Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
1. Nước ta có hai dạng địa hình lớn là đồi núi và đồng bằng. Đồi núi chiếm khoảng 3/4 diện tích lãnh thổ, phần lớn là núi thấp dưới 1 000 m; đồng bằng chiếm khoảng 1/4 diện tích còn lại, gồm đồng bằng sông Hồng, sông Cừr u Long và các đồng bằng ven biển. 2. Các dãy núi cao tiêu biểu: dãy Hoàng Liên Sơn ở Tây Bắc với đỉnh Phan-xi-păng cao 3.143 m; dãy Tây Côn Lĩnh (Hà Giang); dãy Pu Si Lung ở Lai Châu; các dãy thuộc Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam với đỉnh Ngọc Linh (2.598 m), Pu Ta Leng, Ngọc Phác… Phan-xi-păng là đỉnh núi cao nhất Việt Nam. 3. Địa hình cao nhất nước ta tập trung ở vùng núi Tây Bắc, đặc biệt là dãy Hoàng Liên Sơn. Ngoài ra, các cao nguyên ở Tây Nguyên và dãy Trường Sơn dọc biên giới Việt – Lào cũng có độ cao trên 500 – 1.500 m. Ngược lại, khu vực đồng bằng ven biển và hải đảo có địa hình thấp.
Đâu không phải dạng địa hình phổ biến ở nước ta?
A. Địa hình đồng bằng
B. Địa hình cacxto
C. Địa hình núi cao
D. Địa hình ven biển
Đâu không phải dạng địa hình phổ biến ở nước ta?
A. Địa hình đồng bằng
B. Địa hình cacxto
C. Địa hình núi cao
D. Địa hình ven biển
Địa hình và các hệ sinh thái vùng ven biển
- Các dạng địa hình ven biển rất đa dạng: vịnh cửa sông, các bờ biển mài mòn, các tam giác châu có bãi triều rộng, các bãi cát phẳng, các đầm phá, các vũng vịnh nước sâu, các đảo ven bờ và những rạn san hô...
- Các hệ sinh thái vùng ven biển rất đa dạng và giàu có.
+ Hệ sinh thái rừng ngập mặn vốn có diện tích tới 450 nghìn ha, cho năng suất sinh học cao, đặc biệt là sinh vật nước lợ.
+ Các hệ sinh thái trên đất phèn và hệ sinh thái rừng trên các đảo cũng rất đa dạng và phong phú.
Địa hình của Việt Nam thường được miêu tả là "núi già trẻ" vì nước ta có sự đa dạng về địa hình với sự kết hợp giữa những khu vực núi non đồi núi (núi già) và những khu vực phẳng lầy bãi (trẻ). Đây là một sự pha trộn độc đáo của các yếu tố địa chất và địa tạo, tạo ra một địa hình đa dạng và phong cảnh thiên nhiên đẹp ở Việt Nam.
- Núi già: Các vùng núi già tập trung chủ yếu ở phía bắc và phía tây bắc nước ta, như dãy Hoàng Liên Sơn (nơi có đỉnh Fansipan - núi cao nhất Đông Dương), dãy Trường Sơn, và dãy núi phía Tây. Những vùng núi này thường cao và đồi núi đáng kể, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác lâm sản và du lịch.
- Đồng bằng và trẻ: Các khu vực phẳng như Đồng bằng Sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long và một số vùng đồng bằng nhỏ khác có địa hình phẳng, thích hợp cho nông nghiệp và định cư. Vùng trẻ bao gồm các đồng bằng ven biển và hồ, cũng như các hệ thống sông và kênh mạch.
-> Sự kết hợp giữa núi già và đồng bằng đã tạo nên một đặc điểm địa hình đa dạng ở Việt Nam, ảnh hưởng đến nền kinh tế và văn hóa của đất nước. Núi già cung cấp tài nguyên quý báu như gỗ, nước, và nguồn tài nguyên thiên nhiên khác, trong khi đồng bằng và vùng trẻ thích hợp cho nông nghiệp và định cư.
1. Nước ta có hai dạng địa hình chính: đồi núi và đồng bằng. Đồi núi chiếm khoảng 3/4 diện tích lãnh thổ, phần lớn là núi thấp dưới 1.000 m; đồng bằng chiếm khoảng 1/4 diện tích còn lại, gồm các đồng bằng sông Hồng, sông Cừr u Long và nhiều đồng bằng ven biển Trung Bộ. 2. Một số dãy núi cao của nước ta: dãy Hoàng Liên Sơn với đỉnh Phan-xi-păng (3.143 m) là đỉnh cao nhất Việt Nam; dãy Pu Si Lung, dãy Tây Côn Lĩnh; các dãy Trường Sơn Bắc và Trường Sơn Nam cũng có nhiều đỉnh cao tren 2.000 m như Ngọc Linh, Pu Ta Leng, Ngọc Phác, v.v. 3. Địa hình cao tập trung chủ yếu ở khu vực Tây Bắc (dãy Hoàng Liên Sơn), khu Đông Bắc và trên dãy Trường Sơn kéo dài theo biên giới tày nam. Ngoài ra các cao nguyên ở Tây Nguyên cũng có độ cao 500 – 1.500 m. Ngược lại, đồng bằng và ven biển là khu vực địa hình thấp.
- Vì đồi núi chiếm tới 3/4 lãnh thổ đất liền và là dạng phổ biến nhất. Ngay ở đồng bằng châu thổ ta cũng bắt gặp các đồi núi sót nhô cao trên mặt đồng bằng (núi Đồ Sơn, Con Voi, Tam Điệp, sầm Sơn, Bà Đen, Bảy Núi,...).
- Đồi núi ảnh hưởng nhiều đến cảnh quan chung: sự xuất hiện các đai cao tự nhiên theo địa hình (đai nhiệt đới chân núi, đai á nhiệt đới núi hung bình, đai ôn đới núi cao,...).
- Đồi núi ảnh hưởng lớn tới phát triển kinh tế - xã hội. Vùng đồi núi có những thế mạnh riêng về kinh tế, khai thác khoáng sản, xây dựng hồ thủy điện, trồng cây công nghiệp dài ngày, chăn nuôi gia súc lớn, phát triển du lịch sinh thái,... nhưng đồi núi cũng có nhiều khó khăn ưu ngại về đầu tư phát triển kinh tế, về giao thông vận tải,... Do vậy miền đồi núi nước ta vẫn còn là vùng kinh tế chậm phát triển, đời sống vất vả hơn so với các vùng khác.
1.
Đặc điểm chung của địa hình Việt Nam:
- Đồi núi chiếm phần lớn diện tích nhưng chủ yếu là đồi núi thấp:
+ Đồi núi chiếm tới ¾ diện tích lãnh thổ, đồng bằng chỉ chiếm ¼ diện tích.
+ Trên phạm vi cả nước, địa hình đồng bằng và đồi núi thấp (dưới 1000m) chiếm tới 85%, địa hình cao (trên 2000m) chỉ chiếm 1%.
- Cấu trúc địa hình khá đa dạng:
+ Địa hình nước ta có cấu trúc cổ được vận động Tân kiến tạo làm trẻ hóa, tạo nên sự phân bậc rõ rệt theo độ cao, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam và phân hóa đa dạng.
+ Cấu trúc địa hình gồm 2 hướng chính:
● Hướng Tây Bắc – Đông Nam thể hiện rõ rệt từ hưu ngạn sông Hồng đến dãy Bạch Mã.
● Hướng vòng cung thể hiện ở vùng núi Đông Bắc và khu vực Trường Sơn Nam,
- Địa hình của vùng nhiệt đới ẩm gió mùa:
+ Xâm thực mạnh ở miền đồi núi.
+ Bồi tụ nhanh ở đồng bằng hạ lưu sông.
- Địa hình chịu tác động mạnh mẽ của con người:
+ Con người nổ mìn khai thác đá, phá núi làm đường (hầm đèo Hải Vân)
+ Đắp đê ngăn lũ, đồng bằng sông Hồng với hệ thống đê điều dày đặc, làm phân chia thành địa hình trong và ngoài đê.
+ Phá rừng đầu nguồn, gây nên hiện tượng đất trượt đá lở; xây dựng nhà máy thủy điện…
2. Nước ta giàu tài nguyên khoáng sản là do:
- Lãnh thổ VN nằm trên chỗ giao nhau giữa 2 vành đai kiến tạo và sinh khoáng lớn nhất là Thái Bình Dương và Địa Trung Hải, đồng thời nằm trên địa điểm tiếp giáp của đại lục Gorwana và Lauraxia và trên bản lề của mảng đại dương Paxtie với mảng lục địa Âu-Á nên có mặt hầu hết các khoáng sản quan trọng trên Trái Đất.
- Việt Nam là nước giàu khoáng sản đứng thứ 7 trên thế giới.
-VN nằm trên ranh giới của nhiều mảng kiến tạo, những chỗ ép, nén thường tạo ra mỏ than(Quảng Ninh), còn những chỗ tách dãn tạo ra các mỏ dầu( vùng biển phía nam).
Câu 1: Khoáng sản nước ta rất phong phú, đa dạng
Ngành địa chất đã khảo sát, thăm dò được khoảng 5000 điểm quặng và tụ khoáng của gần 60 loại khoáng sản khác nhau, trong đó có nhiều loại đã và đang được khai thác.
Khoáng sản có rất nhiều loại:
+ Khoáng sản năng lượng. ví dụ: dầu mỏ, than đá,....
+ Khoáng sản kim loại. ví dụ: kẽm, sắt, đồng, titan,....
+ Khoáng sản phi kim loại. ví dụ: thạch anh, sỏi, kim cương,....
Nguyên nhân: Đất nước ta có lịch sử phát triển qua hàng trăm triệu năm, cấu trúc địa chất phức tạp. Nước ta lại nằm ở khu vực giao nhau của hai vành đai sinh khoáng lớn của Thế giới là Địa Trung Hải và Thái Bình Dương
Chúc em học tôt!
Câu 2: Khí hậu nước ta mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa
Nội dung chứng minh em tự làm nhé, cô sẽ giúp em nội dung giải thích nguyên nhân khí hậu nước ta có tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa
- Tính chất nhiệt đới:
Vị trí địa lí của nước ta: điểm cực Bắc gần chí tuyến Bắc (23o23'B), điểm cực Nam nằm cách Xích đạo không xa (8o34'B). Nước ta nằm hoàn toàn ở vùng nội chí tuyến nửa cầu bắc nên nền nhiệt cao và lượng bức xạ lớn
- Tính chất ẩm
+ Nước ta nằm kề biển Đông, đường bờ biển kéo dài trên 3260km. Biển Đông đã làm biến tính các khối khí thổi vào đất liền: tăng nhiệt ẩm cho khối khí phương bắc xuống, làm dịu mát các khối khí nóng từ phương nam lên
+ Hình dáng lãnh thổ hẹp ngang kéo dài theo chiều vĩ tuyến. Hướng nghiêng chung của địa hình là TB-ĐN thấp dần ra biển đã tạo thuận lợi cho các luồng gió hướng đông nam từ biển thâm nhập sâu vào trong đất liền
+ Gió mùa kết hợp với tác động của Biển Đông đã mang đến cho nước ta lượng mưa lớn, độ ẩm cao
- Tính chất gió mùa:
Nước ta nằm ở rìa đông của lục địa Á - Âu, trung tâm của khu vực gió mùa châu Á, nơi giao lưu của các khối khí hoạt động theo mùa
Chúc em học tốt!
Địa hình ven biển nước ta đa dạng chủ yếu do tác động kết hợp của sóng biển, thuỷ triều, sông ngòi và hoạt động kiến tạo.
Địa hình ven biển nước ta đa dạng là do nhiều yếu tố tác động cùng lúc, cụ thể như sau:
👉 Tóm lại: Địa hình ven biển Việt Nam đa dạng là vì sự kết hợp giữa tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn) và tác động của con người, tạo nên những vùng bờ biển vừa đẹp vừa khác biệt rõ rệt giữa các khu vực.
Địa hình ven biển nước ta đa dạng là do sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố tự nhiên và con người, cụ thể như sau:
-Đường bờ biển dài và uốn lượn: Việt Nam có hơn 3.260 km đường bờ biển, chạy dài từ Bắc vào Nam, với nhiều dạng địa hình khác nhau như đồng bằng, đồi núi sát biển, cửa sông, vịnh, bán đảo, đảo...
-Tác động của sóng, thủy triều và dòng biển: Các quá trình này liên tục bào mòn, bồi tụ và tái tạo địa hình, tạo nên các dạng đặc trưng như bãi triều, đầm phá, cồn cát, vịnh kín...
-Tác động của các con sông lớn: Sông Hồng, sông Cửu Long... mang theo phù sa đổ ra biển, hình thành đồng bằng ven biển rộng lớn như đồng bằng Bắc Bộ và Nam Bộ.
-Sự nâng hạ của vỏ Trái Đất và địa chất: Làm thay đổi đường bờ, tạo nên vịnh, vũng, đảo và các dạng địa hình đặc biệt như vịnh Hạ Long hay các dải cát ở miền Trung.
-Tác động của con người: Việc xây dựng cảng, đê biển, khu du lịch... cũng làm thay đổi địa hình ven biển theo thời gian.