Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Bài làm
VỚI CON
rối từng mớ bòng bong dấu hỏi
lần mãi mà không tới cùng
có dấu hỏi giống que củi cong
duỗi ra thì gãy mất
có dấu hỏi lưỡi câu ngạnh sắt
ta lặng đi không dám chạm vào
trẻ đang khôn muốn biết hết mọi điều
có lắm điều ta cũng chưa rõ
cứ như thế quả là điều đáng sợ
giá mà con không hề hỏi gì cả
ta rùng mình- điều đó đáng sợ hơn
câu 1: xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản.
---> BTBĐC: Tự sự.
câu 2: những điều khiến '' ta " trong văn bản thấy đáng sợ là gì?
---> Những điều khiến " ta " trong văn bản thấy đáng sợ là những người không biết gì về thắc mắc.
câu 3: trong bài thơ, tác giả đã giành cho con những tình cảm nào?
-----> Tình yêu thương tha thiết của cha mẹ đối với con, không muốn cho con mình biết về những thứ đáng sợ ngoài thế gian.
câu 4; vì sao con người sống mà không biết hỏi gì cả là điều đáng sợ?
---> Vì con người sống thì phải hỏi, không hỏi thì không thể nàog biết rõ mọi việc.
# Học tốt #
1.Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là: biểu cảm.
2.- "Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị
Tiếng đàn kêu tính tịch tình tang..." (Truyện cổ tích "Thạch Sanh")
-"Có cô Tấm náu mình trong quả thị" (Truyện cổ tích "Tấm Cám")
-"Có người em may túi đúng ba gang."(Truyện cổ tích "Cây khế")
-"...Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi." (Truyện cổ tích "Sự tích trầu cau")
3.Biện pháp nghệ thuật trong đoạn thơ là: điệp cấu trúc "Quê hương tôi có..."
Tác dụng:
-Nghệ thuật: Làm cho lời thơ hài hòa cân đối,giàu giá trị gợi hình gợi cảm cho đoạn thơ, gây hứng thú cho bạn đọc.
-Nội dung:
+Tác giả làm nổi bật lên giá trị của những câu chuyện cổ, những câu ca dao tục ngữ,đồng thời khẳng định vai trò và ý nghĩa của văn học dân gian nước nhà, ca ngợi truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta: yêu công lí,chuộng hòa bình chính nghĩa;tình nghĩa thủy chung; nghĩa tình.
+Bên cạnh đó chúng ta cần tự hào và giữ gìn những truyền thống quý báu đó,học tập để trau dồi kiến thức và nhân cách.
4. Văn học dân gian đối vs mỗi nhà văn, nhà thơ... là nguồn mạch cảm xúc, là sản phẩm tinh hoa của dân tộc Việt được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ nghệ thuật, đc chọn lọc từ những từ ngữ trau chuốt, đc gọt dũa cẩn thận từ bao đời nay.Song ai cũng có thể tham gia được,ai cũng được sửa chữa để tác phẩm được hay hơn,đầy đủ, phong phú hơn.Văn học dân gian là kho tí thức vô cùng phong phú về đời sống các dân tộc, có giá trị giáo dục sâu sắc đạo lí làm người,có giá trị thẩm mĩ to lớn, góp phần quan trọng tạo bản sắc riêng cho nền văn hóa dân tộc.Đoạn thơ trên là vậy, nó mang đến cho tác giả tình cảm tự hào, yêu mến, trân trọng; đồng thời cũng là niềm tự hào trước những giá trị văn hóa tinh thần, trước những truyền thống tốt đẹp của cội nguồn.Bản thân mỗi chúng ta ai cũng tự hào, yêu mến những giá trị văn hóa đó, và cần giữ gìn nó vì đó là biểu hiện của lòng yêu nước ở mỗi người.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.
Câu 2: Những câu ca dao, tục ngữ hoặc truyện cổ được gợi nhớ trong đoạn trích là: Thạch Sanh, Tấm Cám, Cây khế, Sự tích Trầu Cau, Tay bưng chén muối đĩa gừng – Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau…
Câu 3: Biện pháp điệp cấu trúc “Một … cũng…” Tác dụng: - Khẳng định giá trị nội dung của những câu truyện cổ, những câu ca dao tục ngữ. - Làm nổi bật vẻ đẹp truyền thống của dân tộc: thủy chung, nghĩa tình.
Câu 4: Đoạn thơ là tình cảm tự hào, yêu mến, trân trọng của nhà thơ về những tác phẩm văn học dân gian. Đó cũng là niềm tự hào trước những giá trị trị văn hóa tinh thần, trước những truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Văn học dân gian là nguồn mạch, tinh hoa của văn hóa dân tộc, là tâm hồn Việt Nam được hun đúc bao đời. Tự hào, yêu mến những giá trị văn hóa, những truyền thống tốt đẹp đó cũng là tự hào về nguồn cội, là biểu hiện của lòng yêu nước trong mỗi con người.
câu 1:chủ đề cuả bài thơ là:sự nhận thưć cuả người con về công ơn cuả mẹ
câu 2 :phép điệp trong khổ thơ 1 là:những muà quả
phép đối:lũ chúng tôi lớn lên-bí và bầu lớn xuống
câu 3:
chữ "quả"mang ý nghiã tả thực:dòng 1 và dòng 3 cuả khổ đâù.
chữ "quả"mang ý nghĩa biểu tượng:dòng 1 và dòng 4 cuả khổ cuối.
câu 4:nghĩa cuả cuṃtừ quả non xanh :chưa đến độ chín ,chưa trưởng thành;chưa làm được nhưng điều xưng đáng với sự mong đợi cuả mẹ,chưa thanh̀ người tốt.
Gợi ý trả lời
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn thơ là: biểu cảm.
Câu 2: Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều sau: : tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết.
Câu 3:
Điệp cấu trúc “nếu là … con hãy (con phải) được lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành một người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu.
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản.
Câu 4:
Thông điệp:
Phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn.
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là: biểu cảm
Câu 2:
Theo tác giả, chúng ta cần phải kính trọng những điều: tuổi già, nỗi khổ, tình mẹ con, kẻ tật nguyền, sự vất vả và cái chết
Câu 3:
Phép điệp cấu trúc: nếu là….con hãy.
Được lặp di lặp lại 4 lần có tác dụng:
- Nhấn mạnh lời cha dạy con có cách ứng xử phù hợp với những tình huống có thể gặp trong cuộc đời để con trở thành 1 người tử tế, biết quan tâm, không bị ảnh hưởng bởi cái xấu
- Tạo sự liên kết, logic cho văn bản
Câu 4:
Theo em, thông điệp có ý nghĩa nhất là: phải biết giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Vì khi chúng ta mở rộng tấm lòng, chia sẻ với người khác những niềm vui,nỗi buồn của mình, học cách lắng nghe, đồng cảm, sẻ chia với những buồn vui, khó khăn của người khác. Khi đó, ta sẽ thấy yêu đời và yêu người hơn, cuộc sống này ấm áp yêu thương và đáng sống biết bao.
PHẦN ĐỌC HIỂU: (3.0 điểm)
Câu 1: Xác định thể thơ, nội dung chính của bài thơ.
Câu 2: Phân tích hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng chủ thể “ta” trong bài thơ.
Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của phép lặp cấu trúc trong khổ thơ thứ nhất.
Câu 4: Anh/chị hiểu thế nào về chi tiết “cuộc đời méo mó” được nhắc đến trong bài thơ?
Câu 5: Chỉ ra và nêu tác dụng của phép nhân hoá, ẩn dụ trong câu thơ:
Câu 6: Phân tích nghệ thuật lập luận của tác giả qua việc sử dụng các quan hệ từ.
Nghệ thuật lập luận: Việc sử dụng các quan hệ từ giúp tác giả xây dựng luận điểm chặt chẽ, dẫn dắt người đọc từ nhận thức này sang nhận thức khác một cách logic và thuyết phục.
Câu 7: Thông điệp mà anh/chị tâm đắc nhất trong bài thơ là gì? Tại sao?
VẺ ĐẸP TRIẾT LÍ SỐNG TRONG BÀI THƠ “TỰ SỰ” CỦA NGUYỄN QUANG VŨ
Cuộc sống không bao giờ bằng phẳng. Mỗi con người đều phải đối mặt với những gian nan, thử thách, những khoảnh khắc mà ta cảm thấy mất niềm tin, chông chênh giữa lằn ranh của thất bại và hy vọng. Trong bối cảnh ấy, thơ ca – bằng tiếng nói chân thành và sâu lắng – luôn là người bạn đồng hành giúp ta soi rọi lại chính mình. Bài thơ “Tự sự” của Nguyễn Quang Vũ là một tiếng nói như thế – nhẹ nhàng, sâu sắc, thấm đẫm triết lí sống nhân văn: muốn thay đổi cuộc đời, trước tiên con người cần thay đổi chính bản thân mình.
Bài thơ mở ra bằng hình ảnh quen thuộc và gần gũi:
Khổ thơ sử dụng phép lặp cấu trúc “dù…” tạo nên nhịp điệu đều đặn, như nhấn mạnh sự kiên định, bất biến giữa muôn vàn đổi thay. Dòng sông - hình ảnh ẩn dụ cho con người - vẫn “chảy một đường mà thôi”, bất chấp “đời méo mó trăm phương”. Hình ảnh ấy mang đậm tinh thần sống chủ động, mạnh mẽ, kiên cường. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt bài thơ – một triết lí sống tích cực: hãy như dòng sông, kiên định đi về phía trước, dù thế giới có đảo điên.
Không dừng lại ở hình ảnh ẩn dụ dòng sông, Nguyễn Quang Vũ còn sử dụng những hình ảnh thiên nhiên giàu tính biểu tượng như:
Trong hai câu thơ này, nghệ thuật nhân hoá và ẩn dụ được vận dụng tinh tế. Đất “ấp ôm” như người mẹ hiền nuôi dưỡng sự sống, hạt giống là ẩn dụ cho con người, cho tâm hồn đang trong hành trình vươn lên. “Chồi non” tượng trưng cho những khởi đầu, cho ước mơ và sự sống mãnh liệt. Chính sự “tự vươn lên” ấy mới giúp con người thoát khỏi bóng tối, chạm đến ánh sáng – tượng trưng cho thành công, cho sự hoàn thiện.
Một điểm nổi bật khác trong bài thơ là cách tác giả sử dụng đại từ “ta” để thể hiện chủ thể trữ tình. “Ta” ở đây không chỉ là tiếng nói cá nhân của người viết, mà còn là lời tự sự, là sự nhắn nhủ, chia sẻ với người đọc. Việc sử dụng đại từ này làm tăng tính tự soi, tự tỉnh, biến bài thơ trở thành một lời tự nhủ đầy sức mạnh:
Câu thơ mang tính châm ngôn, khắc sâu trong tâm trí người đọc. Thay vì trách cứ hoàn cảnh, ta hãy tự soi mình, thay đổi bản thân, sống chân thành và ngay thẳng – đó mới là con đường dẫn đến an yên.
Bài thơ khép lại với một thông điệp giàu tính nhân văn:
Một lần nữa, Nguyễn Quang Vũ khẳng định sức mạnh nội tại của con người. Không ai sinh ra là hoàn hảo, nhưng nếu biết tự mình vươn lên, dám đối diện và vượt qua khó khăn, thì nhất định sẽ đến được nơi mình mong muốn. Đây chính là vẻ đẹp lớn nhất của triết lí sống mà bài thơ gửi gắm.
Có thể nói, “Tự sự” không chỉ là một bài thơ – nó là một bài học sống. Với ngôn ngữ giản dị, hình ảnh gần gũi, và cách lập luận tự nhiên thông qua hệ thống quan hệ từ chặt chẽ, tác phẩm không mang tính giáo huấn khô khan mà như một người bạn tâm tình, chia sẻ những trải nghiệm sống rất thật.
Trong nhịp sống hiện đại, nơi con người đôi khi bị cuốn vào những giá trị vật chất, dễ lạc lối trong chính mình, thì triết lí sống của Nguyễn Quang Vũ lại càng trở nên quý giá. Nó nhắc nhở chúng ta rằng: Hạnh phúc không đến từ việc thay đổi thế giới bên ngoài, mà bắt đầu từ sự thay đổi bên trong mỗi người.