K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

(4,0 điểm) Viết một bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn “Bát phở” của tác giả Phong Điệp.

BÁT PHỞ

     (Lược trích một phần: Nhân vật “tôi” đi ăn phở tại một quán phở khá ngon, có tiếng ở Hà Nội. Tôi tình cờ được chứng kiến câu chuyện của hai người cha đang đưa hai cậu con trai từ quê lên Hà Nội thi đại học. Hai người cha sau khi đã trao đổi với nhau mất vài phút, họ cùng bước vào quán phở chỗ tôi đang ngồi.)

     Cả bốn người họ nhìn sang tôi, nhìn sang những bàn khác, rồi tần ngần nhìn tới nhìn lui cái biển ghi trên cửa quán.

     – Phở bò nhé? Tái hay chín?

     – Thêm cả quả trứng cho chắc bụng nhé?

     Hai cậu con nhè nhẹ gật đầu:

     – Vâng, gì cũng được.

     – Thế thì cho hai phở bò chín. Hai trứng.

     Thằng nhỏ chạy bàn vo cái khăn trong tay, tần ngần nhìn bốn người, ý chừng như muốn hỏi: “Sao bốn người mà chỉ có hai bát?”. Nó chạy ra chỗ ông chủ quán, chỏng lỏn: “Hai bò!”.

     Trong tích tắc, hai bát phở sóng sánh được bê ra, đặt trịnh trọng trên bàn.

     – Chúng mày ăn đi. – Một trong hai người cha lên tiếng.

     Đoạn hai ông kéo xích cái ghế ra ngoài một chút, thì thầm nói chuyện với nhau. Đại loại ba cái chuyện mùa màng, bò đẻ, vải thiều sụt giá,... Rồi tới nữa là chuyện phòng trọ trên này sao đắt chi mà đắt. Sáng mốt ngủ dậy, mình phải trả phòng luôn, không là họ tính thêm một ngày nữa. Mình đợi chúng nó ngoài phòng thi, thi xong thì ra bến xe về luôn. Cần thì mua mấy tấm bánh mì, lên xe ăn tạm. Về đến quê rồi, chúng nó thích ăn gì, tha hồ ăn. Chứ trên này, chậc...chậc...

     Cuộc sống nơi đây hẳn là khác rất xa với nơi họ vẫn sống hàng ngày, nơi mà họ đang thon thót về đợt vải năm nay, con bò sắp đẻ lại lăn đùng ra ốm. Họ chỉ vừa lên đây vài ba bữa mà đã thấy lâu quá trời quá đất. Bộ quần áo chỉn chu nhất trong tủ quần áo của hai ông bố nông dân ấy, đều đã mang cả ra đây để mặc rồi. Những bộ quần áo không còn rõ màu sắc ban đầu của vải nữa. Nhưng dưới quê, chỉ có lễ trọng họ mới mặc mà thôi.

     Trong khi ấy, hai cậu con vẫn cặm cụi ngồi với bát phở của mình. Chúng không nói gì. Không cả dám khen một câu đại loại: "Phở ở đây ngon quá!", “Hàng phở này ngon thật!”. Tôi vốn rành ăn phở, những quán thế này không thật nhiều. Nhưng vì sao chúng không hồ hởi mà thổi ra một câu như thế?

     Và tôi, không kìm nén được mình, cứ hướng sang phía bốn con người ấy. Bốn con người ngồi lặng một góc giữa cái quán ồn ã. Người cha sẽ đợi những đứa con của mình ăn đến tận thìa nước cuối cùng, rồi lẳng lặng moi cái ví bằng vải bông chần màu lam, cất trong ngực áo ra. Ông sẽ phải đếm một lúc cho những tờ hai nghìn, năm nghìn, mười nghìn để sao cho đủ ba mươi nghìn đồng, trả cho hai bát phở...

     Hai cậu con trai lặng lẽ bên những người cha. Chúng nhìn những đồng tiền đi ra khỏi ví của cha. Trên gương mặt chúng hiển hiện rõ ràng nỗi âu lo, mỏi mệt. Những kì thi, những nẻo đường ngổn ngang phía trước... Hôm nay, chúng nợ cha ba mươi nghìn đồng. Cuộc đời này, chúng nợ những người cha hơn thế nhiều...

(Theo Phong Điệp, Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 5 (430 – 431) năm 2019, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 61 – 63)

* Chú thích: Nhà văn Phong Điệp tên thật là Phạm Thị Phong Điệp, sinh năm 1976 tại Nam Định. Truyện của Phong Điệp thường ít cảm xúc lai láng nghệ sĩ, mà tràn trề những câu văn miêu tả của người quan sát khách quan, nhẹ nhõm, dửng dưng nhưng lôi cuốn người đọc đến tận câu kết cuối cùng.

25
18 tháng 3 2025

Truyện ngắn “Bát phở” của Phong Điệp là một tác phẩm giàu tính nhân văn và phản ánh sâu sắc tình yêu thương, sự hy sinh của những người cha dành cho con cái. Qua đó, tác phẩm không chỉ thể hiện chân thực bức tranh cuộc sống mà còn mang đến nhiều suy ngẫm về tình cảm gia đình và giá trị của sự hy sinh.


**Chủ đề chính của truyện** xoay quanh tình cảm gia đình, cụ thể là tình phụ tử. Trong khung cảnh đời thường tại một quán phở ở Hà Nội, câu chuyện khắc họa hình ảnh hai người cha từ quê lên thành phố cùng con trai dự thi đại học. Họ là những người nông dân giản dị, mộc mạc, đang đối mặt với gánh nặng cơm áo gạo tiền. Sự hy sinh của họ được thể hiện qua những hành động nhỏ như nhường con ăn phở trong khi bản thân chỉ ngồi một góc trò chuyện về cuộc sống khó khăn. Truyện ngắn nhấn mạnh rằng tình yêu thương và sự hy sinh của cha mẹ dành cho con cái là vô bờ bến, thầm lặng nhưng vô cùng sâu sắc.


**Nét đặc sắc nghệ thuật** của truyện được thể hiện qua nhiều yếu tố:


1. **Cách kể chuyện gần gũi, chân thực:** Tác giả chọn ngôi kể thứ nhất, từ góc nhìn của nhân vật “tôi”, để tái hiện một cách chân thực khung cảnh đời thường. Lời kể nhẹ nhàng, quan sát khách quan nhưng lại tạo nên sự lôi cuốn bởi sự tinh tế trong từng chi tiết miêu tả.


2. **Hình ảnh đời thường mang ý nghĩa sâu sắc:** Câu chuyện xoay quanh bát phở – một món ăn bình dị, quen thuộc với mọi người Việt Nam. Tuy nhiên, bát phở ở đây trở thành biểu tượng của sự hy sinh, tình yêu thương của cha mẹ dành cho con cái. Chi tiết hai người cha chỉ gọi hai bát phở cho con, trong khi họ ngồi bên và không ăn, đã tạo nên sự xúc động mạnh mẽ, khắc họa rõ nét tình yêu thầm lặng của những người làm cha.


3. **Miêu tả tâm lý tinh tế:** Tâm lý của nhân vật được tái hiện qua từng cử chỉ, ánh mắt và lời nói. Hai người cha lo lắng về tiền bạc, tính toán từng đồng để đủ chi phí cho chuyến đi. Trong khi đó, hai cậu con trai tuy im lặng nhưng dường như cảm nhận được nỗi vất vả của cha mình, khiến câu chuyện thêm phần cảm động.


4. **Ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc:** Phong Điệp sử dụng ngôn từ dung dị, gần gũi, nhưng lại có khả năng chạm đến trái tim người đọc. Chính sự đơn giản đó đã làm nổi bật lên chiều sâu của câu chuyện và giá trị nhân văn.


Tóm lại, “Bát phở” là một tác phẩm ngắn gọn nhưng đầy sức mạnh, phản ánh tình cảm gia đình trong cuộc sống hiện đại. Qua những chi tiết đời thường và cách miêu tả tinh tế, Phong Điệp đã làm nổi bật lên tình cha con sâu sắc, từ đó gợi lên trong lòng độc giả sự trân trọng và yêu quý hơn những giá trị giản dị của cuộc sống. Truyện không chỉ là một lát cắt nhỏ trong đời sống, mà còn là tấm gương soi chiếu về tình yêu thương và trách nhiệm gia đình.

18 tháng 3 2025

Cô tick cho em nhé

19 tháng 4

G gvgvv

Bài làm

Phong Điệp là một trong những cây bút nữ tiêu biểu của văn học đương đại Việt Nam, người luôn dành cái nhìn đau đáu và nhân hậu cho những mảnh ghép của cuộc sống đời thường. Truyện ngắn "Bát phở" là một tác phẩm nhỏ gọn nhưng chứa đựng sức gợi lớn, đặt ra những suy ngẫm sâu sắc về tình cảm gia đình và sự va chạm giữa các giá trị sống trong xã hội hiện đại. Trước hết, chủ đề của tác phẩm xoay quanh tình mẫu tử thiêng liêng và sự cách biệt về tâm thế giữa hai thế hệ: người mẹ già từ nông thôn và người con trai đã lập nghiệp ở thành phố. Bát phở trong truyện không đơn thuần là một món ăn đặc sản, mà nó trở thành biểu tượng cho sự hy sinh, tình yêu thương và cả những khoảng trống vô hình đang lớn dần giữa những người thân ruột thịt. Người mẹ, với tâm lý chắt chiu của người nghèo, luôn muốn dành những gì tốt nhất cho con. Trong khi đó, người con lại nhìn bát phở bằng con mắt của một người thành thị bận rộn, coi đó là sự đãi bôi hoặc một nghĩa vụ cần thực hiện. Qua đó, tác giả kín đáo phê phán sự vô tâm, hời hợt của con người trong nhịp sống hối hả, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp của lòng hiếu nghĩa và sự tần tảo. Về những nét đặc sắc nghệ thuật, thành công đầu tiên của Phong Điệp chính là nghệ thuật xây dựng tình huống truyện đơn giản mà giàu sức gợi. Chỉ bằng một chuyến thăm con của mẹ và một bữa ăn ngoài quán, tác giả đã bóc tách được toàn bộ thế giới nội tâm của nhân vật. Tình huống này giống như một lát cắt đời sống, phơi bày sự đối lập giữa hai không gian: cái chân chất, lấm láp của làng quê và sự bóng bẩy, lạnh lùng của phố thị. Thứ hai, nghệ thuật khắc họa nhân vật qua tâm lý và cử chỉ vô cùng tinh tế. Người mẹ được hiện lên với những nét vẽ đầy thương cảm: đôi bàn tay thô ráp, cách ăn uống rụt rè, sự đắn đo khi nhìn giá tiền bát phở. Đối lập với đó là người con trai với vẻ ngoài lịch lãm nhưng tâm hồn dường như đang bị cuốn trôi theo những toan tính, công việc, đôi khi cảm thấy sự chân chất của mẹ là "phiền phức" hoặc "lạc lõng". Sự tương phản này tạo nên một sức căng tâm lý, khiến người đọc vừa thương, vừa giận, vừa phải tự soi lại chính mình. Thứ ba, ngôn ngữ và giọng điệu của truyện rất gần gũi, giàu tính đời thường nhưng cũng đầy chất tự sự, chiêm nghiệm. Phong Điệp không dùng những từ ngữ đao to búa lớn; bà chọn cách kể chuyện thủ thỉ, chậm rãi như đang tâm sự. Cách tác giả miêu tả mùi vị bát phở hòa quyện với những ký ức xưa cũ đã tạo nên một không gian văn học vừa thực, vừa mơ, chạm đến miền ký ức sâu kín nhất của độc giả. Cuối cùng, hình ảnh biểu tượng "Bát phở" xuyên suốt tác phẩm mang giá trị nghệ thuật cao. Nó là cái đích của sự quan tâm, là nhịp cầu nối quá khứ và hiện tại. Kết thúc truyện, bát phở có thể đã cạn nhưng dư vị về tình người, về nỗi xót xa trước sự phai nhạt của những giá trị truyền thống vẫn còn đọng lại sâu sắc. Tóm lại, bằng ngòi bút sắc sảo và trái tim nhạy cảm, Phong Điệp đã biến một câu chuyện bình dị thành một bài học nhân sinh cảm động. "Bát phở" không chỉ là một truyện ngắn về món ăn hay một chuyến đi, mà là lời nhắc nhở chúng ta đừng để nhịp sống hiện đại cuốn trôi đi những tình cảm thiêng liêng và lòng biết ơn đối với đấng sinh thành.
21 tháng 4

Truyện ngắn Bát phở của Phong Điệp đã gợi lên một câu chuyện rất giản dị nhưng chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc về tình cha con và những hi sinh thầm lặng của người cha nghèo. Qua hình ảnh hai người cha đưa con từ quê lên Hà Nội thi đại học, tác giả giúp người đọc cảm nhận rõ tình thương con mộc mạc mà lớn lao. Hai người cha không ăn phở, chỉ gọi hai bát cho con. Họ ngồi bên cạnh, nói chuyện tiền phòng trọ, tiền xe, chuyện mua bánh mì ăn tạm để tiết kiệm. Những chi tiết ấy cho thấy cuộc sống của họ còn rất khó khăn, luôn phải chắt chiu từng đồng, nhưng vẫn sẵn sàng dành điều tốt nhất cho con. Bởi vậy, chủ đề của truyện là ca ngợi tình phụ tử thiêng liêng, sự hi sinh âm thầm của cha mẹ và nhắc mỗi người con phải biết yêu thương, biết ơn đấng sinh thành.


Điểm đặc sắc của truyện trước hết là ở cách xây dựng tình huống truyện rất tự nhiên mà cảm động. Chỉ từ một quán phở giữa Hà Nội, tác giả đã làm nổi bật sự đối lập giữa sự nhộn nhịp nơi thành phố với dáng vẻ lam lũ, ít nói của những người cha từ quê lên. Tình huống “bốn người mà chỉ gọi hai bát phở” đã khiến người đọc chú ý, rồi dần hiểu ra đằng sau đó là biết bao nỗi lo toan, nhường nhịn và thương con.


Nghệ thuật miêu tả nhân vật của tác giả cũng rất tinh tế. Nhân vật không được khắc họa bằng những lời nói lớn lao mà chủ yếu hiện lên qua cử chỉ, hành động rất nhỏ. Đó là cảnh người cha kéo ghế ra ngoài ngồi, lặng lẽ chờ con ăn; là chiếc ví vải bông chần màu lam được moi ra cẩn thận; là việc đếm từng tờ hai nghìn, năm nghìn, mười nghìn để đủ tiền trả hai bát phở. Những chi tiết ấy vừa chân thực vừa ám ảnh, làm nổi bật sự nghèo khó và đức hi sinh của người cha.


Bên cạnh đó, truyện được kể theo ngôi thứ nhất qua lời của nhân vật “tôi” là người chứng kiến. Cách kể này khiến câu chuyện trở nên gần gũi, tự nhiên và đáng tin. Giọng văn nhẹ nhàng, khách quan nhưng vẫn chan chứa cảm xúc. Đặc biệt, tác giả rất thành công khi chọn những chi tiết đời thường mà giàu sức gợi. Hình ảnh hai cậu con trai lặng lẽ nhìn những đồng tiền đi ra khỏi ví cha không chỉ cho thấy sự thương cha mà còn gợi ra bài học về lòng biết ơn và trách nhiệm.


Kết lại, Bát phở là một truyện ngắn giản dị mà xúc động. Tác phẩm không chỉ làm sáng lên vẻ đẹp của tình cha con mà còn khiến người đọc thấm thía hơn những hi sinh thầm lặng của cha mẹ trong cuộc đời. Đọc truyện, ta càng hiểu rằng có những yêu thương không nói thành lời, nhưng lại sâu nặng vô cùng.


Nếu muốn, mình có thể rút bài này xuống còn khoảng 450 chữ cho dễ chép hơn.


Truyện ngắn "Bát phở" của nhà văn Phong Điệp là một lát cắt đời thường đầy xúc động về tình phụ tử và sự hy sinh thầm lặng của những người cha nghèo. Qua một tình huống giản đơn tại quán phở Hà Nội, tác giả đã khéo léo truyền tải những giá trị nhân văn sâu sắc.Chủ đề bao trùm tác phẩm là tình yêu thương vô điều kiện của cha mẹ dành cho con cái. Trong bối cảnh đưa con từ quê lên thành phố đi thi đại học – một bước ngoặt lớn của cuộc đời – hai người cha đã dồn tất cả những gì tốt đẹp nhất cho con mìnhbước vào quán phở cùng nhau, nhưng họ chỉ gọi hai bát phở kèm trứng cho hai cậu con trai. Hình ảnh hai người cha ngồi nhìn con ăn, nhường phần ngon nhất cho con cho thấy sự hy sinh tự nhiên, không tính toán.không chỉ là món ăn bồi bổ sức khỏe mà còn chứa đựng niềm hy vọng của những người làm cha, mong con "chắc bụng" để vững bước trong kỳ thi quan trọng.Phong Điệp đã sử dụng những thủ pháp nghệ thuật tinh tế để làm nổi bật tâm lý nhân vật và ý nghĩa câu chuyện.Tác giả đặt các nhân vật vào một bối cảnh đời thường (quán phở). Sự đối lập giữa không gian nhộn nhịp của quán ăn và sự "tần ngần", kiệm lời của bốn cha con tạo nên một sức nén cảm xúc lớn.Tác giả không dùng nhiều lời hoa mỹ mà tập trung vào các chi tiết đắt giá.Cái nhìn "tần ngần" của hai người cha khi xem bảng giá.Sự "nhè nhẹ gật đầu" đầy ngoan ngoãn nhưng cũng chứa đựng sự thấu hiểu của hai người con.Ánh mắt ngạc nhiên của chú bé chạy bàn ("Sao bốn người mà chỉ có hai bát?").Truyện được kể qua điểm nhìn của nhân vật "tôi" – một người khách tình cờ chứng kiến. Cách kể này tạo nên tính khách quan, khiến câu chuyện như một thước phim tư liệu chân thực, khơi gợi sự đồng cảm tự nhiên từ độc giả.Hình ảnh "hai bát phở sóng sánh được bê ra, đặt trịnh trọng trên bàn" đối lập với sự lặng lẽ của hai người cha tạo nên một điểm nhấn thị giác và cảm xúc mạnh mẽ.


23 tháng 4

Truyện ngắn “Bát phở” của nhà văn Phong Điệp là một tác phẩm giản dị nhưng giàu ý nghĩa, gợi lên nhiều suy ngẫm về tình người và những giá trị nhân văn trong cuộc sống. Qua một tình huống rất đời thường – ăn phở ở một quán nhỏ nơi Hà Nội – tác giả đã khéo léo làm nổi bật vẻ đẹp của tình cha con, sự hi sinh thầm lặng và lòng tự trọng của con người. Trước hết, chủ đề nổi bật của truyện là tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cha con sâu sắc. Hai người cha từ quê đưa con lên Hà Nội thi đại học, mang theo bao hi vọng và lo toan. Trong hoàn cảnh không mấy dư dả, họ vẫn cố gắng dành cho con những điều tốt đẹp nhất. Hình ảnh họ bước vào quán phở, lúng túng trước thực đơn, rồi cân nhắc gọi món đã thể hiện rõ sự chắt chiu, tiết kiệm. Nhưng đằng sau đó là cả một tấm lòng: họ muốn con có một bữa ăn ngon, có thêm động lực trước kì thi quan trọng. Tình yêu thương ấy không cần lời nói hoa mỹ mà thể hiện qua hành động giản dị, chân thành. Bên cạnh đó, truyện còn làm nổi bật phẩm chất đáng quý của con người, đặc biệt là lòng tự trọng và sự tinh tế trong cách ứng xử. Hai người cha dù nghèo nhưng không hề đánh mất sự dignified (tự trọng). Họ không than vãn hay tỏ ra yếu đuối mà luôn giữ thái độ điềm đạm, kín đáo. Đồng thời, cách họ cư xử với con cũng rất tế nhị, tránh để con cảm thấy áy náy hay mặc cảm. Điều này cho thấy vẻ đẹp nhân cách của những con người lao động bình dị. Không chỉ có giá trị nội dung, “Bát phở” còn gây ấn tượng bởi những nét đặc sắc nghệ thuật. Trước hết là nghệ thuật xây dựng tình huống truyện tự nhiên mà giàu ý nghĩa. Tình huống gặp gỡ trong quán phở tưởng chừng đơn giản nhưng lại là điểm giao thoa của nhiều số phận, từ đó làm nổi bật chủ đề. Ngôi kể thứ nhất qua nhân vật “tôi” cũng góp phần tạo nên sự chân thực, gần gũi, giúp người đọc cảm nhận câu chuyện như một lát cắt của đời sống. Ngoài ra, tác giả sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, đời thường nhưng giàu sức gợi. Những chi tiết nhỏ như ánh nhìn, cử chỉ, cách gọi món… đều được miêu tả tinh tế, góp phần khắc họa rõ nét tâm lí nhân vật. Đặc biệt, nghệ thuật đối thoại được khai thác hiệu quả, vừa tự nhiên vừa bộc lộ rõ tính cách và hoàn cảnh của từng nhân vật. Chính sự giản dị trong cách kể đã làm cho câu chuyện trở nên chân thật và dễ đi vào lòng người. Tóm lại, “Bát phở” là một truyện ngắn giàu giá trị nhân văn, ca ngợi tình cảm gia đình và phẩm chất tốt đẹp của con người lao động. Với nghệ thuật kể chuyện tinh tế, ngôn ngữ giản dị mà sâu sắc, tác phẩm đã để lại nhiều ấn tượng và cảm xúc trong lòng người đọc. Qua đó, mỗi chúng ta càng thêm trân trọng những tình cảm bình dị nhưng thiêng liêng trong cuộc sống.

24 tháng 4

Truyện ngắn “Bát phở” của nhà văn Phong Điệp là một tác phẩm giản dị nhưng giàu ý nghĩa, gợi lên nhiều suy ngẫm về tình người và những giá trị nhân văn trong cuộc sống. Qua một tình huống rất đời thường – ăn phở ở một quán nhỏ nơi Hà Nội – tác giả đã khéo léo làm nổi bật vẻ đẹp của tình cha con, sự hi sinh thầm lặng và lòng tự trọng của con người. Trước hết, chủ đề nổi bật của truyện là tình cảm gia đình, đặc biệt là tình cha con sâu sắc. Hai người cha từ quê đưa con lên Hà Nội thi đại học, mang theo bao hi vọng và lo toan. Trong hoàn cảnh không mấy dư dả, họ vẫn cố gắng dành cho con những điều tốt đẹp nhất. Hình ảnh họ bước vào quán phở, lúng túng trước thực đơn, rồi cân nhắc gọi món đã thể hiện rõ sự chắt chiu, tiết kiệm. Nhưng đằng sau đó là cả một tấm lòng: họ muốn con có một bữa ăn ngon, có thêm động lực trước kì thi quan trọng. Tình yêu thương ấy không cần lời nói hoa mỹ mà thể hiện qua hành động giản dị, chân thành. Bên cạnh đó, truyện còn làm nổi bật phẩm chất đáng quý của con người, đặc biệt là lòng tự trọng và sự tinh tế trong cách ứng xử. Hai người cha dù nghèo nhưng không hề đánh mất sự dignified (tự trọng). Họ không than vãn hay tỏ ra yếu đuối mà luôn giữ thái độ điềm đạm, kín đáo. Đồng thời, cách họ cư xử với con cũng rất tế nhị, tránh để con cảm thấy áy náy hay mặc cảm. Điều này cho thấy vẻ đẹp nhân cách của những con người lao động bình dị. Không chỉ có giá trị nội dung, “Bát phở” còn gây ấn tượng bởi những nét đặc sắc nghệ thuật. Trước hết là nghệ thuật xây dựng tình huống truyện tự nhiên mà giàu ý nghĩa. Tình huống gặp gỡ trong quán phở tưởng chừng đơn giản nhưng lại là điểm giao thoa của nhiều số phận, từ đó làm nổi bật chủ đề. Ngôi kể thứ nhất qua nhân vật “tôi” cũng góp phần tạo nên sự chân thực, gần gũi, giúp người đọc cảm nhận câu chuyện như một lát cắt của đời sống. Ngoài ra, tác giả sử dụng ngôn ngữ mộc mạc, đời thường nhưng giàu sức gợi. Những chi tiết nhỏ như ánh nhìn, cử chỉ, cách gọi món… đều được miêu tả tinh tế, góp phần khắc họa rõ nét tâm lí nhân vật. Đặc biệt, nghệ thuật đối thoại được khai thác hiệu quả, vừa tự nhiên vừa bộc lộ rõ tính cách và hoàn cảnh của từng nhân vật. Chính sự giản dị trong cách kể đã làm cho câu chuyện trở nên chân thật và dễ đi vào lòng người. Tóm lại, “Bát phở” là một truyện ngắn giàu giá trị nhân văn, ca ngợi tình cảm gia đình và phẩm chất tốt đẹp của con người lao động. Với nghệ thuật kể chuyện tinh tế, ngôn ngữ giản dị mà sâu sắc, tác phẩm đã để lại nhiều ấn tượng và cảm xúc trong lòng người đọc. Qua đó, mỗi chúng ta càng thêm trân trọng những tình cảm bình dị nhưng thiêng liêng trong cuộc sống.

28 tháng 4

Trong dòng chảy của văn học đương đại, Phong Điệp là cây bút luôn đau đáu với những giá trị văn hóa truyền thống giữa nhịp sống hối hả. Truyện ngắn "Bát phở" là một tác phẩm tiêu biểu, không chỉ đơn thuần miêu tả một món ăn đặc sản mà qua đó còn gửi gắm những suy ngẫm sâu sắc về tính nhân văn và sự kết nối giữa người với người. Chủ đề xuyên suốt của tác phẩm là sự trân trọng những giá trị giản dị nhưng tinh tế trong cuộc sống. Qua hình ảnh bát phở – linh hồn của ẩm thực Hà Thành – tác giả đã khéo léo khắc họa tình cảm gia đình, sự thấu hiểu giữa các thế hệ và lòng tự hào về nếp sống thanh lịch. Truyện không có những kịch tính hay biến cố dữ dội; nó nhẹ nhàng như chính hơi khói tỏa ra từ nồi nước dùng, nhưng lại có sức lay động lớn lao về cách con người ứng xử với nhau và với di sản tinh thần của cha ông. Về nét đặc sắc nghệ thuật, trước hết phải kể đến khả năng quan sát và miêu tả vô cùng tinh tế của Phong Điệp. Tác giả không chỉ tả bát phở bằng thị giác mà bằng tất cả các giác quan: màu trắng của bánh phở, sắc xanh của hành lá, vị ngọt thanh của nước dùng xương ninh và mùi thơm đặc trưng của gừng, hồi, quế. Những câu văn giàu tính tạo hình giúp độc giả như đang được thưởng thức món ăn ngay trước mắt. Nghệ thuật miêu tả này không chỉ dừng lại ở ẩm thực mà còn len lỏi vào tâm trạng nhân vật, tạo nên một không gian văn học vừa hiện thực vừa đầy chất thơ. Thứ hai, cách xây dựng nhân vật của Phong Điệp rất gần gũi và chân thực. Qua những mẩu đối thoại ngắn, những cử chỉ chăm sóc nhỏ bé, tác giả làm nổi bật lên tính cách của từng người. Đó là sự cầu kỳ, duy mĩ của người già vốn coi trọng nếp nhà, và sự tiếp nối, thấu hiểu của lớp trẻ. Ngôn ngữ trong truyện giản dị, trong sáng, mang đậm hơi thở đời thường nhưng lại được chắt lọc kỹ lưỡng, tạo nên nhịp điệu êm đềm cho câu chuyện. Cuối cùng, nét đặc sắc nằm ở sự kết hợp giữa yếu tố tự sự và trữ tình. Câu chuyện về một bát phở trở thành cái cớ để tác giả bày tỏ những triết lý nhân sinh: rằng hạnh phúc đôi khi không nằm ở những điều xa hoa, mà nằm ngay trong sự tận tâm khi chuẩn bị một bữa ăn cho người thân yêu. Tóm lại, qua truyện ngắn "Bát phở", Phong Điệp đã khẳng định phong cách nghệ thuật riêng biệt của mình: tinh tế, nhân hậu và giàu cảm xúc. Tác phẩm không chỉ là một bức tranh ẩm thực sống động mà còn là lời nhắc nhở nhẹ nhàng về việc giữ gìn "phần hồn" của văn hóa dân tộc giữa dòng đời vạn biến.

29 tháng 4

Trong dòng chảy của văn học hiện đại, nhà văn Phong Điệp luôn gây ấn tượng bằng lối viết giản dị nhưng chứa đựng sức ám ảnh sâu sắc về thân phận con người. Truyện ngắn "Bát phở" là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Qua một tình huống đời thường tại quán phở nơi thành thị, tác giả đã khắc họa thành công chủ đề về tình phụ tử thiêng liêng cùng những đặc sắc nghệ thuật tinh tế, để lại nhiều dư vị

Trước hết, về mặt nội dung, tác phẩm tập trung làm nổi bật chủ đề về sự hy sinh vô điều kiện của cha mẹ dành cho con cái. Hình ảnh hai người cha nông dân khắc khổ, mặc bộ quần áo "chỉnh chu nhất" nhưng đã cũ sờn, đưa con lên thành phố đi thi là một biểu tượng của lòng tần tảo. Giữa sự đắt đỏ của phố thị, họ chọn cách "ăn tạm bánh mì" để dành tiền mua hai bát phở bò đầy đủ dưỡng chất cho con. Hành động này không chỉ là sự nhường nhịn về vật chất mà còn là sự gửi gắm bao hy vọng, niềm tin vào tương lai của những đứa con. Qua đó, tác giả khẳng định một chân lý: tình yêu thương của cha mẹ luôn là điểm tựa vững chắc nhất, giúp con cái vượt qua những thử thách đầu đời.        Góp phần làm nên thành công của chủ đề là những nét đặc sắc về nghệ thuật. Phong Điệp rất khéo léo trong việc xây dựng các chi tiết giàu sức gợi. Hình ảnh chiếc "ví vải bông chần màu lam" và những tờ tiền lẻ "hai nghìn, năm nghìn" được người cha đếm đi đếm lại để trả tiền phở là một chi tiết cực kỳ đắt giá. Những đồng tiền lẻ ấy mang theo cả mùi vị của mồ hôi, của những mùa màng thất bát hay nỗi lo "vải sụt giá" nơi quê nhà. Ngoài ra, việc lựa chọn ngôi kể thứ nhất (nhân vật "tôi") giúp câu chuyện trở nên khách quan, chân thực, như một lời tự sự đầy cảm xúc, dễ dàng chạm đến trái tim người đọc.        Bên cạnh đó, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật qua sự im lặng cũng là một điểm sáng. Hai cậu con trai không hể hả ăn ngon mà lặng lẽ gặm nhấm sự âu lo, bởi chúng thấu hiểu nỗi nhọc nhằn của cha mình. Sự đối lập giữa không gian quán phở ồn ào và khoảnh khắc lặng im của bốn cha con đã tạo nên một sức nén cảm xúc mạnh mẽ. Câu kết của tác phẩm: "Cuộc đời này, chúng nợ những người cha hơn thế nhiều..." đã nâng tầm ý nghĩa của truyện, biến một bữa ăn bình thường trở thành bài học về đạo hiếu và sự biết ơn.        Tóm lại, với lối kể chuyện tự nhiên và ngôn ngữ giàu hình ảnh, "Bát phở" của Phong Điệp không chỉ là một bức tranh về cuộc sống mưu sinh mà còn là một bài ca về tình cha con. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta phải biết trân trọng những hy sinh thầm lặng của gia đình. Đó chính là giá trị nhân văn cao cả khiến truyện ngắn này luôn giữ được sức sống bền bỉ trong tâm trí người đọc



30 tháng 4

Trong dòng chảy của văn học hiện đại, có những tác phẩm không cần đao to búa lớn nhưng vẫn đủ sức lay động trái tim người đọc bằng những chi tiết đời thường nhất. Truyện ngắn “Bát phở” của Phong Điệp là một tác phẩm như thế. Chỉ qua một khung cảnh ngắn ngủi tại quán phở Hà Nội, tác giả đã khắc họa thành công bức tranh về tình phụ tử thiêng liêng và nỗi nhọc nhằn của những người nông dân nghèo.

Chủ đề xuyên suốt của tác phẩm chính là sự hy sinh thầm lặng của cha mẹ dành cho con cái. Hình ảnh hai người cha nông dân với bộ quần áo "không còn rõ màu sắc" bước vào quán phở sang trọng tạo nên một sự đối lập xót xa. Họ tính toán từng đồng, từng ngày thuê trọ, lo lắng từ con bò sắp đẻ đến mùa vải sụt giá, nhưng lại sẵn sàng gọi cho con bát phở ngon nhất, thêm cả trứng "cho chắc bụng". Câu nói: "Về đến quê rồi, chúng nó thích ăn gì, tha hồ ăn. Chứ trên này, chặc... chặc..." không chỉ là sự tiết kiệm mà còn là một lời nói dối đầy yêu thương để các con yên tâm ăn ngon.

Cái hay của Phong Điệp còn nằm ở việc miêu tả thái độ của những đứa con. Chúng không hào hứng, không khen ngon, mà "cặm cụi" ăn trong sự lặng lẽ. Đó là sự im lặng của sự thấu hiểu, của nỗi đau đáu khi thấy cha mình phải lắt lay đếm từng tờ tiền lẻ để trả cho một bữa ăn xa xỉ nơi phố thị. Câu văn cuối cùng: "Cuộc đời này, chúng nợ những người cha hơn thế nhiều..." chính là thông điệp nhân văn sâu sắc nhất mà tác giả muốn gửi gắm.

Về nghệ thuật, Phong Điệp đã rất thành công khi lựa chọn nhân vật "tôi" làm người dẫn chuyện. Điểm nhìn từ một người khách lạ giúp câu chuyện giữ được sự khách quan nhưng vẫn đầy ắp cảm xúc. Những chi tiết nhỏ như cái ví vải bông cũ kỹ hay hình ảnh hai người cha ngồi nhìn con ăn đã tạo nên sức ám ảnh lớn. Lối viết giản dị, không cầu kỳ về ngôn từ nhưng lại rất sắc sảo trong việc quan sát tâm lý đã giúp "Bát phở" chạm đến những ngóc ngách sâu kín nhất của lòng trắc ẩn.

Tựu trung lại, "Bát phở" không chỉ là một câu chuyện về một món ăn, mà là câu chuyện về tình người, về những hy sinh không lời của cha mẹ. Tác phẩm nhắc nhở mỗi chúng ta về giá trị của sự tử tế và lòng biết ơn trong cuộc sống bộn bề này.


1 tháng 5

Ggdwittfjhguvhugdôgjbkenôoônsoqnd w g s c r s f g ew g f st f e g h d x h r s s g h é fhj j e w h h d d hy e w ỷ e g y e dj tw f h e sj ỉ s k r s ck i c c w w h j t fs f hô d j d s x j tdj t e ss hy e â t gs q vh vc s ch zc gb hd h e f j h a w ch d s g e s k ll o p ơ qâ y jv s rhh ô wv g r ê g hr w e vư ê gyô ê ôg g ê gh r d v f a z v r e r w fr r g e a h j t j k o d s f g d j t w ag j k i y gv d e e vju t r e scj j e dv je

3 tháng 5

Cái sân nông thôn thường rộng thế nói sân trăng còn rỗng nữa

3 tháng 5

Trong dòng chảy của văn học đương đại Việt Nam, Phong Điệp là cây bút nữ để lại nhiều dấu ấn bởi lối viết tinh tế, giàu cảm xúc và thấm đẫm hơi thở đời sống. Truyện ngắn Bát phở là một tác phẩm tiêu biểu, qua một câu chuyện giản dị, đời thường đã gợi lên những suy ngẫm sâu sắc về tình người, ký ức và những giá trị nhân văn bền vững trong cuộc sống. Trước hết, Bát phở thể hiện rõ chủ đề nhân văn sâu sắc thông qua hình ảnh bát phở – một món ăn quen thuộc nhưng mang nhiều tầng ý nghĩa. Bát phở không chỉ là thức ăn nuôi sống con người mà còn là biểu tượng của sự chở che, yêu thương và gắn bó giữa người với người. Trong truyện, bát phở gắn với những số phận nhỏ bé, bình dị, những con người lam lũ nhưng giàu tình cảm. Qua đó, tác giả cho thấy trong những điều tưởng như rất tầm thường của đời sống hằng ngày vẫn ẩn chứa những rung động nhân văn lớn lao. Bát phở trở thành cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa ký ức và hiện thực, giúp con người tìm lại sự ấm áp giữa cuộc sống nhiều biến động. Bên cạnh đó, truyện còn gợi lên nỗi hoài niệm và khát vọng được yêu thương. Những nhân vật trong Bát phở không phải là những con người lớn lao, phi thường mà là những con người rất đỗi đời thường, mang trong mình những thiếu thốn về vật chất lẫn tinh thần. Chính vì thế, bát phở nóng hổi lại càng trở nên quý giá, không chỉ xoa dịu cái đói mà còn sưởi ấm tâm hồn. Qua câu chuyện, Phong Điệp gửi gắm thông điệp: trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người vẫn luôn cần đến sự quan tâm, chia sẻ; và chính tình người là điều giúp con người vượt qua những nhọc nhằn của cuộc sống. Không chỉ thành công ở chủ đề, Bát phở còn gây ấn tượng bởi nghệ thuật kể chuyện tinh tế. Trước hết, tác giả lựa chọn một chi tiết trung tâm rất đời thường – bát phở – làm trục xoay của câu chuyện. Chi tiết này được khai thác xuyên suốt, vừa cụ thể vừa mang ý nghĩa biểu tượng, tạo nên chiều sâu cho tác phẩm. Giọng văn của Phong Điệp nhẹ nhàng, chậm rãi, giàu chất tự sự và trữ tình, giúp câu chuyện thấm dần vào cảm xúc người đọc mà không cần đến những cao trào kịch tính.Ngoài ra, nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật cũng là một điểm nổi bật. Tâm trạng, cảm xúc của nhân vật được thể hiện qua những suy nghĩ thầm kín, qua ánh nhìn, cử chỉ nhỏ bé, khiến câu chuyện trở nên chân thực và gần gũi. Ngôn ngữ truyện giản dị, mộc mạc nhưng giàu sức gợi, đúng với tinh thần của đời sống mà tác phẩm hướng tới.

3 tháng 5

Bao giờ cũng thế, tình cảm gia đình luôn là đề tài giàu cảm xúc, khơi gợi nhiều cảm hứng cho sáng tạo nghệ thuật, chạm sâu vào tâm khảm của người thưởng thức. Truyện ngắn Bát phở của Phong Điệp là một trong những tác phẩm như thế - không có những biến cố gay cấn, không có những lời lẽ hoa mỹ, nhưng lại mang đến một cảm xúc lắng đọng về tình phụ tử. 

Có thể nói “Bát phở” là câu chuyện rất cảm động về tình phụ tử thiêng liêng. Tình cảm ấy được thể hiện trước hết ở sự hi sinh của những người cha dành cho con. Dù hai người cha nhà quê, hoàn cảnh chẳng khá giả gì nhưng họ vẫn bỏ công bỏ việc, cất công đưa các con lên Hà Nội thi đại học, những mong các con có tương lai xán lạn, tốt đẹp hơn. Họ vào quán và chỉ gọi phở cho các con trong khi bản mình thì nhịn. Khi gọi phở, họ còn không quên gọi thêm trứng để bồi bổ cho các con “Thêm cả quả trứng cho chắc bụng nhé”. Hai người cha đã tính đến việc các con thi xong, trên đường đi xe về quê, họ sẽ mua mấy ổ bánh mì ăn tạm. Họ đã cố gắng dành những gì tốt đẹp nhất trong khả năng của mình cho những đứa con.

Bên cạnh đó còn là tình cảm của những đứa con dành cho cha. Những người con thấu hiểu sự hi sinh âm thầm của cha. Bởi thế mà khi ăn phở, dù là một bát phở rất ngon nhưng họ không dám bình phẩm nửa lời, chỉ biết lặng lẽ ăn. Họ hiểu rằng, những người cha cũng đói, nhưng vì hoàn cảnh, những người cha chỉ dành dụm lo được cho họ. Một lời suýt soa, một tiếng khen chê về bát phở lúc này đều là điều tàn nhẫn với hai người cha. Rồi khi nhìn cha đếm những đồng tiền lẻ để trả hai bát phở, họ không giấu được tâm trạng âu lo “Chúng nhìn những đồng tiền đi ra khỏi ví của cha”. Trên gương mặt chúng hiển hiện rõ ràng nỗi âu lo, mỏi mệt. Họ biết rằng trong cuộc đời này, họ không chỉ nợ cha mình bát phở bò mà con nợ nhiều hơn thế. Điều đó có lẽ sẽ là động lực mạnh mẽ giúp họ cố gắng để có thể sống tốt hơn, có thể báo đáp công ơn cha mẹ.

Làm nên thành công của tác phẩm không chỉ có nội dung chủ đề mang tình ý sâu xa, gợi nhiều xúc cảm cho người đọc mà còn bởi nghệ thuật kể chuyện vô cùng độc đáo. Tình huống truyện giản dị nhưng giàu ý nghĩa. Câu chuyện chỉ diễn ra trong một quán phở nhưng lại gói ghém trọn vẹn những cung bậc cảm xúc về tình cha con và sự hy sinh. Hình ảnh hai người cha nghèo chắt chiu từng đồng, nhường phần ăn cho con mình đã khiến người đọc không khỏi xúc động. 

Nhà văn Phong Điệp đã khắc họa chân thực hình ảnh hai người cha với bộ quần áo đã bạc màu, chiếc ví vải cũ kỹ, cẩn thận đếm từng đồng tiền lẻ. Những chi tiết ấy đã tạo nên một bức tranh đầy xót xa về cuộc sống nghèo khó nhưng chan chứa tình yêu thương. 

Tác giả cũng rất thành công khi xây dựng được những hình ảnh mang tính biểu tượng. "Bát phở" không chỉ là một món ăn mà còn là biểu tượng của tình thương, sự hy sinh và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái. Giọng văn nhẹ nhàng, sâu lắng cũng là một nét nổi bật của tác phẩm. Tác giả không dùng những lời lẽ bi thương hay cường điệu mà chỉ kể lại câu chuyện một cách bình thản, giản dị. Chính sự chân thật ấy đã khiến người đọc cảm nhận được rõ nét hơn sự xúc động ẩn chứa trong từng câu chữ.

Với cách kể chuyện nhẹ nhàng, hình ảnh chân thực và biểu tượng giàu ý nghĩa, Bát phở của Phong Điệp đã chạm đến trái tim người đọc bằng một câu chuyện đầy cảm xúc. Truyện không chỉ là một lát cắt về cuộc sống mà còn là bài học sâu sắc về tình cha con, về sự hy sinh và lòng biết ơn. 

Qua từng câu chữ mộc mạc nhưng sâu sắc, truyện đã gợi lên những suy ngẫm sâu xa về giá trị của gia đình, về những hy sinh mà bậc làm cha làm mẹ sẵn sàng dành cho con cái. Đọc Bát phở, mỗi chúng ta có lẽ sẽ tự nhìn lại mình, để trân trọng hơn những gì cha mẹ đã làmvà suy ngẫm về những giá trị thiêng liêng trong cuộc sống.

3 tháng 5

Truyện ngắn “Bát phở” của Phong Điệp là một tác phẩm giàu tính nhân văn, nhẹ nhàng mà sâu lắng, gợi mở nhiều suy ngẫm về tình người trong cuộc sống hiện đại. Qua hình ảnh một bát phở tưởng chừng giản dị, nhà văn đã gửi gắm chủ đề về sự sẻ chia, lòng trắc ẩn và giá trị của những điều bình thường nhưng ấm áp trong đời sống. Trước hết, chủ đề nổi bật của truyện là ca ngợi tình người và sự cảm thông giữa con người với con người. “Bát phở” không chỉ là một món ăn quen thuộc mà còn là biểu tượng của sự quan tâm, yêu thương. Trong câu chuyện, hành động trao đi một bát phở thể hiện tấm lòng chân thành, sự thấu hiểu đối với hoàn cảnh khó khăn của người khác. Qua đó, Phong Điệp nhấn mạnh rằng trong cuộc sống, đôi khi chỉ cần một cử chỉ nhỏ bé cũng đủ làm ấm lòng người, giúp con người xích lại gần nhau hơn. Tác phẩm như một lời nhắc nhở: giữa nhịp sống hối hả, con người không nên trở nên vô cảm mà cần biết quan tâm, sẻ chia.

Bên cạnh đó, truyện còn thể hiện sự trân trọng những giá trị giản dị trong đời sống. Một bát phở – món ăn rất quen thuộc với người Việt – được nâng lên thành biểu tượng của tình cảm, của ký ức và sự gắn bó. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp rằng hạnh phúc không phải là những điều lớn lao xa vời, mà nằm ngay trong những điều bình dị quanh ta. Điều quan trọng là con người có biết cảm nhận và nâng niu hay không. Về phương diện nghệ thuật, truyện ngắn “Bát phở” gây ấn tượng bởi cách xây dựng tình huống truyện giản dị nhưng giàu ý nghĩa. Tình huống xoay quanh một hành động nhỏ – cho và nhận một bát phở – nhưng lại mở ra những tầng ý nghĩa sâu sắc về tâm lý và tình cảm con người. Đây là kiểu tình huống không kịch tính, không gay cấn, nhưng lại có sức gợi lớn, khiến người đọc suy ngẫm.

Ngôn ngữ của truyện cũng là một điểm đặc sắc. Phong Điệp sử dụng lối viết nhẹ nhàng, trong sáng, giàu cảm xúc. Lời văn giản dị, gần gũi với đời sống, nhưng ẩn chứa chiều sâu tâm trạng. Những chi tiết miêu tả tuy không nhiều nhưng được chọn lọc tinh tế, đủ để khắc họa rõ nét nhân vật và hoàn cảnh. Đặc biệt, hình ảnh “bát phở” được lặp lại nhiều lần như một biểu tượng xuyên suốt, tạo nên sự liên kết chặt chẽ cho tác phẩm. Ngoài ra, nghệ thuật khắc họa nhân vật trong truyện cũng rất tự nhiên. Nhân vật không được miêu tả cầu kỳ mà chủ yếu bộc lộ qua hành động và suy nghĩ. Chính sự giản dị này lại làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của con người – những con người bình thường nhưng giàu lòng nhân ái.

Một điểm đáng chú ý nữa là giọng điệu trần thuật. Tác phẩm mang giọng điệu nhẹ nhàng, trầm lắng, có phần suy tư. Không có những lời lên án gay gắt hay những triết lý khô khan, nhà văn để cho câu chuyện tự cất lên tiếng nói của nó. Điều này khiến người đọc dễ đồng cảm và tự rút ra bài học cho riêng mình. Tóm lại, “Bát phở” của Phong Điệp là một truyện ngắn giàu ý nghĩa nhân văn. Qua một chi tiết nhỏ bé trong đời sống, tác giả đã làm nổi bật chủ đề về tình người và sự sẻ chia, đồng thời thể hiện nhiều nét đặc sắc nghệ thuật trong cách xây dựng tình huống, ngôn ngữ và giọng điệu. Tác phẩm không chỉ đem lại cảm xúc ấm áp mà còn nhắc nhở mỗi người biết sống yêu thương hơn trong cuộc đời.


4 tháng 5

​Trong dòng chảy của văn học hiện đại, có những tác phẩm không cần đến những tình tiết li kì, gay cấn nhưng vẫn đủ sức chạm đến trái tim người đọc bởi sự giản dị và chân thực. Truyện ngắn "Bát phở" của nhà văn Phong Điệp là một tác phẩm như thế. Qua một lát cắt nhỏ của cuộc sống thường nhật nơi quán phở Hà Nội, tác giả đã khơi gợi sâu sắc chủ đề về tình phụ tử hy sinh thầm lặng và nỗi niềm của những người nông dân nghèo trước ngưỡng cửa cuộc đời của con cái. ​Trước hết, chủ đề của tác phẩm tập trung ca ngợi sự hy sinh vô điều kiện của cha mẹ dành cho con cái. Truyện kể về hai cặp cha con từ quê lên thành phố thi đại học. Giữa sự ồn ào, đắt đỏ của phố thị, hình ảnh hai người cha chỉ gọi hai bát phở cho hai con, còn mình thì ngồi nhìn con ăn và thầm thì tính toán chi phí phòng trọ, xe cộ đã trở thành một biểu tượng cảm động cho tình yêu thương. Chủ đề không chỉ dừng lại ở sự hy sinh vật chất – bát phở ba mươi nghìn đồng, mà còn mở rộng ra sự hy sinh về lòng tự trọng và cả cuộc đời của những người cha nông dân "thon thót" lo từng mùa vải sụt giá, lo con bò sắp đẻ lại đổ bệnh. Qua đó, tác phẩm khẳng định một chân lý: tình yêu thương của cha mẹ là điểm tựa vững chắc nhất cho mỗi người con trên con đường lập thân. ​Về nét đặc sắc nghệ thuật, trước hết phải kể đến ngôi kể và điểm nhìn. Tác giả chọn nhân vật "tôi" – một thực khách trong quán – làm người chứng kiến. Điểm nhìn khách quan này giúp câu chuyện trở nên trung thực, tự nhiên hơn. Nhân vật "tôi" đóng vai trò là chiếc gương phản chiếu, ghi lại từng cử chỉ nhỏ, từng lời thầm thì của hai người cha, từ đó khơi gợi sự đồng cảm nơi người đọc mà không cần đến những lời giáo huấn khô khan. ​Thứ hai là nghệ thuật xây dựng nhân vật và chi tiết biểu cảm. Phong Điệp rất thành công khi sử dụng những chi tiết tương phản. Đó là sự tương phản giữa vẻ "chỉnh chu nhất trong tủ quần áo" của hai người cha với sự thực là những bộ quần áo đã "không còn rõ màu sắc ban đầu của vải". Đó là sự tương phản giữa sự im lặng của hai cậu con trai "cắm cúi ăn" với sự lo toan "thon thót" của những người cha ngồi bên cạnh. Đặc biệt, chi tiết người cha "lẳng lặng moi cái ví bằng vải bông chần màu lam" và "đếm một lúc cho những tờ hai nghìn, năm nghìn" để đủ ba mươi nghìn trả tiền phở là một chi tiết đắt giá. Những tờ tiền lẻ nhăm nhúm ấy chính là mồ hôi, nước mắt và cả hy vọng của người cha gửi gắm vào tương lai của đứa con. ​Thứ ba, ngôn ngữ truyện giản dị, gần gũi nhưng giàu sức gợi. Cách tác giả sử dụng các từ ngữ mang đậm hơi thở đời sống nông thôn (mùa màng, bò đẻ, vải thiều sụt giá...) đặt trong bối cảnh quán phở Hà Nội hiện đại tạo nên một khoảng cách giàu cảm xúc. Câu văn kết thúc truyện: "Cuộc đời này, chúng nợ những người cha hơn thế nhiều..." như một nốt lặng, mở ra dư âm sâu sắc, buộc mỗi người con phải nhìn lại chính mình và sự hy sinh của đấng sinh thành. ​Tóm lại, truyện ngắn "Bát phở" của Phong Điệp là một tác phẩm nhỏ nhắn nhưng chứa đựng những giá trị nhân văn to lớn. Với nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế và sự chắt lọc chi tiết đời thường tài tình, tác giả đã viết nên một bài ca về tình cha con đầy xúc động. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta rằng, phía sau thành công của mỗi người con là đôi vai gầy và những lo toan trĩu nặng của cha mẹ.

4 tháng 5

1. Giới thiệu

  • Tác giả: Phong Điệp là nhà văn có lối viết quan sát khách quan, nhẹ nhàng nhưng giàu sức gợi.
  • Tác phẩm: "Bát phở" là một truyện ngắn cảm động, khai thác lát cắt đời thường để làm nổi bật tình phụ tử thiêng liêng và nỗi nhọc nhằn của những gia đình nông dân nơi giảng đường thi cử.

2. Phân tích chủ đề

  • Tình yêu thương, sự hy sinh thầm lặng của cha mẹ: Hai người cha chắt bóp từng đồng, nhịn ăn để con được ăn bát phở ngon, có sức đi thi. Sự hy sinh thể hiện qua bộ quần áo cũ kĩ, những tính toán chi li về tiền phòng trọ, tiền xe.
  • Nỗi lòng và gánh nặng của những đứa con: Hai cậu con trai ăn bát phở trong sự lặng lẽ, không dám khen ngon bởi chúng hiểu mỗi miếng ăn là mồ hôi, nước mắt của cha. Đó là sự trưởng thành sớm trước những nhọc nhằn của gia đình.

3. Những nét đặc sắc nghệ thuật

  • Nghệ thuật xây dựng tình huống và quan sát: Truyện không có kịch tính lớn nhưng giàu chi tiết đắt giá: chiếc ví vải bông chần, những tờ tiền lẻ 2 nghìn, 5 nghìn, hành động "kéo xích ghế ra ngoài" để thì thầm...
  • Nghệ thuật tương phản: Đối lập giữa quán phở Hà Nội ồn ã, sang trọng với sự lặng lẽ, cũ kĩ của bốn con người từ quê lên; đối lập giữa sự "ngon" của bát phở và sự "nặng" của nỗi lo toan.
  • Điểm nhìn người kể chuyện: Nhân vật "tôi" là người quan sát khách quan nhưng tràn đầy sự thấu cảm, giúp câu chuyện trở nên chân thực và sâu sắc.

4. Đánh giá và tổng kết

  • Giá trị thông điệp: Truyện nhắc nhở chúng ta về lòng biết ơn đối với cha mẹ. "Bát phở" không chỉ là món ăn, nó là biểu tượng của tình yêu thương và hy vọng.
  • Kết bài: Khẳng định tài năng của Phong Điệp trong việc khơi gợi những rung động lớn từ những điều bình giản nhất.
10 tháng 5

1973

10 tháng 5

Phân tích truyện ngắn "Bát phở" của Phong Điệp Trong dòng chảy của văn học đương đại, Phong Điệp nổi tiếng với lối viết giản dị, khách quan nhưng chứa đựng sức gợi cảm sâu sắc về những mảnh đời bình thường. Truyện ngắn "Bát phở" là một tác phẩm tiêu biểu như thế. Qua một tình huống đời thường tại quán phở Hà Nội, tác giả đã khắc họa thành công tình phụ tử thiêng liêng và những nỗi lo toan trĩu nặng của người nông dân, đồng thời gửi gắm thông điệp về lòng hiếu thảo và sự thấu hiểu. Về chủ đề, tác phẩm tập trung khai thác tình yêu thương con vô điều kiện của cha mẹ và sự thức tỉnh về trách nhiệm của con cái. Hình ảnh hai người cha đưa con lên thành phố thi đại học là một lát cắt chân thực về xã hội Việt Nam mùa thi. Chủ đề tình phụ tử không mới, nhưng ở "Bát phở", nó được hiện lên qua sự hy sinh thầm lặng. Hai người cha nhường bát phở ngon cho con, còn mình thì "thì thầm nói chuyện mùa màng", tính toán từng đồng tiền lẻ để trả tiền phòng, tiền xe. Bát phở không chỉ là món ăn, nó là biểu tượng cho tất cả những gì tốt đẹp nhất mà người cha muốn dành cho con trước ngưỡng cửa cuộc đời. Bên cạnh đó, tác phẩm còn thể hiện chủ đề về nỗi nhọc nhằn của người nông dân. Những tờ tiền lẻ "hai nghìn, năm nghìn" được rút ra từ chiếc ví vải cũ kỹ là minh chứng cho sự chắt chiu, lam lũ để đổi lấy tương lai cho con. Về những nét đặc sắc nghệ thuật, trước hết phải kể đến cách xây dựng tình huống truyện đơn giản mà giàu ý nghĩa. Câu chuyện chỉ xoay quanh việc gọi món và trả tiền, nhưng sự đối lập giữa "hai bát phở" và "bốn con người" đã tạo nên một khoảng lặng đầy xúc động. Người phục vụ ngạc nhiên, nhân vật "tôi" quan sát, còn những người cha thì thản nhiên nhịn đói để con được "chắc bụng". Nghệ thuật miêu tả tâm lý và ngoại hình nhân vật của Phong Điệp rất tinh tế. Tác giả không dùng những từ ngữ hoa mỹ mà tập trung vào những chi tiết thực: bộ quần áo "chỉnh chu nhất" nhưng đã "không còn rõ màu sắc", hay hành động "lặng lặng moi cái ví bằng vải bông chần màu lam". Những chi tiết này gợi lên sự lam lũ, chân chất của người lao động. Đặc biệt, diễn biến tâm lý của hai cậu con trai từ chỗ "cặm cụi ngồi ăn" đến khi "nhìn những đồng tiền đi ra khỏi ví của cha" với "nỗi âu lo, mỏi mệt" thể hiện sự trưởng thành trong nhận thức. Câu kết: "Cuộc đời này, chúng nợ những người cha hơn thế nhiều..." là một nốt lặng đầy sức nặng, kết tinh toàn bộ giá trị nhân văn của tác phẩm. Ngôn ngữ truyện giản dị, mang hơi thở đời sống với những lời thoại tự nhiên của người nông dân (chuyện bò đẻ, vải thiều sụt giá...). Giọng kể khách quan, điềm tĩnh của nhân vật "tôi" giúp câu chuyện không rơi vào bi lụy mà ngược lại, tạo nên một sức lan tỏa tự nhiên, khiến người đọc phải tự soi chiếu và suy ngẫm. Tóm lại, qua truyện ngắn "Bát phở", Phong Điệp đã chạm đến những rung cảm sâu xa nhất trong lòng độc giả. Tác phẩm không chỉ ca ngợi tình cha con mà còn là lời nhắc nhở về đạo làm con. Bằng nghệ thuật trần thuật điêu luyện và lòng trắc ẩn, nhà văn đã khẳng định rằng: những giá trị nhân văn cao đẹp nhất đôi khi lại nằm trong những điều bình dị nhất của cuộc đời.

Bài làm

Trong dòng chảy của văn học hiện đại, có những tác phẩm không cần đến những tình tiết giật gân hay ngôn từ hoa mỹ nhưng vẫn đủ sức làm lay động trái tim người đọc bằng những lát cắt chân thực của cuộc đời. Truyện ngắn "Bát phở" của nhà văn Phong Điệp là một tác phẩm như thế. Chỉ qua một tình huống giản dị tại quán phở Hà Nội, tác giả đã khắc họa sâu sắc chủ đề về tình phụ tử thiêng liêng và nỗi nhọc nhằn của những người nông dân nghèo nuôi con ăn học.

Trước hết, truyện ngắn tập trung khai thác chủ đề về sự hy sinh vô điều kiện của cha mẹ dành cho con cái. Hình ảnh hai người cha đưa con từ quê lên thành phố đi thi đại học hiện lên thật lam lũ: mặc những bộ quần áo "chỉnh chu nhất" nhưng thực chất đã cũ mòn, không rõ màu sắc. Sự hy sinh ấy thể hiện rõ nhất qua chi tiết hai bát phở. Giữa quán phở ồn ã, hai người cha chỉ gọi hai bát phở kèm trứng cho con, còn mình thì ngồi nhìn, trò chuyện về những nỗi lo mùa màng, giá cả và chi phí phòng trọ đắt đỏ. Câu nói: "Chúng mày ăn đi" và ý định "mua mấy tấm bánh mì lên xe ăn tạm" đã bóc trần thực tế khắc nghiệt: để con được no lòng, được "chắc bụng" trước kỳ thi quan trọng, người cha sẵn sàng nhịn đói, sẵn sàng gom góp từng đồng lẻ từ chiếc ví vải bông cũ kỹ. Ba mươi nghìn đồng cho hai bát phở - một số tiền nhỏ với nhiều người - nhưng lại là kết quả của bao mồ hôi công sức nơi quê nhà.

Bên cạnh tình cha, tác phẩm còn thể hiện tinh tế tâm trạng và sự trưởng thành trong nhận thức của những đứa con. Hai cậu con trai không hề hào hứng hay tận hưởng bát phở ngon của chốn Hà thành. Ngược lại, chúng ăn trong sự lặng lẽ, "cắm cúi", không dám khen ngon một lời. Ánh mắt chúng dõi theo những đồng tiền lẻ lẻ hai nghìn, năm nghìn đi ra khỏi ví cha chứa đựng cả sự biết ơn lẫn nỗi đau xót. Tác giả đã rất sắc sảo khi nhận ra: "Hôm nay, chúng nợ cha ba mươi nghìn đồng. Cuộc đời này, chúng nợ những người cha hơn thế nhiều...". "Ba mươi nghìn" ấy không chỉ là giá trị một bữa ăn, mà là biểu tượng cho những kỳ vọng, những hy sinh thầm lặng mà người con phải mang theo trên con đường lập nghiệp phía trước.

Về nghệ thuật, Phong Điệp đã thể hiện phong cách đặc trưng của mình qua lối kể chuyện khách quan nhưng đầy gợi cảm. Ngôn ngữ miêu tả giản dị, chú trọng vào chi tiết đắt giá như chiếc "ví bằng vải bông chần màu lam" hay hình ảnh hai người cha "nhìn tới nhìn lui cái biển ghi trên cửa quán". Cách lựa chọn ngôi kể "tôi" - một người quan sát tình cờ - giúp câu chuyện trở nên chân thực, khách quan, đồng thời tạo ra một khoảng lặng để độc giả tự suy ngẫm và cảm nhận thay vì tác giả trực tiếp đưa ra lời răn dạy. Nhịp điệu câu văn chậm rãi, lắng đọng ở phần kết thúc đã tạo nên một dư vị buồn thương nhưng ấm áp.

Tóm lại, "Bát phở" không chỉ là câu chuyện về một bữa ăn, mà là bài ca về tình yêu thương và trách nhiệm. Tác phẩm nhắc nhở mỗi chúng ta về giá trị của sự hy sinh thầm lặng từ cha mẹ và bài học về lòng biết ơn. Qua đó, nhà văn Phong Điệp một lần nữa khẳng định: sức mạnh của văn chương nằm ở việc đánh thức những tình cảm giản dị nhưng cao quý nhất trong tâm hồn con người.


12 tháng 5

Văn bản

14 tháng 5

Trong dòng văn học hiện đại truyện ngắn bác phở của Phong Điệp để lại nhiều cảm xúc bởi nội dung gần gũi và giàu ý nghĩa nhân văn. Qua hình ảnh bát phở quen thuộc, tác giả đã làm nổi bật tình cảm gia đình, sự yêu thương và điều bình dị trong cuộc sống.

Trước hết ,tác giả ca ngợi sự tình người ấm áp và Sự quan Tâm giữa những con người trong cuộc sống thường ngày, bác dở không chỉ là một món ăn quen thuộc mà còn chứa đựng tình yêu thương và sự chia sẻ. Qua đó, tác giả muốn nhắn nhủ rằng hạnh phúc đôi khi đến từ đeeeufbình vị nhỏ nhắn nhưng chân thành.

Bên cạnh giá trị nội dung, truyện còn thành công ở những nét nghệ thuật đặc sắc. Tác giả xây dựng tình huống truyện đơn giản nhưng giàu ý nghĩa giúp câu chuyện tự nhiên nhưng gần gũi nghệ thuật xây dựng chân thực qua lời nói và hành động giúp người đọc dễ đồng cảm ngoài ra ngôn ngữ truyện nhẹ nhàng giàu cảm xúc cùng hình ảnh bát phở mang ý nghĩa biểu tượng đã góp phần làm nổi bật chủ đề tác phẩm .

Tóm lại, bát phở của Phong Điệp là một truyện ngắn giàu giá trị nhân văn. Tác phẩm giúp người đọc thêm trân trọng tình cảm gia đình và những điều bình dị trong cuộc sống.




I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)Đọc văn bản sau: NHỚ HUẾ QUÊ TÔISông núi vươn dài tiếp núi sôngCò bay thẳng cánh nối đồng khôngCó người bảo Huế xa, xa lắmNhưng Huế quê tôi ở giữa lòngMười một năm trời mang Huế theoĐèo cao nắng tắt bóng cheo leoGiọng hò mái đẩy vờn mây núiMan mát sông Hương lướt đỉnh đèoTôi gặp bao người xứ Huế xaĐèn khuya thức mãi chí xông phaMở đường...
Đọc tiếp

I. PHẦN ĐỌC HIỂU (6 ĐIỂM)

Đọc văn bản sau:

NHỚ HUẾ QUÊ TÔI

Sông núi vươn dài tiếp núi sông
Cò bay thẳng cánh nối đồng không
Có người bảo Huế xa, xa lắm
Nhưng Huế quê tôi ở giữa lòng

Mười một năm trời mang Huế theo
Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo
Giọng hò mái đẩy vờn mây núi
Man mát sông Hương lướt đỉnh đèo

Tôi gặp bao người xứ Huế xa
Đèn khuya thức mãi chí xông pha
Mở đường giải phóng về quê mẹ
Dựng khắp non sông bóng xóm nhà

Có bao người Huế không về nữa
Gửi đá ven rừng chép chiến công
Có mồ liệt sĩ nâng lòng đất
Buồm phá Tam Giang gió thổi lồng

Nặng trĩu trăm năm bóng cổ thành
Bao lần máu đỏ nhuộm đồng xanh
Cờ sao ngày ấy buồn cung cấm
Sông nước xôn xao núi chuyển mình

Bao độ thu về, thu lại qua
Huế tôi thăm thẳm nhớ con xa
Mỗi lần phượng nở rung màu đỏ
Càng giục canh sương rộn tiếng gà.

Hà Nội, thu, năm 1936
(Thanh Tịnh, Thơ ca, NXB Quân đội nhân dân, 1980)

Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 6 (trình bày ngắn gọn):

Câu 1. Bài thơ “Nhớ Huế quê tôi” được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh miêu tả quê hương của tác giả trong khổ thơ thứ nhất.

Câu 3. Phân tích tác dụng của một từ tượng hình có trong bài thơ trên.

Câu 4. Trình bày cảm hứng chủ đạo của bài thơ? Căn cứ vào đâu em xác định như vậy?

Câu 5. Phân tích mạch cảm xúc của bài thơ trên.

Câu 6. Từ câu thơ “Có bao người Huế không về nữa/ Gửi đá ven rừng chép chiến công”, em hãy viết một đoạn văn (7 – 10 dòng) nêu suy nghĩ của mình về sự hi sinh cao cả của những con người đã ngã xuống cho độc lập, tự do; đồng thời liên hệ trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống ấy.

0
ĐỀ KIỂM TRA 15 PHÚTMÔN :Ngữ văn 8  Em hãy đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:            “Tùng ... tùng ... tùng ....” - tiếng trống trường vang lên gióng giả. Tôi nhanh chóng bước lên bậc thang cuối cùng hướng đến lớp học mà chỉ trong vài giây nữa thôi tôi sẽ trở thành thành viên chính thức. Bước vào lớp, tôi nhận ra đã có khá nhiều bạn đã đến sớm hơn,...
Đọc tiếp

ĐỀ KIỂM TRA 15 PHÚT

MÔN :Ngữ văn 8

 

 Em hãy đọc ngữ liệu sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:

            “Tùng ... tùng ... tùng ....” - tiếng trống trường vang lên gióng giả. Tôi nhanh chóng bước lên bậc thang cuối cùng hướng đến lớp học mà chỉ trong vài giây nữa thôi tôi sẽ trở thành thành viên chính thức. Bước vào lớp, tôi nhận ra đã có khá nhiều bạn đã đến sớm hơn, tôi nhanh chóng tìm được chỗ ngồi cho mình ở bàn đầu tiên. Mọi người nói chuyện với nhau rất nhỏ, có lẽ vì các bạn cũng giống tôi, không quen biết nhiều bạn bè trong lớp.

            - Cậu ơi! Tớ ngồi đây được không? - một bạn nữ tiến đến.

            - Cậu ngồi đi! Chỗ ấy chưa có ai ngồi cả - tôi mời bạn ấy ngồi kèm theo nụ cười thân thiện nhất có thể, vì chắc đây sẽ là người đầu tiên tôi quen trong lớp. Tôi đang mừng thầm trong bụng thì cô giáo bước vào, chắc hẳn đây là cô chủ nhiệm.”

(Nơi bắt đầu của tình bạn - Bùi Thị Hồng Ngọc)

Câu 1: Nêu nội dung chính của đoạn trích trên.

Câu 2: Nội dung đoạn trích trên khiến em liên tưởng đến văn bản nào đã học trong chương trình Ngữ văn 8, kì 1. Trình bày vài nét về tác giả của văn bản em vừa tìm được.

Câu 3: Xác định thể loại và phương thức biểu đạt của văn bản đó.

Câu 4: Phát biểu cảm nghĩ về dòng cảm xúc của nhân vật chính trong truyện ngắn em vừa tìm được trong câu 2.

Câu 5: Tìm từ tượng thanh trong đoạn văn trên

0
KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON      (1) Không có gì tự đến đâu ConQuả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựaHoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửaMùa bội thu phải một nắng hai sương.      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thườngPhải bằng cả đôi tay và nghị lựcNhư con chim suốt ngày chọn hạtNăm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi...
Đọc tiếp

KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON

      (1) Không có gì tự đến đâu Con

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa

Mùa bội thu phải một nắng hai sương.

      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Như con chim suốt ngày chọn hạt

Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.

                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi khi,

Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.

Có roi vọt khi con hư và có lỗi

Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều

 (Trích Không có gì tự đến đâu con, Nguyễn Đăng Tấn,

Lời ru vầng trăng, NXB Lao Động, 2000, tr.42)

* Chú thích:       

 - Nguyễn Đăng Tấn là một nhà báo, một nhà thơ với phong cách thơ bình dị nhưng giàu chất triết lí, thể hiện những suy ngẫm, trăn trở về tình yêu thương, về lẽ sống của con người.     

 - Bài thơ Không có gì tự đến đâu con, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ Lời ru vầng trăng, xuất bản năm 2000.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định thể thơ của đoạn trích trên.

Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra trong khổ thơ (1) những điều cần phải trải qua để có được quả ngọt, hoa thơm mùa bội thu.

Câu 3 (1,0 điểm): Nêu cách hiểu của em về nội dung của những dòng thơ sau:

Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Câu 4 (1,0 điểm): Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ thể hiện qua việc lặp lại cụm từ không có gì tự đến ở khổ thơ (1) và (2).                                         

Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của đoạn thơ trên, em hãy rút ra bài học về những việc cần làm để vượt qua khó khăn, thử thách trong hành trình khôn lớn của bản thân.

1
8 tháng 9 2025

Anh đã trả lời rồi nhé.
https://hoc24.vn/cau-hoi/khong-co-gi-tu-den-dau-con-1-khong-co-gi-tu-den-dau-conqua-muon-ngot-phai-thang-ngay-tich-nhuahoa-se-thom-khi-trai-qua-nang-luamua-boi-thu-phai-mot-nang-hai-suong-2-khong-co-gi-tu-den-d.9456420218232

KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON      (1) Không có gì tự đến đâu ConQuả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựaHoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửaMùa bội thu phải một nắng hai sương.      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thườngPhải bằng cả đôi tay và nghị lựcNhư con chim suốt ngày chọn hạtNăm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi...
Đọc tiếp

KHÔNG CÓ GÌ TỰ ĐẾN ĐÂU CON

      (1) Không có gì tự đến đâu Con

Quả muốn ngọt phải tháng ngày tích nhựa

Hoa sẽ thơm khi trải qua nắng lửa

Mùa bội thu phải một nắng hai sương.

      (2) Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Như con chim suốt ngày chọn hạt

Năm tháng bao dung nhưng khắc nghiệt lạ kì.

                (3) Dẫu bây giờ Cha Mẹ đôi khi,

Có nặng nhẹ yêu thương và giận dỗi.

Có roi vọt khi con hư và có lỗi

Thương yêu Con, đâu đồng nghĩa với nuông chiều

 (Trích Không có gì tự đến đâu con, Nguyễn Đăng Tấn,

Lời ru vầng trăng, NXB Lao Động, 2000, tr.42)

* Chú thích:       

 - Nguyễn Đăng Tấn là một nhà báo, một nhà thơ với phong cách thơ bình dị nhưng giàu chất triết lí, thể hiện những suy ngẫm, trăn trở về tình yêu thương, về lẽ sống của con người.     

 - Bài thơ Không có gì tự đến đâu con, được nhà thơ Nguyễn Đăng Tấn viết tặng con là Nguyễn Đăng Tiến vào khoảng năm 1995, khi Tiến đang học lớp 3. Bài thơ được in trong tập thơ Lời ru vầng trăng, xuất bản năm 2000.

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm): Xác định thể thơ của đoạn trích trên.

Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra trong khổ thơ (1) những điều cần phải trải qua để có được quả ngọt, hoa thơm mùa bội thu.

Câu 3 (1,0 điểm): Nêu cách hiểu của em về nội dung của những dòng thơ sau:

Không có gì tự đến dẫu bình thường

Phải bằng cả đôi tay và nghị lực

Câu 4 (1,0 điểm): Nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ thể hiện qua việc lặp lại cụm từ không có gì tự đến ở khổ thơ (1) và (2).                                         

Câu 5 (1,0 điểm): Từ nội dung của đoạn thơ trên, em hãy rút ra bài học về những việc cần làm để vượt qua khó khăn, thử thách trong hành trình khôn lớn của bản thân.

NHANH GIÚP E VỚI Ạ!!!!<3

5
8 tháng 9 2025

Câu 1 (0,5 đ): Thể thơ: thơ tám chữ (mỗi dòng có 8 chữ).

8 tháng 9 2025

Câu 2 (0,5 đ): Để có quả ngọt, hoa thơm, mùa bội thu phải trải qua thời gian tích tụ (tháng ngày tích nhựa), chịu đựng vất vả, thử thách (trải qua nắng lửa) và lao động cần cù, chịu khó (một nắng hai sương).

27 tháng 9 2025

Trong tất cả những bài thơ tự do nổi tiếng như “Sóng” – Xuân Quỳnh; “Những cánh buồm” – Hoàng Trung Thông; “Đất nước” (trích Trường ca Mặt đường khát vọng) – Nguyễn Khoa Điềm; “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải; “Ánh trăng” – Nguyễn Duy thì bài thơ Tre Việt Nam của Nguyễn Duy đã để lại trong em nhiều ấn tượng sâu lắng. Qua thể thơ tự do giản dị, nhà thơ đã khắc họa hình ảnh cây tre xanh quen thuộc của làng quê Việt Nam. Tre hiện lên không chỉ là loài cây mọc thẳng, dẻo dai, gắn bó với đồng ruộng, với mái nhà tranh mà còn là biểu tượng cho phẩm chất con người Việt Nam: cần cù, đoàn kết, kiên cường, cần cù, chịu thương chịu khó, lối sống ngay thẳng, chính trực. Đọc những câu thơ ấy, em cảm thấy như nghe tiếng nói chân thành của nhà thơ về dân tộc mình, vừa tự hào, vừa yêu thương. Đất nước ta đã phải trải qua 1000 năm Bắc thuộc và phải đi trên con đường cách mạng - đường mà dân tộc ta phải đi trong lịch sử, tre như là lũy thành, hàng rào kiên cố bảo vệ con đường cách mạng chi đất nước ta. Tre cùng dân ta trải qua bao gian khổ, cùng ra trận, giữ làng, giữ nước, như bức tường thành kiên cố - một chứng minh của lịch sử và còn là người bạn đồng hành trung thành của ông cha ta nói chung và Việt Nam nói riêng. Hình ảnh tre trong bài thơ gợi cho em tình yêu sâu sắc với quê hương, đất nước, và nhắc nhở em phải cố gắng học tập để mai sau này xây dựng cho quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh hơn.

Trong truyện Lão Hạc, Nam Cao có viết:Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm. Những người nghèo nhiều tự ái vẫn thường như thế. Họ dễ tủi thân nên rất hay chạnh lòng. Ta khó mà ở cho vừa ý họ...Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết. Một người như thế ấy!... Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!... Một người nhịn ăn để...
Đọc tiếp

Trong truyện Lão Hạc, Nam Cao có viết:

Lão không hiểu tôi, tôi nghĩ vậy, và tôi càng buồn lắm. Những người nghèo nhiều tự ái vẫn thường như thế. Họ dễ tủi thân nên rất hay chạnh lòng. Ta khó mà ở cho vừa ý họ...

Hỡi ơi lão Hạc! Thì ra đến lúc cùng lão cũng có thể làm liều như ai hết. Một người như thế ấy!... Một người đã khóc vì trót lừa một con chó!... Một người nhịn ăn để tiền lại làm ma, bởi không muốn liên lụy đến hàng xóm, láng giềng... Con người đáng kính ấy bây giờ cũng theo gót binh Tư để có ăn ư? Cuộc đời quả thật cứ một ngày một thêm đáng buồn...

Không! Cuộc đời chưa hẳn đã đáng buồn, hay vẫn đáng buồn nhưng lại đáng buồn theo một nghĩa khác.k

Những cái "buồn" của nhân vật 'tôi' thể hiện như thế nào? Qua đó em hiểu ý nghĩ của n.v tôi như thế nào?

1
GN
GV Ngữ Văn
Giáo viên
21 tháng 9 2019

* Những cái "buồn" của nhân vật tôi thể hiện trong truyện:

- Ông giáo buồn khi muốn đỡ đần, giúp đỡ lão Hạc nhưng lão nhận ra sự khó chịu của thị - vợ ông giáo. Nên từ đó lão xa ông giáo dần, từ chối gần như hách dịch sự giúp đỡ của ông giáo.

- Ông giáo buồn khi biết tin lão Hạc xin Binh Tư bả chó. Ông giáo nghĩ lão Hạc đến bước đường cùng cũng trở nên tha hóa, nối gót Binh Tư, đi bắt chó nhà hàng xóm để có miếng ăn.

- Ông giáo buồn khi hóa ra cuộc đời vẫn đáng buồn khi cái sự nghèo khiến con người dễ bị tha hóa (như Binh Tư) hoặc bị dồn vào đến bước đường cùng (như lão Hạc), phải chọn cái chết để giữ lương tri và lòng tự trọng

* Những điều "buồn" cho thấy ông giáo là người giàu tình cảm, có tấm lòng nhân đạo sâu sắc. Biết nghĩ và biết thương người. Chỉ có điều nhận thức được những điều ấy mà không đủ sức mạnh để thay đổi, chuyển suy xã hội nên chỉ biết đau lòng, khóc và thương cho những kiếp người bất hạnh.

Bài tập 1:Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một  êm dịu vô cùng. Từ ngã tư đầu trường học về đến nhà, tôi không còn nhớ mẹ tôi đã hỏi tôi và tôi đã trả lời mẹ tôi những câu...
Đọc tiếp

Bài tập 1:

Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

“Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một  êm dịu vô cùng. Từ ngã tư đầu trường học về đến nhà, tôi không còn nhớ mẹ tôi đã hỏi tôi và tôi đã trả lời mẹ tôi những câu gì....”

Câu 1: Đoạn văn trên trích trong văn bản nào? Tác giả là ai? Xác định nội dung đoạn trích trên bằng một câu văn ngắn gọn.

Câu 2: Tìm trong đoạn văn trên một trường từ vựng và gọi rõ tên trường từ vựng ấy.

Câu 3: 

Từ tình cảm của mẹ con bé Hồng trong đoạn trích, em hãy viết một đoạn văn khoảng 10 câu theo phương pháp lập luận tổng hợp – phân tích- tổng hợp để nêu suy nghĩ của em về tình mẫu tử. Trong đoạn có sử dụng một câu ghép, một thán từ (gạch chân, chú thích rõ).

4
10 tháng 11 2021

1.Trích trong văn bản " Trong lòng mẹ " ( trích hồi kí " Những ngày thơ ấu") của tác giả Nguyên Hồng 

2.Ngôi kể thứ nhất 

 PTBĐ: Biểu cảm 

3.Nội dung: Đoạn trích là những cảm xúc vô cùng sung sướng và hạnh phúc của chú bé Hồng khi gặp lại mẹ.Qua đó cho thấy nỗi nhớ và tình yêu thương mẹ của cậu bé 

10 tháng 11 2021

TL :

Tiên Nguyễn Ngọc ơi ! Tôi đúng chưa

HT

1.Tên thật : Trầm Khê    Tên hiệu: Trần Nhân Tông    Năm sinh – mất: Sinh năm 1258, mất năm 1308.   Quê quán: Quê quán : Làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.2 Trần Nhân Tông có vị trí quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam – là nhà thơ, nhà tư tưởng lớn, góp phần tạo nên nét đặc sắc cho dòng văn học Phật giáo thời Trần.3 phong cách sáng...
Đọc tiếp

1.Tên thật : Trầm Khê

    Tên hiệu: Trần Nhân Tông

    Năm sinh – mất: Sinh năm 1258, mất năm 1308.

   Quê quán: Quê quán : Làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

2 Trần Nhân Tông có vị trí quan trọng trong văn học trung đại Việt Nam – là nhà thơ, nhà tư tưởng lớn, góp phần tạo nên nét đặc sắc cho dòng văn học Phật giáo thời Trần.

3 phong cách sáng tác: Tư tưởng Phật giáo, thiền học; ·Tình yêu thiên nhiên

·  Tình yêu nước, trách nhiệm với dân tộc

  Đề tài: Giản dị, hàm súc, sâu sắc, mang đậm màu sắc thiền học.

               Kết hợp giữa tư tưởng thoát tục của đạo Phật với tinh thần nhập thế (gắn bó, quan tâm đến đời sống con người, xã hội).

4 nhung tác phẩm chính là:

  Cư trần lạc đạo phú

 

Truyền tâm lục

Sơn phòng mạn hứng

0