(4 điểm) Đọc văn bản và trả lời câu hỏi:
Bởi vì thương
[...] Hồi đó, đoàn Mây Mùa Thu về hát ở đình Tân Thuận. Hôm ấy, đoàn hát vở “Đời Cô Lựu” thiệt khuya. Ông bán khăn này còn trẻ lắm, ông đóng vai Luân, mặc bộ đồ bà ba vá chằng vá đụp, quần thì xắn ống thấp ống cao. Lúc xả giàn là tới đoạn Luân quỳ xuống ngang gối, ôm cô Lựu ngẩng mặt lên, kêu mẹ. Trời ơi, San bưng rổ khoai ế đứng nhìn mà rưng rưng nước mắt, sao mà cô Lựu ôm Luân lại gọn gàng trìu mến đến như vậy, sao Luân hạnh phúc và sung sướng đến như vậy.
Đó là lúc San ước mơ sau này lớn lên sẽ trở thành đào hát. Ừ, trở thành đào hát, không cần phải đóng vai chính, nổi tiếng làm gì, hát phụ cũng được, đóng vai ác, vai hầu gái, cung nữ, bà già cũng được… Nhưng San mê vai có má nhất. Dù người mẹ nghèo bị hắt hủi cỡ nào, người mẹ giàu có tàn nhẫn đến cỡ nào để chia cắt duyên con (như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát), nhưng có làm gì thì hết thảy đều vì quá thương con mình.
San hai mươi bốn tuổi, hai mươi bốn năm má mất. Bà chết vì sinh khó. Cha San thường say rượu, lúc say phà cái mùi hèm khăm khẳm vô mặt San: “Tại cái con vô dụng này nên tao mới khổ sở như vầy, vợ cũng chết, tiền cũng hết.”.
San cố sống để khỏi phải là đứa vô dụng. Áo cha rách, San khâu. Cha kêu buồn ói, San chạy lấy thau lại hứng, dấp khăn nóng cho người. Sáu tuổi nó đã è ạch nách cái rổ khoai luộc, xách cái thùng mía lạnh rảo chân khắp làng trên xóm dưới. Mười hai tuổi nó xin chạy bàn, rửa chén ở quán Mây Lang Thang, mười tám tuổi nó lấy chồng. Phải lấy chồng mới có tiền lễ để cha nó đổi chiếc xích lô lấy cái Hon-đa mà đời kỳ thiệt, San lấy ngay cái thằng hồi nhỏ nó ghét cay ghét đắng. Nó nhớ như in những lần mang cái thùng mía lạnh ngang qua nhà, thằng chồng nó lúc đó chừng mười, mười hai tuổi chuyên chặn nó lại, giật mía mà ăn. Có bữa San cự, thằng nọ vạch quần ra đái tỏn tỏn vô thùng mía, vừa đái vừa cười ha hả. Hôm đó, San về nhà mà trong tay không có tiền. Dì nắm tóc nó mà đánh, San có nói gì thì dì cũng không tin. Bây giờ lại lấy nhau, mỗi lần thấy chồng tụt quần, lòng San dậy lên một nỗi căm thù. Được hai tuần, San thôi, lại bỏ về quán Mây Lang Thang, nhưng không còn rửa chén mà ngồi trong mấy cái buồng vuông vuông nhỏ nhỏ để tiếp khách. Ước mơ xưa chưa bao giờ trở thành hiện thực. Những khi quán vắng, San cố ngủ cho nhiều, ngủ là khỏi thấy lòng buồn, má hi sinh cho cái phận bèo bọt này chi không biết. Ngủ để coi có mơ thấy mình trở thành đào hát không. Ngủ vì không thích tụm lại với chị em để đánh bài, bàn số đề, dũa móng tay, nặn mụn hay đi sắm áo dây, váy ngắn.
Mất gần một tháng Sáu Tâm mới nghe hết câu chuyện đời của nó. Mỗi bữa ngồi đụt nắng dưới gốc cây còng trước quán, San kể anh nghe một đoạn. Nhưng anh kép cũ không nhắc gì đến vầng hào quang cũ, chỉ San ngồi nhắc hoài, nó kêu anh dạy nghề. Sáu Tâm bảo: “Nghề hát bạc lắm.”. San bảo: "Nghề của em còn bạc hơn, bạc tại chỗ, những thằng mằn nắn mình, kêu mình bà xã ơi, cưng ơi, toàn là tụi coi khinh mình như rác. Dứt khoát, em phải trở thành đào hát như đào Điệp ở đoàn chú vậy.".
San nhớ, cô đào thiệt hiền, dân dã, tan buổi diễn để nguyên bộ áo dài nâu, cái đầu tóc bới ngồi ăn cháo vịt. Thấy San cứ tần ngần nhìn, cô hỏi San đói không. San gật đầu, không đói nhưng vẫn gật đầu. Cô gọi thêm một tô cháo, biểu San ăn đi, ngồi kế cô mà ăn. San ngồi trước tô cháo nhưng cứ nhìn cô, chỉ mong được nép vô lòng kêu tiếng má. Đào Điệp hỏi: "Con bán khoai hả, sao tan hát rồi mà không về? Khoai còn hết? Cô mua cho. Ăn xong, con mau về đi, tan hát rồi, đường tối lắm.". San nhớ hoài cái khuôn mặt dịu dàng đó, bao giờ nó cũng nghĩ, má mình còn sống dứt khoát giống như cô ấy. Nó kết luận: "Chỉ gặp một lần thôi mà em thương cổ suốt đời.".
(Lược một đoạn: Cảm động trước câu chuyện của San, Sáu Tâm quyết định dạy cô hát cải lương. Sáu Tâm vốn là một kép hát, đã cùng Điệp diễn nhiều vở diễn. Trong một lần sàn diễn bị sập, để cứu Điệp, Sáu Tâm đã bị kẹt lại trong đống đổ nát và buộc phải cắt bỏ phần chân bị hoại tử do không được chữa trị kịp thời. Về sau đoàn hát tan rã, Sáu Tâm cùng Điệp dìu dắt nhau về sống tại xóm Gò Mả. Chị mắc bệnh ung thư, giờ khối u đã đi vào não. Sáu Tâm vì thương chị mà đã làm không biết bao nhiêu là việc để kiếm tiền chạy chữa.)
May mà có San. Câu chuyện của nó làm cho cả hai người nhận ra họ đã sống một đời nghệ sĩ đầy ý nghĩa. Như San, họ chưa thay đổi được cuộc đời bất hạnh của nó, nhưng đã an ủi nó nhiều. Điệp bảo: "Em không tiếc gì đâu. Tâm đừng buồn cho em nữa, nghen.".
Chị dặn, đừng nói cho San biết chị sống với anh, lại bịnh hoạn như vầy. “Nó đã giữ trong lòng một hình ảnh đẹp để ước mơ, mình đừng phá hư đi.”. Nhưng rồi một đêm chị không ngủ mà nằm nghe trái tim anh đập từng nhịp gấp rãi, anh đang sống, chị nói với lòng, cái cơ thể này đang sống, mình nỡ nào để anh tạnh nguội theo mình. Vô tình, chị nghĩ tới San.
Bất ngờ, một buổi trưa, San tới. Hôm đó, Sáu Tâm không đi bán mà ở nhà lợp lại cái mái che đằng trước, lúc này trời trở gió, mưa cứ tạt vô hoài. Anh còn kịp chạy lại lấy cái khăn vắt lên đầu giường đội lên đầu cho chị như vẫn thường làm khi khách đến nhà. San hơi khựng lại, nhưng nó nhận ra cô đào Điệp năm nào. Vẫn còn đó một đôi mắt hiền, hơi ướt, dịu dàng:
- San phải không?
Và còn đó một giọng nói mềm như lá lụa non.
[...] Sau này, mỗi khi rảnh, dù Sáu Tâm còn kéo cái bội áo khăn đi lang thang trên đường phố, San cũng lại nhà. Căn nhà mà hồi mới thấy xa xa, nó tưởng là nhà của mình. Bây giờ, lại đó, San quét nhà, nấu cơm, đợi Điệp ngủ San kéo mền tới cằm cho chị rồi lượm những sợi tóc buồn xơ xác như những chiếc lá lìa cành đem giấu đi. Bữa trưa đầy gió, chị biểu San đem lược lại chị chải tóc cho. Nó có mái tóc hệt chị ngày còn trẻ. “Tụi mình có nhiều cái giống nhau nghen. Chị cũng không có má, lớn lên trong trại mồ côi. Chị đến với sân khấu để vay mượn những thâm tình mà mình chưa hề có. Hồi nhỏ chị cũng cực lắm, nhưng không đến nỗi sa chân như San. Chị em mình còn một chuyện giống nhau nữa, đố San biết? Tụi mình cùng thương anh Sáu, thương lắm, phải không?”. San ngơ ngác hết mấy giây rồi lắc đầu. Chị bảo đừng giấu chị. “Ừ nếu không chê Tâm tàn tật thì bao giờ chị đi cho chị gởi lại. Em làm lại cuộc đời đi, Tâm rộng lòng lắm, không chấp nhứt chuyện này nọ đâu. Tâm dễ tánh. Mặc gì cũng được, ăn gì cũng xong. Con người đàng hoàng, nghệ sĩ mà đàng hoàng, không phù phiếm, buông thả. Kiếm người tin được không phải dễ đâu, San.”.
San không trả lời, không thể nói dối rằng: “Thôi!”, nhưng cũng không thể gật đầu cái rụp. Có phải là trao trái chanh, trái bưởi cho nhau đâu mà một người đàn bà trao người mình yêu thương nhứt cho một người đàn bà.
Sáu Tâm không biết chuyện này. Tối lại nằm gối đầu lên tay anh, chị bảo: “San nó thương anh lắm.”. Anh cười: “Tôi bây giờ đã thành ông già, còn cô nhỏ đó…”, chị cũng cười: “Có sao, như Tâm với em.”. Sáu Tâm biểu: “Ngủ à nghe.”. Nhưng chị biết anh vẫn thức bởi những ý nghĩ mới mẻ trong lòng. Chị thì ngủ, giấc cuối cùng, sâu thiệt là sâu. Đắp cỏ muôn đời.
… San bỏ quán Mây Lang Thang, chiều chiều ngồi bán chuối, khoai lang nướng mỡ hành bán ngoài cổng nhà văn hóa. Hỏi về giấc mơ trở thành đào hát, nó cười đã bỏ lâu rồi. Đi hát lỡ nổi tiếng, thí dụ thôi nghe, người ta biết lúc trước tôi từng làm tiếp viên quán bia thì nhơ danh cả một giới nghệ sĩ, làm người ta mất cảm tình với cải lương, vậy khác nào hại cả nền sân khấu nước nhà.
Cũng giống như phim tình cảm, đôi khi người ta vì yêu mà rứt ruột lìa xa người mình yêu. Biết làm sao, hoàn cảnh vậy mà.
(Nguyễn Ngọc Tư)
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?
Câu 2. Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri hay hạn tri?
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của thành phần chêm xen trong đoạn văn sau:
Đó là lúc San ước mơ sau này lớn lên sẽ trở thành đào hát. Ừ, trở thành đào hát, không cần phải đóng vai chính, nổi tiếng làm gì, hát phụ cũng được, đóng vai ác, vai hầu gái, cung nữ, bà già cũng được… Nhưng San mê vai có má nhất. Dù người mẹ nghèo bị hắt hủi cỡ nào, người mẹ giàu có tàn nhẫn đến cỡ nào để chia cắt duyên con (như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát), nhưng có làm gì thì hết thảy đều vì quá thương con mình.
Câu 4: Phân tích tác dụng của điểm nhìn trần thuật trong đoạn văn sau:
Những khi quán vắng, San cố ngủ cho nhiều, ngủ là khỏi thấy lòng buồn, má hi sinh cho cái phận bèo bọt này chi không biết. Ngủ để coi có mơ thấy mình trở thành đào hát không. Ngủ vì không thích tụm lại với chị em để đánh bài, bàn số đề, giũa móng tay, nặn mụn hay đi sắm áo dây, váy ngắn.
Câu 5: Văn bản này để lại trong em những cảm nhận, suy nghĩ gì?
Câu 1. **Văn bản trên thuộc thể loại nào?** Văn bản trên thuộc thể loại **truyện ngắn**. Câu 2. **Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri hay hạn tri?** Người kể chuyện trong văn bản là **người kể chuyện toàn tri**. Điều này thể hiện qua việc người kể biết hết các sự kiện, suy nghĩ, cảm xúc của các nhân vật, đặc biệt là những suy nghĩ sâu kín của nhân vật San và những diễn biến trong đời sống của họ. Câu 3. **Chỉ ra và nêu tác dụng của thành phần chêm xen trong đoạn văn sau:** Đoạn văn: > Đó là lúc San ước mơ sau này lớn lên sẽ trở thành đào hát. Ừ, trở thành đào hát, không cần phải đóng vai chính, nổi tiếng làm gì, hát phụ cũng được, đóng vai ác, vai hầu gái, cung nữ, bà già cũng được… Nhưng San mê vai có má nhất. Dù người mẹ nghèo bị hắt hủi cỡ nào, người mẹ giàu có tàn nhẫn đến cỡ nào để chia cắt duyên con (như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát), nhưng có làm gì thì hết thảy đều vì quá thương con mình. - Thành phần chêm xen: **(như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát)** - Tác dụng: Thành phần chêm xen này giúp làm rõ và cụ thể hóa ý nghĩa của "người mẹ" trong các tuồng cải lương mà San yêu thích. Câu chêm xen nhấn mạnh sự gắn kết giữa tình mẫu tử và các vai diễn trong tuồng cải lương, qua đó thể hiện lòng thương yêu của người mẹ, dù hoàn cảnh có khó khăn đến đâu. Câu 4. **Phân tích tác dụng của điểm nhìn trần thuật trong đoạn văn sau:** Đoạn văn: > Những khi quán vắng, San cố ngủ cho nhiều, ngủ là khỏi thấy lòng buồn, má hi sinh cho cái phận bèo bọt này chi không biết. Ngủ để coi có mơ thấy mình trở thành đào hát không. Ngủ vì không thích tụm lại với chị em để đánh bài, bàn số đề, giũa móng tay, nặn mụn hay đi sắm áo dây, váy ngắn. - **Điểm nhìn trần thuật**: Trong đoạn văn này, điểm nhìn trần thuật là từ góc nhìn của nhân vật San, tức là **nhân vật trần thuật nội tâm**. San đang tự suy nghĩ, tự giãi bày cảm xúc của mình về cuộc sống, về ước mơ và sự buồn bã của bản thân. - **Tác dụng**: Việc sử dụng điểm nhìn này giúp người đọc cảm nhận sâu sắc tâm trạng và suy nghĩ của San. Nó thể hiện được sự cô đơn, nỗi buồn và ước mơ vươn lên của nhân vật, đồng thời làm nổi bật sự khác biệt giữa cuộc sống của San và những người xung quanh (như chị em chơi bài, đánh số đề…). Cảm giác mơ mộng và khát khao thoát khỏi thực tại khổ cực càng được làm rõ. Câu 5. **Văn bản này để lại trong em những cảm nhận, suy nghĩ gì?** Văn bản này để lại trong em những cảm nhận về **sự bất hạnh** và **khát khao đổi đời** của nhân vật San. Qua cuộc sống của San, em thấy được sự vất vả, hi sinh, và sự mong mỏi tìm kiếm một lối thoát khỏi nghèo khó và đau khổ. Tuy nhiên, ước mơ của San không dễ dàng trở thành hiện thực, và có lẽ trong một thế giới đầy bất công và khó khăn như vậy, không phải ai cũng có thể đạt được điều mình mong muốn. Đồng thời, câu chuyện cũng khiến em suy nghĩ về **giá trị của tình người** trong cuộc sống, khi San gặp những người như cô đào Điệp và Sáu Tâm, những người không ngần ngại giúp đỡ và an ủi cô, dù bản thân họ cũng phải đối mặt với nhiều đau khổ.
Câu 1
Thể loại :truyện ngắn
Câu 2
Người kể chuyện :là người kể chuyện toàn chi
Câu 3
-Tính chêm xen là :"(như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát)"
-Tác dụng +bổ sung giải thích xã hội hơn cho ý trước đó
+Làm cho câu văn sinh động gần gũi với đời sống
+Thể hiện sự am hiểu và liên tưởng của người kể chuyện
Câu 4
- điểm nhìn chân thật được đặt vào nhân vật San
-Tác dụng +giúp người đọc hiểu rõ tâm trạng của San
+Làm nổi bật cuộc đời bất hạnh và ước mơ làm hát đào của cô
+Tăng tính chân thật và cảm xúc cho câu chuyện giúp người đọc đồng cảm với nhân vật
Câu 5
Văn bản để lại nhiều cảm xúc sâu sắc về tình cảm yêu thương giữa con người với con người. Dù cuộc sống của các nhân vật nhiều đau khổ và bất hạnh nhưng họ vẫn luôn quan tâm, hi sinh và vì nhau sống. Tình thương của Sáu Tâm, Điệp dành cho San và sự hi sinh thầm lặng của San cho thấy tình người vẫn luôn tồn tại và sưởi ấm trong cuộc đời. Qua đó, tác giả cũng gợi cho người đọc suy nghĩ rằng tình yêu thương có thể giúp con người vượt qua khó khăn và sống ý nghĩa hơn
Câu 1 : Truyện ngắn
Câu 2 : Người kể chuyện trg văn bản là người kể chuyện toàn tri
Câu 3
- Thành phần chêm xen “ như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát “
- Tác dụng
+ Tạo giọng điệu gần gũi đồng thời thể hiện sự gắn kết giữa cuộc đời thực của nhân vật và thế giới nghệ thuật mà San đam mê
+ Bổ sung thông tin làm rõ hình ảnh “ chia cắt duyên con “ thườn thấy trong các kịch bản sân khấu , giúp người đọc dễ liên tưởng
Câu 4
- Điểm nhìn trần thuật được đặt vào bên trong nhân vật San
- Tác dụng :
+ Về nội dung: giúp diễn tả sâu sắc tâm trạng cô đơn buồn tủi và sự cam chịu của San . Việc “ cố ngủ cho nhiều “ để “ khỏi thấy lòng buồn” cho thấy một nỗ lực trốn tránh thực tại cay đắng
+ Về nghệ thuật: làm cho câu chuyện trở nên chân thực, giàu sức gợi cảm và dễ chạm đến lòng trắc ẩn của ng đọc khi trực tiếp chứng kiến những suy nghĩ vụn vỡ , tội nghiệp của nhân vật
Câu 1: văn bản thuộc thể loại tản văn
Câu 2 : Người kể chuyện toàn tri.
Câu 3 Thành phần chêm xen: “(như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát)”. Tác dụng: Bổ sung, giải thích rõ hơn cho ý trước đó về việc người mẹ giàu có tàn nhẫn chia cắt duyên con. Tạo sự liên tưởng cụ thể, sinh động, giúp người đọc dễ hình dung. Làm cho lời văn tự nhiên, gần gũi và tăng tính biểu cảm. Câu 4 Điểm nhìn trần thuật: đặt theo nhân vật San (người kể nhìn sự việc qua suy nghĩ và cảm xúc của San). Tác dụng: Giúp người đọc hiểu rõ tâm trạng, suy nghĩ và ước mơ của San (buồn, thương mẹ, mong trở thành đào hát). Làm cho câu chuyện chân thực và giàu cảm xúc hơn vì người đọc được tiếp cận trực tiếp thế giới nội tâm của nhân vật. Tăng sự đồng cảm của người đọc với hoàn cảnh và khát vọng của San.
Câu 5 :Văn bản giúp em hiểu sâu sắc giá trị của tình yêu thương, đặc biệt là tình mẹ, từ đó nhắc nhở bản thân phải sống tốt và biết trân trọng những người thân yêu.
Câu 1.
Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn.
Câu 2.
Người kể chuyện là người kể chuyện hạn tri
Câu 3
1. Gọi tên và chỉ ra thành phần chêm xen
Thành phần chêm xen: (“như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát”)
Vị trí: nằm trong câu:
“Dù người mẹ nghèo bị hắt hủi cỡ nào, người mẹ giàu có tàn nhẫn đến cỡ nào để chia cắt duyên con (như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát)…”
2. Tác dụng
Về nội dung:
Làm rõ ý so sánh với những tình tiết quen thuộc trong các tuồng cải lương (mẹ chia cắt tình yêu của con), từ đó nhấn mạnh rằng dù hoàn cảnh nào thì hành động của người mẹ cũng xuất phát từ tình thương con.
Về hình thức:
Tạo giọng văn tự nhiên, gần gũi, giống như lời trò chuyện, giúp câu văn sinh động và giàu sắc thái biểu cảm.
Thái độ, tình cảm của tác giả:
Thể hiện sự cảm thông, thấu hiểu đối với người mẹ và tình mẫu tử.
Thông điệp:
Hãy nhìn nhận hành động của cha mẹ bằng sự cảm thông, bởi nhiều khi mọi điều họ làm đều xuất phát từ tình yêu thương con cái.
Câu 4
1. Điểm nhìn trần thuật
Đoạn văn được kể theo điểm nhìn trần thuật gắn với nhân vật San (ngôi thứ ba nhưng đi sâu vào suy nghĩ của nhân vật).
Biểu hiện qua những câu thể hiện suy nghĩ, cảm xúc của San:
“San cố ngủ cho nhiều… Ngủ để coi có mơ thấy mình trở thành đào hát không. Ngủ vì không thích tụm lại với chị em…”
2. Tác dụng
Về nội dung:
Giúp người đọc hiểu rõ tâm trạng, suy nghĩ và ước mơ của San: buồn bã, chán nản với cuộc sống hiện tại nhưng vẫn nuôi ước mơ trở thành đào hát.
Về hình thức:
Làm cho lời kể trở nên chân thực, gần gũi, tạo cảm giác người đọc đang trực tiếp đi vào thế giới nội tâm của nhân vật.
Thái độ, tình cảm của tác giả:
Thể hiện sự cảm thông, thương xót trước hoàn cảnh và khát vọng nhỏ bé nhưng mãnh liệt của San.
Thông điệp:
Dù cuộc sống khó khăn, con người vẫn luôn nuôi dưỡng những ước mơ và khao khát thay đổi số phận.
Câu 5.
Văn bản để lại nhiều cảm xúc sâu sắc:
Thương cảm cho những con người có số phận bất hạnh như San, Sáu Tâm, Điệp.
Trân trọng vẻ đẹp của tình người, sự hi sinh và lòng yêu thương dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt.
Nhận ra rằng ước mơ đôi khi không thành hiện thực, nhưng con người vẫn có thể sống có ý nghĩa nhờ tình thương.
Gợi suy nghĩ về giá trị của nhân phẩm, sự cảm thông và cách con người lựa chọn hi sinh vì người khác.
Câu 1:
Thể loại truyện ngắn
Câu 2:
Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri.
Câu 3:
- Bổ sung thông tin làm rõ hơn cho ý "người mẹ nghèo hắt hủi" hay "người mẹ giàu tàn nhẫn" bằng cách so sánh với các tình tiết quen thuộc trong cải lương. - Tạo sắc thái biểu cảm thể hiện cái nhìn thực tế, có chút liên tưởng gần gũi với đời sống văn hóa của nhân vật, giúp người đọc dễ hình dung hơn về hoàn cảnh và tâm trạng của nhân vật San.
Câu 4:
- Tác dụng:
+, Khắc họa sâu sắc tâm trạng: Điểm nhìn này giúp người đọc thấu hiểu nỗi buồn man mác, sự chán chường và cả những khao khát thầm kín của San ("ngủ là khỏi thấy lòng buồn", "mơ thấy mình trở thành đào hát"). Làm nổi bật tính cách: Qua những suy nghĩ về việc không thích "tụm lại đánh bài", "bàn số đề" hay "sắm áo dây", ta thấy được San là một cô gái có tâm hồn thuần khiết, khác biệt và có phần lạc lõng giữa môi trường xô bồ xung quanh. +, Tăng tính chân thực và đồng cảm: Việc trần thuật từ suy nghĩ của nhân vật giúp câu chuyện trở nên gần gũi, khiến người đọc dễ dàng đồng cảm với thân phận "bèo bọt" và nỗi lòng của người con hiếu thảo nhưng đầy trăn trở.
Câu 5:
- Văn bản mang lại cho người đọc nhiều cung bậc cảm xúc và suy ngẫm sâu sắc:
- Sự thương cảm cho thân phận con người: Đoạn văn gợi lên nỗi xót xa cho những kiếp người nhỏ bé, trôi dạt (phận "bèo bọt"). Nhân vật San hiện lên với vẻ cam chịu nhưng vẫn giữ được sự tự trọng và những ước mơ giản dị.
Vẻ đẹp của tâm hồn trong nghịch cảnh: Dù sống trong môi trường phức tạp (quán vắng, những thói hư tật xấu xung quanh), San vẫn chọn cách "ngủ" để giữ mình sạch trong, để được sống với ước mơ làm "đào hát". Điều này cho thấy sức mạnh của những giá trị tinh thần tốt đẹp. - Tình mẫu tử: Câu hỏi tu từ "má hi sinh cho cái phận bèo bọt này chi không biết" chứa đựng cả lòng biết ơn lẫn nỗi đau xót. Nó nhắc nhở chúng ta về sự hy sinh vô điều kiện của cha mẹ và nỗi trăn trở của những đứa con khi chưa thể đáp đền.
Câu 1:
Văn bản thuộc thể loại truyện ngắn.
Câu 2:
Người kể chuyện là người kể chuyện toàn tri (biết rõ suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật như San).
Câu 3:
Câu 4:
Câu 5:
Văn bản để lại cho em:
câu1:truyen ngắn(tự sự)
câu2:Nguoi kể chuye toan tri
câu3: giải thích,bổ sung thông tin và tăng tính biểu cảm
câu4: làm nổi bật nội tâm San,tăng tính chân thuc và cảm xúc
Em cảm thấy thương xót cho số phận của San – một cô gái có tâm hồn đẹp nhưng lại bị đặt vào một môi trường đầy rẫy những điều tầm thường, dung tục. San như một "bông hoa sen" giữa bùn lầy, dù sống trong quán xá ồn ào nhưng vẫn giữ được những khao khát riêng và sự xa cách với thói hư tật xấu.Văn bản giúp em hiểu thêm về những phận đời "bèo bọt" trong xã hội. Nó nhắc nhở chúng ta cần có cái nhìn thấu cảm, trân trọng đối với những con người dù trong hoàn cảnh khó khăn vẫn không bị tha hóa về tâm hồn.Đoạn văn gợi lên một nỗi buồn man mác, đặc trưng của văn phong Nguyễn Ngọc Tư. Nỗi buồn ấy đến từ việc con người phải dùng giấc ngủ để "trốn" đời, để tìm thấy một chút hy vọng nhỏ nhoi trong những giấc mơ .
Câu 1: Văn bản trên thuộc thể loại nào?Văn bản trên thuộc thể loại truyện ngắn (đặc trưng qua phong cách ngôn ngữ mộc mạc, đậm chất Nam Bộ của Nguyễn Ngọc Tư).Câu 2: Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri hay hạn tri?Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện hạn tri.Giải thích: Người kể chuyện ẩn mình (ngôi thứ ba) nhưng điểm nhìn chủ yếu tập trung vào suy nghĩ, cảm xúc và cuộc đời của nhân vật San, không thấu thị hết mọi ngóc ngách tâm hồn của tất cả các nhân vật khác một cách tuyệt đối như người kể chuyện toàn tri.Câu 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của thành phần chêm xen trong đoạn văn sau:"Đó là lúc San ước mơ sau này lớn lên sẽ trở thành đào hát. Ừ, trở thành đào hát, không cần phải đóng vai chính, nổi tiếng làm gì, hát phụ cũng được, đóng vai ác, vai hầu gái, cung nữ, bà già cũng được... Nhưng San mê vai có má nhất. Dù người mẹ nghèo bị hắt hủi cỡ nào, người mẹ giàu có tàn nhẫn đến cỡ nào để chia cắt duyên con (như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát), nhưng có làm gì thì hết thảy đều vì quá thương con mình."Thành phần chêm xen: (như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát)Tác dụng:Bổ sung thông tin, làm rõ bối cảnh cho những tình huống kịch tính (mẹ nghèo bị hắt hủi, mẹ giàu tàn nhẫn) mà nhân vật San đang liên tưởng tới.Giúp câu văn trở nên gần gũi, gợi hình ảnh thực tế về bộ môn nghệ thuật cải lương trong đời sống.Thể hiện sự quan sát và tâm hồn nhạy cảm của nhân vật San đối với những gì diễn ra xung quanh.Câu 4: Phân tích tác dụng của điểm nhìn trần thuật trong đoạn văn sau:"Những khi quán vắng, San có ngủ cho nhiều, ngủ là khỏi thấy lòng buồn, mà hi sinh cho cái phận bèo bọt này chị không biết. Ngủ để coi có mơ thấy mình trở thành đào hát không.
Ngủ vì không thích túm tụm lại với chị em để đánh bài, bàn số đề, giũa móng tay, nặn mụn hay đi sắm áo váy vớ vẩn."Phân tích: Điểm nhìn trần thuật ở đây đặt vào nội tâm nhân vật San.Tác dụng:Lột tả sâu sắc nỗi cô đơn, sự lạc lõng của San giữa môi trường thực tại (quán xá, những trò giải trí tầm thường của các chị em khác).Làm nổi bật khát khao mãnh liệt và trong sáng của San (ước mơ làm đào hát) đối lập với thực tại "phận bèo bọt".Tạo sự đồng cảm, xót xa cho người đọc trước một tâm hồn đầy trăn trở và mong ước thoát ly khỏi nghịch cảnh.Câu 5: Văn bản này để lại trong em những cảm nhận, suy nghĩ gì?Câu này bạn nên trả lời theo cảm xúc cá nhân, có thể tham khảo hướng sau:Sự xúc động: Trước những mảnh đời nhỏ bé, trôi dạt nhưng vẫn ấp ủ những ước mơ thuần khiết (như nhân vật San muốn làm đào hát để được thể hiện tình mẫu tử).Sự trân trọng: Những giá trị văn hóa truyền thống (cải lương) vẫn âm thầm sống và là nơi trú ngụ tâm hồn cho những con người nghèo khổ.Suy ngẫm: Về số phận con người trong xã hội, về nghị lực sống và cách con người giữ gìn sự lương thiện, mơ ước giữa hoàn cảnh khó khăn.
Em thấy hffufufufugudutui
Câu1: truyện ngắn
Câu2: người kể chuyện toàn trị
Câu3:
a) ừ trở thành đào hát không cần phải đóng vai chính nổi tiếng làm gì hát vụ cũng được đóng vai ác vai hầu gái cung nữ bà già cũng được ...
b) như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát
Tác dụng : a)giúp cụ thể hóa ước mơ của san cho thấy sự hồn nhiên chân thật và niềm đam mê nghệ thuật
Tác dụng: b) dùng để chú thích làm rõ hơn cho nội dung phía trước
Câu4:
+Thể hiện nội tâm sâu sắc
+Tạo sự khách quan nhưng đầy đồng cảm
+ Làm nổi bật chủ đề
Câu5 : xót xa cho những phận đời, trân trọng vẻ đẹp tâm hồn suy nghĩ về tình thân
câu1:truyen ngắn(tự sự)
câu2:Nguoi kể chuye toan tri
câu3: giải thích,bổ sung thông tin và tăng tính biểu cảm
câu4: làm nổi bật nội tâm San,tăng tính chân thuc và cảm xúc
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại: Truyện ngắn. Câu 2. Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri (ngôi thứ ba, biết hết mọi suy nghĩ, cảm xúc và hành động của các nhân vật). Câu 3. * Thành phần chêm xen: "(như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát)". Tác dụng: * Giúp bổ sung thông tin, làm rõ hơn cho nội dung phía trước (về việc những người mẹ trong kịch bản thường chia cắt duyên con cái). Tạo giọng điệu gần gũi, mang đậm chất đời thường và hơi thở văn hóa miền Tây Nam Bộ. Thể hiện cái nhìn hóm hỉnh nhưng cũng đầy thấu hiểu của tác giả về các tình huống trớ trêu trong nghệ thuật và đời thực. Câu 4. Tác dụng của điểm nhìn trần thuật: Điểm nhìn: Tác giả sử dụng điểm nhìn bên trong Tác dụng: * Diễn tả một cách sâu sắc và tinh tế những khát khao, mơ ước bình dị nhưng đầy lòng nhân hậu của nhân vật San. Giúp người đọc thấu hiểu được nội tâm nhân vật: San không cầu danh lợi, chỉ muốn được sống với đam mê và sự trắc ẩn dành cho những thân phận phụ nữ trên sân khấu. Tăng sức truyền cảm, tạo sự đồng cảm giữa độc giả và nhân vật.
Câu 5:Văn bản Bởi vì thương là những suy ngẫm đầy nhân văn về những nghịch lý của tình thân. Qua hình ảnh nhân vật San với ước mơ làm đào hát chỉ để đóng những vai phụ, vai ác, tác giả kh định rằng: đằng sau những lựa chọn gây đau đớn hay những sự chia lìa trớ trêu, đôi khi lại là một tình yêu thương vô bờ bến. Tác phẩm nhắc nhở chúng ta hãy nhìn cuộc đời bằng đôi mắt bao dung để thấu hiểu rằng, có những người chấp nhận đóng "vai ác" trong đời thực cũng chỉ vì muốn bảo vệ và dành trọn sự yêu thương cho người thân của mình.
Béo
Câu 1
truyện ngắn
câu2
câu 3
câu 4
câu 5
Truyện ngắn
Toàn tri
San là 1 cô gái đáng thương,mẹ mất sớm,cha mắng chửi. Cô vẫn đi làm kiếm tiền,mà cái nghề nó bạc. Nhưng chị Điệp - cô đào hát đã cho San bát cháo,bao lạu hàng khoai của cô. Chị ấy bị bệnh, thương Sáu Tâm và cũng nhận ra San thương Tâm nên cũng muốn anh có người bên cạnh. San về sau không trở thành đào hát, sợ mang tiếng về nghề trong quá khứ, cũng thật đáng thương.
Câu 1: truyện ngắn
Câu 2:người kể chuyện toàn tri
Câu 3: "Ừ, trở thành đào hát", "(như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát)".
Câu 4: Điểm nhìn bên ngoài kết hợp bên trong
Tác dụng:Khắc họa nội tâm nhân vật
Tạo sự đồng cảm
Tăng tính khách quan và chân thực
Câu 5: Sự thấu hiểu về tình mẫu tử
Nỗi xót xa cho những mảnh đời trôi dạt
Bài học về cái nhìn đa chiều
C1 thể loại:Truyện ngắn
C2
Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri (ngôi thứ ba). Lý do: Người kể giấu mặt, không tham gia vào câu chuyện nhưng lại thấu hiểu được suy nghĩ, cảm xúc và ước mơ thầm kín của nhân vật San (như việc San ước mơ trở thành đào hát, hay cảm nhận của San về vai "má").
C3
Trong đoạn văn trên, có hai thành phần chêm xen tiêu biểu: Thành phần 1: Ừ, trở thành đào hát Thành phần 2: (như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát) 2. Tác dụng Đối với thành phần "Ừ, trở thành đào hát": Thể hiện sự xác nhận, tự nhủ hoặc một dòng suy nghĩ miên man của nhân vật San. Giúp lời văn trở nên gần gũi, giống như lời nói tự nhiên, bộc lộ trực tiếp tâm trạng và ước mơ bình dị của nhân vật. Đối với thành phần nằm trong ngoặc đơn: Bổ sung thông tin: Giải thích rõ hơn về kiểu nhân vật "người mẹ" (người mẹ nghèo bị hắt hủi hay người mẹ giàu tàn nhẫn) thường xuất hiện trong các vở cải lương thời bấy giờ. Tạo sự kết nối: Giúp người đọc dễ dàng hình dung ra bối cảnh văn hóa và nguồn gốc của những suy nghĩ, mơ ước mà nhân vật San đang có.
C4
Đoạn văn sử dụng điểm nhìn từ nhân vật San (điểm nhìn bên trong), kết hợp với người kể chuyện ngôi thứ ba. Tác dụng Đi sâu vào thế giới nội tâm: Điểm nhìn này cho phép người đọc thấu hiểu trực tiếp những nỗi buồn, sự trăn trở và khao khát của San. Những câu như "ngủ là khỏi thấy lòng buồn", "má hy sinh cho cái phận bèo bọt này chi không biết" thể hiện sự tự ý thức về hoàn cảnh éo le của mình. Tăng tính biểu cảm và chân thực: Thay vì chỉ quan sát từ bên ngoài, việc đặt điểm nhìn vào nhân vật giúp câu chuyện trở nên cảm động hơn. Người đọc cảm nhận được sự nhỏ bé, đáng thương nhưng cũng đầy nghị lực của San khi chọn cách "ngủ" để trốn tránh thực tại và tìm đến ước mơ qua những giấc chiêm bao. Thể hiện chủ đề tư tưởng: Điểm nhìn này nhấn mạnh vào số phận của những con người nhỏ bé trong xã hội, qua đó bộc lộ niềm cảm thông sâu sắc của tác giả đối với những mảnh đời "bèo bọt" nhưng vẫn giữ cho mình một ước mơ riêng.
C5
Đoạn văn ngắn nhưng chứa đựng nhiều nỗi niềm, gợi cho người đọc những cảm xúc sâu sắc: Sự đồng cảm với thân phận "bèo bọt": Hình ảnh nhân vật San tìm đến giấc ngủ để "khỏi thấy lòng buồn" gợi lên một cuộc sống bế tắc, đầy những nỗi lo toan và sự cô đơn. Cụm từ "phận bèo bọt" cho thấy sự tự ý thức về số phận nhỏ bé, lênh đênh của những người phụ nữ trong xã hội. Sự trân trọng những ước mơ bình dị: Chi tiết San ngủ để "mơ thấy mình trở thành đào hát" thể hiện khao khát được sống một cuộc đời khác — rực rỡ và ý nghĩa hơn thực tại buồn tẻ của một người phục vụ quán vắng. Lối sống "gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn": Dù sống trong môi trường phức tạp (nơi có bài bạc, số đề, ăn diện...), San vẫn chọn cách tách mình ra, giữ lấy sự tĩnh lặng cho riêng mình. Điều này gợi suy nghĩ về sự giữ gìn nhân cách và tâm hồn trong những hoàn cảnh khó khăn. Nỗi buồn man mác về kiếp người: Đoạn văn để lại một dư vị buồn thương về những kiếp người nhỏ bé ở vùng sông nước, nơi những hy sinh của người mẹ ("má hi sinh") đôi khi không thể thay đổi được cái vòng quẩn quanh của nghèo khó và cô đơn.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?
Văn bản trên thuộc thể loại: Truyện ngắn.
Câu 2. Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri hay hạn tri?
Người kể chuyện trong văn bản là người kể chuyện toàn tri (ngôi thứ ba).
• Giải thích: Người kể giấu mặt, không tham gia vào câu chuyện nhưng biết hết mọi việc, từ hành động đến tận cùng những suy nghĩ thầm kín, cảm xúc và quá khứ của các nhân vật như San, Sáu Tâm và Đào Điệp.
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của thành phần chêm xen trong đoạn văn:"...người mẹ giàu có tàn nhẫn đến cỡ nào để chia cắt duyên con (như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát), nhưng có làm gì thì hết thảy đều vì quá thương con mình."
Thành phần chêm xen: "(như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát)".
• Tác dụng: * Về nội dung: Dùng để chú thích, làm rõ hơn cho ý tưởng về những tình huống kịch tính, éo le thường thấy trong các vở diễn cải lương mà nhân vật San đang liên tưởng tới.
• Về nghệ thuật: Giúp lời văn trở nên gần gũi, mang đậm hơi thở đời sống Nam Bộ; đồng thời thể hiện sự gắn kết giữa cuộc đời thực của nhân vật và niềm đam mê nghệ thuật cải lương.
Câu 4. Phân tích tác dụng của điểm nhìn trần thuật trong đoạn văn sau:
"Những khi quán vắng, San cố ngủ cho nhiều... Ngủ vì không thích tụm lại với chị em để đánh bài, bàn số đề, dũa móng tay, nặn mụn hay đi sắm áo dây, váy ngắn."
Phân tích: Ở đoạn này, người kể chuyện (ngôi thứ ba) đã dịch chuyển điểm nhìn nhập thân vào thế giới nội tâm của nhân vật San.
• Tác dụng:
• Hé mở góc khuất tâm hồn: Cho thấy sự lạc lõng, cô đơn của San giữa môi trường xô bồ của quán bia. San ngủ không phải vì lười biếng mà để "trốn" thực tại nghiệt ngã và nuôi dưỡng ước mơ.
• Khắc họa tính cách: Nhấn mạnh vẻ đẹp tâm hồn của San – một cô gái dù sống trong bùn lầy ("cái phận bèo bọt") nhưng vẫn giữ được sự khác biệt, không bị đồng hóa bởi những thói hư tật xấu xung quanh.
• Tạo sự đồng cảm: Khiến người đọc thấu hiểu và xót xa hơn cho số phận và những khao khát chính đáng của nhân vật. Điệp dành cho San (một người xa lạ), là sự hy sinh thầm lặng của Sáu Tâm và sự đồng cảm giữa những kiếp người "bèo bọt" nơi xóm Gò Mã.
•Câu 5. Văn bản này để lại trong em những cảm nhận, suy nghĩ gì?
Đây là câu hỏi mở, bạn có thể trình bày theo cảm xúc cá nhân. Dưới đây là một vài hướng gợi ý:
• Sự xúc động về tình người: Văn bản toát lên vẻ đẹp của sự bao dung. Đó là tình thương của Đào Điệp dành cho San (một người xa lạ), là sự hy sinh thầm lặng của Sáu Tâm và sự đồng cảm giữa những kiếp người "bèo bọt" nơi xóm Gò Mã.
• Giá trị của ước mơ: San có một tuổi thơ bất hạnh và một hiện tại cay đắng, nhưng chính ước mơ trở thành đào hát và hình bóng người mẹ (qua hình ảnh Đào Điệp) đã giữ cho cô không bị gục ngã.
• Bài học về cái nhìn cuộc sống: Đừng vội phán xét một ai đó qua công việc hay vẻ ngoài của họ. Đằng sau một tiếp viên quán bia hay một ông lão tàn tật bán khăn có thể là những tâm hồn nghệ sĩ cao quý và một tấm lòng nhân hậu "bởi vì thương" mà hy sinh tất cả.
• Nỗi buồn man mác: Truyện để lại dư vị buồn đặc trưng của văn Nguyễn Ngọc Tư – cái buồn của những phận người nhỏ bé, nhưng sáng lên trong đó là ánh sáng ấm áp của tình thương yêu.