Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1:
-Phương thức biểu đạt chính của văn bản: thuyết minh.
Câu 2:
-Những thể loại thể hiện tài năng văn học của Puskin: thơ, tiểu thuyết bằng thơ, trường ca thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết lịch sử,kịch...
Câu 3:
Theo tôi "Mặt trời của thi ca Nga" là cách nói ẩn dụ tôn vinh giá trị thơ và vị trí nhà thơ Puskin.
Thơ Puskin đánh thức những tình cảm tốt lành trong tâm hồn Nga khao khát tự do và tình yêu, mang sức mạnh tinh thần, có ý nghĩa to lớn trong lịch sử văn chương và lịch sử thức tỉnh của dân tộc Nga.
Puskin là nhà thơ vĩ đại có vị trí đặc biệt quan trọng - người khơi dậy sức phát triển phi thường cho văn học Nga thế kỉ XIXvaf đưa nó trở thành một trong những đỉnh cao của nghệ thuật nhân loại.
Câu 4:
"Tôi yêu em" không chỉ đơn thuần là một bài thơ để thể hiện sự chân thành của A.Pu-skin dành cho người mình yêu mà còn đem đến bài học thật sâu sắc về thái độ ứng xử có văn hoá trong tình yêu. Tình yêu là sự rung động mãnh liệt về cảm xúc, về trái tim của con người, thật khó có định nghĩa nào toàn diện về khái niệm này. Tình yêu không chỉ là tình cảm lứa đôi, không phải chỉ xuất phát từ trái tim mà còn đến từ khối óc của con người. Đó là thái độ ứng xử có văn hóa. Vậy điều này được thể hiện như thế nào? Trước hết đó là tôn trọng người mình yêu qua cách xưng hô như A. Pu-skin đã từng nói một cách đầy tình cảm rằng Tôi / em. Cách gọi ấy thể hiện sự trang trọng, dành trọn trái tim cho người mà mình yêu thương. Không những thế, tôn trọng sự lựa chọn của người mình yêu cũng là việc ứng xử có văn hóa trong tình yêu. Pu-skin đã không phản bác mà tự nguyện chấp nhận sự lựa chọn của người con gái, cũng không hờn dỗi, trách móc hay oán thán, tự nhận về mình trách nhiệm đã làm người con gái phải bận lòng, phải u hoài. Yêu nhưng luôn hướng về đối phương để em không bận lòng vì em nữa, hi sinh vì niềm đam mê, vì hạnh phúc nơi em chọn lựa. Tình yêu không phải là sự ép buộc mà tình yêu là một sự tự nguyện: tự nguyện của những tâm hồn đồng cảm, đồng điệu. Song chia tay không phải để trở thành đối lập, thù địch của nhau mà chia tay để nối thêm, để mở rộng tình đòi. Đó là văn hoá ứng xử trong tình yêu. Nhân vật trữ tình trong bài thơ không thể đến, không có cơ hội trao duyên mong thành đôi thì mong người con gái ấy sẽ hạnh phúc với lựa chọn của mình. Tình yêu cần hướng đến sự đồng điệu, đồng cảm, sự tận tụy hi sinh, cần mãnh liệt để yêu và cần tinh tế để cảm nhận. Đó mới là cách úng xử tuyệt vời nhất, thông minh và có văn hóa.
Câu 1 :Phương thức biểu đtạ chính là:Nghị luận
Câu 2:Theo tác giả:Thất bại giúp con người ta đúc kết kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng và giúp thành công đạt thêm phần ý nghĩa.
Câu 3:Em hiểu câu"Hẫy thất bại một cách tích cực" là:Nếu ta thất bại một lần thì chúng ta có thể nhận được một số bài học và kinh nghiệm nhưng nếu ta thất bại nhiều thì bài học và kinh nghiệm đó sẽ nhân lên,nhân lên rất nhiều.Từ đó,ta có thể thành công với số bài học và kinh nghiệm đó.
Câu 4:Điều em tâm đắc nhất trong đoạn trích chính là:em đã có thêm những phần kiến thức bổ ích,tốt đẹp,nó sẽ giúp em vươn lên towisthanhf công từ những thất bại của mình!
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích: Nghị luận.
Câu 2. Theo đoạn trích, người có lí và người vô lí khác nhau ở chỗ:
“Người có lý điều chỉnh bản thân theo thế giới; người vô lý kiên định điều chỉnh thế giới theo bản thân.”
Tức là người có lí thuận theo những điều hiển nhiên đã được thế giới công nhận, còn người vô lí thì ngược lại.
Câu 3. Dựa vào đoạn trích, người vô lí được hiểu là người biết phản biện, nghi ngờ những kiến thức sẵn có, biết đẩy xa những giới hạn, biết lật lại những cái mặc định, đương nhiên, biết dũng cảm, can trường khai phá cái mới dù bị chỉ trích, cười nhạo viển vông…
Câu 4.
- Đồng tình vì:
+ Người biết ước mơ dám suy nghĩ đến những điều không tưởng.
+ Người biết ước mơ lớn tưởng như viển vông nhưng có năng lực, ý chí có thể đạt đến những thành tựu…
c1; nghị luận
c2; người có lí...... thế giới,người vô lí...bản thân
c3?
c4?
[ e mới học lớp 7 thôi ko biết có đ ko]
k cho e ạ , mong chị thông cảm
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Nghị luận (kết hợp với phân tích, bình giảng).
Câu 2.
Trong phần (3), người viết thể hiện cảm xúc bâng khuâng, cô đơn, nhỏ bé, lạc lõng giữa không gian rộng lớn và dòng chảy của thời gian. Thái độ là sự đồng cảm sâu sắc với tâm trạng cô đơn của nhân vật trữ tình trong Tràng giang, đồng thời tự soi chiếu, liên tưởng bản thân như một cành củi khô hay cánh chim nhỏ bé trên dòng đời mênh mông.
Câu 3.
Trong phần (1), tác giả chỉ ra sự khác biệt:
- Thơ xưa: cái “tĩnh vắng mênh mông” thường gắn với sự thanh thản, an nhiên, tự tại.
- Tràng giang (Huy Cận): cái “tĩnh vắng” ấy lại gợi lên sự cô đơn, quạnh hiu, trống trải đến tuyệt đối, làm dấy lên nỗi nhớ nhà thường trực trong lòng người.
Câu 4.
Trong phần (2), tác giả đã phân tích nhiều yếu tố ngôn ngữ của bài thơ để làm rõ “nhịp chảy trôi miên viễn” của tràng giang:
- Các từ láy: điệp điệp, song song, lớp lớp, dợn dợn… gợi sự triền miên, nối tiếp.
- Các cặp câu tương xứng, đuổi nhau: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song”.
- Cấu trúc trùng điệp, nối tiếp: “Nắng xuống/ trời lên/ sâu chót vót. Sông dài/ trời rộng/ bến cô liêu”.
- Cụm từ chỉ sự nối dài, liên tục: “hàng nối hàng”, “Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”…
→ Tất cả tạo nên một nhịp điệu chảy xuôi vô tận, miên viễn của Tràng giang.
Câu 5.
(Trả lời mở, gợi ý như sau)
Em ấn tượng nhất với cảm giác cô đơn, lạc lõng của con người trước không gian và thời gian vô tận trong Tràng giang. Bởi vì qua đó, em nhận ra tấm lòng tha thiết của Huy Cận đối với quê hương, đồng thời cảm nhận được nỗi niềm nhân thế sâu xa: con người dù nhỏ bé, cô đơn vẫn luôn hướng về cội nguồn để tìm điểm tựa tinh thần.
Câu 1. Đặt một nhan đề phù hợp với nội dung của văn bản. (0,5 điểm)
Nhan đề: CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP, CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
Câu 2. Nêu những đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0? Lấy một ví dụ ngoài văn bản về những biểu hiện của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. (1,5 điểm)
.- Cuộc cách mạng lần hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt.
- Cuộc cách mạng lần ba sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất.
- Bây giờ, cuộc Cách mạng Công nghiệp Thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) đang nảy nở từ cuộc cách mạng lần ba, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Những yếu tố cốt lõi của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là trí tuệ nhân tạo (AI), vạn vật kết nối và dữ liệu lớn (Big Data; robot thế hệ mới, máy in 3D, xe tự lái, và công nghệ nano.
Ví dụ: thẻ CCCD gắn chíp điện tử có độ bảo mật cao, dung lượng lưu trữ lớn, cho phép tích hợp nhiều ứng dụng đi kèm như: Ứng dụng chữ ký số, ứng dụng sinh trắc học, ứng dụng mật khẩu một lần… có thể được sử dụng và kết nối rộng rãi cho các dịch vụ công cộng và tư nhân.
Dùng năng lượng mặt trời để làm nóng nước
Câu 3. “Khi tự động hóa thay thế lao động chân tay trong nền kinh tế, khi robot thay thế con người trong nhiều lĩnh vực, hàng triệu lao động trên thế giới có thể rơi vào cảnh thất nghiệp”. Trước thực trạng ấy, anh/chị thấy mình cần phải làm như thế nào để chuẩn bị tốt nhất cho tương lai? (1 điểm)
Cần học tập nhóm kỹ năng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) như năng lực giải quyết vấn đề dựa trên máy tính và các công cụ công nghệ.
Cần rèn nhóm các kỹ năng tư duy như sức sáng tạo, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng ra quyết định, và khả năng tự học suốt đời.
Các kỹ năng làm việc như khả năng giao tiếp và hợp tác làm việc theo nhóm.
Cuối cùng là kỹ năng sống (thích nghi) trong xã hội toàn cầu, bao gồm vấn đề ý thức công dân, cuộc sống và sự nghiệp, trách nhiệm cá nhân và xã hội, bao gồm cả vấn đề hiểu biết tính đa dạng văn hóa.
Câu1 Thể loại: Tùy bút.
Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân.
Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về
Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,..:, phiên chợ cuối năm họp kín người.
Cảnh làng quê được sửa sang chuấn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét.
Câu 4 pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm sáu mươi ngày đều vui như ngày hội, cho cô gái tựa tóc vào vai người yêu, cho chàng trai soi vào mắt người tình mà run quả tim trong sạch, cho con chim khách không bao giờ sai, cho những chú bé đi "hôi" cá cứ cười như nắc nẻ, dù chỉ được con tôm hay chú cá rô ron, cho chợ Tết người chen người, cho đồng lúa ròn ròn bát ngát, cho những con người lầm lạc sớm hoàn lương,...
tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: Thể hiện mong ước của nhân vật trữ tình về những điều tốt đẹp sẽ đến cùng với mùa xuân trên quê hương.
Câu 5.
Nội dung: Văn bản Những nẻo đường xuân
Thông qua nỗi nhớ thương sâu sắc của một người xa quê đã thể hiện sâu sắc không khí hối hả khi mùa xuân đến trên nhiều phương diện khác nhau
Câu 1. Thể loại: Tùy bút. Câu 2. Thời điểm gợi cảm hứng sáng tác cho tác giả là những ngày cuối đông, đầu xuân. Câu 3. Khung cảnh làng quê khi mùa xuân về: Cảnh con người tấp nập chuẩn bị Tết: mọi người ở khắp các nẻo đường đi mua sắm Tết, vay trả nợ,...; phiên chợ cuối năm họp kín người. Cảnh làng quê được sửa sang chuẩn bị đón Tết: ngoài đình, ngoài chùa, mái quán chơ vơ trên đồng, bờ giếng tròn xây... đã được thay áo mới màu trắng tinh, trắng lốp bằng nước vôi mới quét. Câu 4. – HS chỉ ra biểu hiện của việc sử dụng biện pháp tu từ liệt kê trong câu văn: cho ba trăm cáu mươi ngày đầu vui như
Câu 1. Xác định thể loại của văn bản
Văn bản là truyện ngắn (tiểu thuyết ngắn). Đây là tác phẩm tự sự, kể lại cuộc gặp gỡ và tình huống giữa hai nhân vật với cốt truyện rõ ràng, có nhân vật, tình huống và diễn biến tâm lý.
Câu 2. Xác định đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy
Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột là:
“Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại...”
Đây là lúc cả gia đình anh gầy thay đổi thái độ và biểu cảm khi biết anh béo là quan chức cao.
Câu 3. Tình huống truyện của văn bản trên là gì?
Tình huống truyện là cuộc gặp gỡ bất ngờ trên sân ga giữa hai người bạn cũ, một người béo và một người gầy, dẫn đến những phản ứng khác nhau của hai nhân vật và gia đình anh Gầy. Tình huống này làm nổi bật sự đối lập về tính cách, hoàn cảnh và thái độ của nhân vật.
Câu 4. So sánh thái độ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo
- Trước khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy đối xử tự nhiên, vui mừng, thân thiện, ôm hôn bạn cũ, kể chuyện tuổi thơ, giới thiệu vợ con. Thái độ cởi mở, chân thành, bình đẳng.
- Sau khi biết cấp bậc của anh béo: Anh Gầy trở nên rụt rè, kính cẩn, nhún nhường, cười hì hì, cúi người, dùng lời lẽ lễ phép như “bẩm quan trên”, toàn thân rúm ró. Thái độ này thể hiện sự ngưỡng mộ, e sợ và mất tự nhiên trước quyền lực.
Câu 5. Phát biểu nội dung của văn bản
Văn bản phản ánh sự thay đổi tính cách và thái độ của con người trước quyền lực, địa vị xã hội. Qua cuộc gặp gỡ giữa anh béo và anh gầy, tác giả thể hiện tâm lý nịnh hót, kính cẩn quá mức trước người có chức quyền và mối quan hệ bạn bè bị ảnh hưởng bởi vị thế xã hội. Đồng thời, truyện cũng khắc họa sự khác biệt trong tính cách: anh béo phóng khoáng, tự tin, còn anh gầy rụt rè, cẩn trọng, hay bị hoàn cảnh chi phối.
Câu 1
Thể loại: truyện ngắn.
Câu 2
Đoạn văn thể hiện sự thay đối đột ngột về trạng thái, biếu cảm của gia đình anh gầy:
"Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phồng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..."
Câu 3.
Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản.
Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đỗi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.
Câu 4.
Cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:
+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.
+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản.
Cầu 5.
- Điểm nhìn: Ngôi thứ ba (người kể chuyện ẩn mình, gọi nhân vật là "y", "Thứ").
- Đặc điểm: Người kể chuyện thấu suốt suy nghĩ, cảm xúc nội tâm của nhân vật Thứ.
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường- Dựa vào ngữ cảnh tác phẩm (Sống mòn - Nam Cao), ước mơ của Thứ là được làm những việc cao quý, có ích cho đời, khao khát một cuộc sống có ý nghĩa, rực rỡ chứ không phải sự quẩn quanh, bế tắc.
Câu 3. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ- Biện pháp tu từ: Liệt kê và Điệp từ/Điệp cấu trúc ("sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra...").
- Tác dụng:
- Nhấn mạnh sự tàn úa, vô nghĩa và sự hủy hoại về cả thể xác lẫn tâm hồn của con người khi rơi vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói.
- Gợi ra cảm giác ghê tởm, sợ hãi trước sự "mục rỗng" của cuộc sống quẩn quanh.
- Thể hiện nỗi đau xót, bế tắc tột cùng của nhân vật về tương lai mờ mịt.
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người nhân vật Thứ- Cuộc sống: Bi kịch, bế tắc, nghèo túng và vô nghĩa ("chết mà chưa sống").
- Con người: Là một trí thức có lòng tự trọng cao nhưng đang bị gánh nặng cơm áo ghì sát đất. Thứ luôn tự dằn vặt, trăn trở về giá trị sự sống, sợ sự tha hóa và sợ trở thành gánh nặng cho người thân.
Câu 5. Suy nghĩ về một triết lý nhân sinh Bạn có thể chọn triết lý về giá trị của sự sống: "Rồi y sẽ chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!"Câu 1.
Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là điểm nhìn gắn với nhân vật Thứ. Người kể ở ngôi thứ ba nhưng đi sâu vào suy nghĩ, cảm xúc và tâm trạng của nhân vật.
Câu 2.
Ước mơ của nhân vật Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là:
Đỗ thành chung, đỗ tú tài, học đại học, sang Tây.
Trở thành một vĩ nhân, đem đến những thay đổi lớn lao cho đất nước.
Câu 3.
Biện pháp tu từ được sử dụng nổi bật trong đoạn văn là điệp ngữ (“y sẽ”, “sẽ”, “khinh y”) kết hợp với liệt kê (“mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra”).
Tác dụng:
Nhấn mạnh nỗi bi quan, tuyệt vọng của nhân vật Thứ về tương lai.
Thể hiện sự bế tắc, mòn mỏi của một con người có ước mơ nhưng bị cuộc sống nghèo khổ vùi lấp.
Làm nổi bật bi kịch tinh thần đau đớn của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám.
Câu 4.
Qua đoạn trích, cuộc sống của nhân vật Thứ hiện lên nghèo khổ, bế tắc và tù túng. Những ước mơ đẹp đẽ thời trẻ dần bị hiện thực cơm áo vùi dập khiến cuộc đời trở nên “sống mòn”.
Thứ là người có học thức, có khát vọng và ý thức về giá trị bản thân nhưng lại nhu nhược, thiếu bản lĩnh để thay đổi số phận. Nhân vật luôn đau khổ, day dứt vì sống vô nghĩa, chưa làm được điều có ích cho cuộc đời. Qua đó, Nam Cao thể hiện niềm thương cảm sâu sắc đối với bi kịch của người trí thức nghèo trước cách mạng.
Câu 5.
Một triết lí nhân sinh được rút ra từ văn bản là: “Sống tức là thay đổi”.
Con người muốn có cuộc sống tốt đẹp hơn cần dám vượt qua sự sợ hãi, dám thay đổi bản thân và hoàn cảnh. Nếu chỉ sống thụ động, cam chịu như “con trâu không dám đứt sợi dây thừng” thì cuộc đời sẽ mãi tù túng, vô nghĩa. Triết lí ấy nhắc nhở mỗi người cần sống có mục tiêu, có ý chí và chủ động hành động để không rơi vào cảnh “chết mà chưa sống”.
Câu 1. Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là: Người kể chuyện ngôi thứ ba nhưng chủ yếu đặt điểm nhìn vào nhân vật Thứ để miêu tả tâm trạng, suy nghĩ và những giằng xé nội tâm của nhân vật. Câu 2. Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Thứ từng có những ước mơ lớn lao: Đỗ Thành chung, đỗ tú tài, học đại học. Sang Tây học tập. Trở thành “một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình”. → Đó là những khát vọng đẹp đẽ, cao xa của một thanh niên trí thức có lí tưởng. Câu 3. Biện pháp tu từ được sử dụng nổi bật trong đoạn văn là: điệp cấu trúc kết hợp liệt kê: “sẽ mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục ra” “người ta sẽ khinh y, vợ y sẽ khinh y, chính y sẽ khinh y” Tác dụng: Nhấn mạnh sự bế tắc, bi kịch tinh thần và nỗi tuyệt vọng của nhân vật Thứ trước tương lai mù mịt. Gợi cảm giác cuộc sống đang dần hủy hoại con người cả về thể xác lẫn tinh thần. Thể hiện nỗi đau đớn, tự ý thức sâu sắc của Thứ về sự “sống mòn”, sống vô nghĩa của bản thân. Câu 4. Qua đoạn trích, cuộc sống và con người của Thứ hiện lên: Về cuộc sống: Nghèo khổ, bấp bênh, bế tắc. Những ước mơ đẹp đẽ dần bị hiện thực cơm áo đè nặng. Cuộc đời rơi vào trạng thái “sống mòn”, tù túng và mất phương hướng. Về con người: Là người có ý thức, có khát vọng sống đẹp và từng có lí tưởng cao đẹp. Có đời sống nội tâm sâu sắc, luôn day dứt về giá trị bản thân. Nhưng đồng thời cũng nhu nhược, thiếu bản lĩnh để thoát khỏi hoàn cảnh. → Nhân vật Thứ tiêu biểu cho bi kịch của tầng lớp trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám. Câu 5. Một triết lí nhân sinh rút ra từ văn bản là: “Sống tức là thay đổi.” Theo em, đây là một triết lý sâu sắc. Cuộc sống luôn vận động, con người muốn phát triển cần dám thay đổi, dám bước ra khỏi sự an toàn và vượt qua nỗi sợ hãi của bản thân. Nếu chỉ sống theo thói quen, chấp nhận sự tù túng và không dám hành động, con người sẽ dễ rơi vào tình trạng “sống mòn”, đánh mất ý nghĩa cuộc đời. Vì vậy, mỗi người cần chủ động thay đổi để hoàn thiện bản thân và sống có ích hơn
Câu 1:Người kể chuyện ở ngôi thứ ba, nhưng điểm nhìn trần thuật chủ yếu được đặt vào nhân vật Thứ
Câu 2:Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, Thứ có những ước vọng cao xa, tươi đẹp và đầy hoài bão.Không bao giờ thèm mong sau này trở thành một "ông phán tầm thường".Dự định thi đỗ Thành chung, đỗ Tú tài, vào Đại học đường, sang Tây...Ước mơ trở thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở mình.
Câu3:Trong đoạn trích trên, tác giả sử dụng nổi bật biện pháp tu từ Liệt kê kết hợp với Điệp từ/Điệp cấu trúc ("y sẽ...", "sẽ...").
Tác dụng:
Về nội dung: Nhấn mạnh và cụ thể hóa bi kịch "sống mòn" đáng sợ của nhân vật. Đó là sự tàn úa, tiêu biến dần cả về thể xác lẫn tinh thần, ý thức rõ rệt về nỗi nhục nhã khi trở thành kẻ ăn bám và bị mọi người (ngay cả chính mình) coi thường. Câu văn lột tả đỉnh điểm nỗi đau đớn, uất ức và bất lực của người trí thức nghèo trước giảng đường đời khắc nghiệt.
Về nghệ thuật: Tạo nên giọng điệu dồn dập, tăng tiến, như những nhát dao cứa vào tâm can nhân vật; làm cho lời văn giàu sức gợi hình, gợi cảm và mang chiều sâu triết lý sâu sắc.
Câu4:Về cuộc sống: Là một chuỗi ngày bế tắc, nghèo túng và bi kịch. Từ một người có học, có lý tưởng, Thứ rơi vào cảnh thất nghiệp, phải rời bỏ thủ đô để quay về "xó nhà quê", đối mặt với tương lai mờ mịt, nguy cơ sống một cuộc đời vô nghĩa, tẻ nhạt.Về con người: * Thứ là người giàu ước mơ, hoài bão và có lòng tự trọng cao. Anh luôn khát khao cống hiến, sợ sự tầm thường, xót xa khi thấy mình trở nên "nhỏ nhen, ti tiện" vì miếng cơm manh áo.Tuy nhiên, Thứ cũng mang nhược điểm cố hữu của tầng lớp trí thức tiểu tư sản thời bấy giờ: nhu nhược, yếu đuối, hay do dự. Dù uất ức, muốn "đi bất cứ đâu", "bất cần tất cả" nhưng cuối cùng anh vẫn cam chịu, xuôi tay để "mặc con tàu mang đi" theo dòng đời xô đẩy.
Câu5:Triết lý "chết mà chưa sống" nhắc nhở chúng ta (đặc biệt là thế hệ trẻ) phải có dũng khí vượt qua hoàn cảnh, dám thay đổi và giữ vững hoài bão chứ không nên cam chịu một cuộc đời quẩn quanh, mòn mỏi.
Câu 1.định điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản.:
Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là điểm nhìn ngôi thứ ba nhưng được đặt vào bên trong nhân vật Thứ (điểm nhìn hạn tri/nếm trải). Người kể chuyện không đứng ngoài quan sát một cách khách quan hoàn toàn mà thấu suốt, hòa nhập vào dòng suy nghĩ, tâm tư, những dằn vặt và cảm xúc uất ức của nhân vật Thứ để dẫn dắt câu chuyện.
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là:
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, nhân vật Thứ có những ước mơ vô cùng cao xa và bay bổng. Thứ mong muốn sau khi đỗ đạt sẽ vào đại học đường, sang Tây, trở thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở của mình, chứ không bao giờ thèm mong sau này làm một ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương về nuôi vợ nuôi con.
Câu 3.
Trong đoạn trích trên, tác giả đã sử dụng rất thành công biện pháp tu từ liệt kê thông qua chuỗi hành động và trạng thái: mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra.
Tác dụng của biện pháp này là cụ thể hóa, hình tượng hóa sự tàn phá của hoàn cảnh nghèo đói đối với đời sống con người. Các động từ biến đổi theo chiều hướng tăng tiến từ mốc, gỉ đến mòn, mục không chỉ diễn tả sự lụi tàn về mặt thể xác mà còn lột tả sâu sắc sự thối rữa, tha hóa về mặt tâm hồn, trí tuệ của người trí thức khi bị gánh nặng cơm áo ghì sát đất. Qua đó, biện pháp tu từ giúp người đọc cảm nhận được nỗi đau đớn, uất ức và tuyệt vọng tột cùng của nhân vật Thứ trước nguy cơ bị cuộc đời vô nghĩa nuốt chửng.
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ được thể hiện trong đoạn trích:
Qua đoạn trích, cuộc sống của nhân vật Thứ hiện lên là một bi kịch điển hình của người trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội cũ: một cuộc sống bế tắc, tù túng, quẩn quanh và kiệt quệ về cả vật chất lẫn tinh thần. Về con người, Thứ là một nhân vật mang tính bi kịch cao. Một mặt, Thứ là người có lý tưởng, có lòng tự trọng và ý thức sâu sắc về giá trị sự sống, biết nghẹn ngào, uất ức trước kiếp sống mòn vô nghĩa. Mặt khác, Thứ lại là một con người nhược tiểu, bất lực và hèn yếu. Dù rất muốn nổi loạn, muốn đi liều để chống lại hoàn cảnh, nhưng cuối cùng Thứ vẫn buông xuôi, chấp nhận đầu hàng và để mặc cho con tàu định mệnh mang đi, quay về với kiếp sống mà chính mình khinh ghét.
Câu 5. suy nghĩ của em về một triết lí nhân sinh được rút ra từ văn bản:
Một triết lý nhân sinh sâu sắc được rút ra từ văn bản là câu văn: Sống tức là thay đổi. Triết lý này khẳng định bản chất thực sự của sự sống không phải là sự tồn tại sinh học thuần túy, phẳng lặng và bất biến, mà phải là quá trình vận động, phát triển, dám bứt phá ra khỏi những thói quen cũ kỹ và nỗi sợ hãi để vươn tới những giá trị tốt đẹp hơn. Nếu một con người sống mà chỉ biết cắm cúi kéo cày, chịu roi như một con trâu, sợ hãi sự đổi thay và sợ hãi những cái gì chưa tới, thì cuộc đời họ chỉ là một sự tồn tại mòn mỏi, một đời tù đày không hơn không kém. Câu văn là lời nhắc nhở con người phải luôn có dũng khí đối mặt với thử thách để làm mới bản thân và làm chủ cuộc đời mình.
Câu 1.
Điểm nhìn: Người kể chuyện ngôi thứ ba, điểm nhìn bên ngoài, kể theo dòng tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Thứ.
Câu 2.
Ước mơ của Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường: Đỗ thành chung, đỗ tú tài, vào đại học, sang Tây, trở thành vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao cho xứ sở.
Câu 3.
Biện pháp tu từ: Điệp từ "sẽ", liệt kê "mốc lên, sẽ gỉ đi, sẽ mòn, sẽ mục", câu cảm thán "chết mà chưa làm gì cả, chết mà chưa sống!".
Tác dụng: Nhấn mạnh sự bế tắc, tuyệt vọng, nỗi sợ cuộc đời tàn lụi vô nghĩa của Thứ; giọng văn dồn dập, khắc khoải, tăng tính bi kịch.
Câu 4.
Cuộc sống và con người Thứ: Từng mang hoài bão lớn nhưng dần rơi vào bế tắc, hèn nhát, cam chịu. Thứ ý thức được sự tầm thường, nhục nhã của mình nhưng không đủ dũng khí để thay đổi, để mặc số phận đưa đẩy. Đó là bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trước cách mạng.
Câu 5.
Triết lí nhân sinh: Sống là phải thay đổi, phải hành động, phải dám cưỡng lại số phận. Nếu cam chịu, hèn nhát thì cuộc đời sẽ tàn lụi vô nghĩa. Con người chỉ được hưởng những gì mình xứng đáng, muốn có cuộc sống tốt đẹp phải tự mình đấu tranh và tạo ra nó.
Câu 1. Xác định điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản.
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba, người kể chuyện đặt điểm nhìn tập trung vào nhân vật Thứ, đi sâu miêu tả tâm trạng, suy nghĩ và diễn biến nội tâm của nhân vật.
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là gì?
Ước mơ của Thứ khi còn ngồi trên ghế nhà trường:
→ Đó là những ước mơ đẹp, cao xa và đầy hoài bão của tuổi trẻ.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong đoạn trích.
Biện pháp tu từ nổi bật là điệp ngữ: “y sẽ”, “sẽ”, “khinh y”…
Tác dụng:
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ được thể hiện trong đoạn trích.
→ Thứ tiêu biểu cho bi kịch của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng tháng Tám: có lý tưởng nhưng bị cuộc sống tù túng làm cho mỏi mòn, bế tắc.
Câu 5. Nêu suy nghĩ của anh/chị.
Qua nhân vật Thứ, em nhận thấy con người cần có ước mơ và khát vọng sống có ý nghĩa. Tuy nhiên, muốn biến ước mơ thành hiện thực cần có ý chí, nghị lực và hành động. Nếu sống buông xuôi, chấp nhận sự trì trệ thì con người dễ rơi vào trạng thái “sống mòn”, tồn tại mà không thật sự sống. Vì vậy, tuổi trẻ hôm nay cần biết trân trọng thời gian, không ngừng học tập, rèn luyện và nỗ lực để sống có mục tiêu, có giá trị.