử thi "Đăm Săn". Đoạn trích không chỉ khắc họa vẻ đẹp phi thường, khát vọng mãnh liệt của người anh hùng Đăm Săn mà qua đó, chúng ta còn thấy được những nét đẹp văn hóa, đặc biệt là không gian sinh hoạt của người Ê-đê ở Tây Nguyên. Sử thi "Đăm Săn" cho thấy kiến trúc nhà dài, vật dụng gắn liền với sinh hoạt và lối sống, tính cách của đồng bào người Ê-đê. Các giá trị vật chất, tinh thần của người Ê-đê trong thời đại mới cần phải được bảo tồn và phát huy hơn nữa.

1
30 tháng 11 2025

Tài liệu tham khảo này tu đâu