Viết: Viết văn bản thuyết minh về một tác phẩm văn học
I. ĐỊNH HƯỚNG
1. Khái niệm
− Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản được sử dụng phổ biến, nhằm đáp ứng nhu cầu hiểu biết trong mọi lĩnh vực của đời sống. Kiểu văn bản này gắn liền với tư duy khoa học, hướng đến mục tiêu giúp người đọc nắm bắt, hiểu rõ về đối tượng được thuyết minh.
− Khi viết kiểu bài thuyết minh, người viết sẽ được rèn luyện những thao tác, kĩ năng tìm hiểu, thu thập thông tin, nghiên cứu và trình bày tri thức một cách chính xác, khách quan.
2. Yêu cầu
− Giới thiệu được các thông tin cơ bản về tác phẩm cần thuyết minh (nhan đề, tên tác giả, đánh giá chung).
− Giới thiệu khái quát về tác giả (nhấn mạnh những điểm nổi bật liên quan đến tác phẩm).
− Nêu được hoàn cảnh sáng tác, đặc điểm thể loại; tóm tắt được nội dung tác phẩm.
− Nêu thông tin cơ bản về giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
− Khẳng định vị trí, ý nghĩa và đóng góp của tác phẩm trong đời sống văn học.
− Vận dụng linh hoạt các yếu tố: miêu tả, tự sự, biểu cảm và nghị luận để làm bài văn thêm sinh động, thuyết phục.
II. PHÂN TÍCH BÀI VIẾT THAM KHẢO
Câu hỏi:
Truyện Kiều − kiệt tác của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du Truyện Kiều là kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du và của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt. Nguyễn Du (1765 − 1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh ra trong một gia đình quyền quý, có nhiều người đỗ đạt cao và đạt nhiều thành tựu về sáng tác văn chương. Sống trong một thời đại đầy biến động dữ dội nên cuộc đời Nguyễn Du nếm trải nhiều thăng trầm. Ông có kiến thức uyên bác, trái tim nhân hậu và tài năng văn học bẩm sinh. Nguyễn Du để lại 250 bài thơ chữ Hán và một số tác phẩm viết bằng chữ Nôm, trong đó nổi bật nhất là Truyện Kiều. Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ lục bát. Thời điểm sáng tác Truyện Kiều đến nay vẫn còn gây nhiều tranh luận, chưa có sự thống nhất. Tác phẩm gồm 3 254 câu thơ lục bát, dựa trên cốt truyện của cuốn tiểu thuyết chương hồi: Kim Vân Kiều truyện (Thanh Tâm Tài Nhân). Cốt truyện Truyện Kiều được tổ chức theo mô hình cơ bản của truyện thơ Nôm với ba phần: Gặp gỡ, đính ước − Tai biến, chia li − Đoàn tụ. Nội dung cốt truyện kể về cuộc đời mười lăm năm chìm nổi của Vương Thuý Kiều, người con gái tài sắc, đức hạnh vẹn toàn. Nhân buổi du xuân trong tiết Thanh minh, Thuý Kiều gặp gỡ Kim Trọng, một Nho sinh hào hoa, phong nhã và cả hai đều ôm mối tương tư. Kim Trọng đã tìm cách gặp mặt, bày tỏ tình yêu với Thuý Kiều, được nàng đón nhận và hai người trao nhau vật đính ước. Thuý Kiều đã tìm sang nhà Kim Trọng tình tự và họ cùng nhau thề nguyền kết duyên đôi lứa. Ngay sau đó, Kim Trọng phải từ biệt Thuý Kiều để về quê chịu tang chú. Cùng lúc, nhà họ Vương mắc án oan, Thuý Kiều phải bán mình chuộc cha, trao duyên cho Thuý Vân. Nàng bị Mã Giám Sinh và Tú Bà lừa đưa vào lầu xanh, rồi được Thúc Sinh chuộc ra làm lẽ nhưng bị vợ cả là Hoạn Thư ghen tuông, đày đoạ. Thuý Kiều phải bỏ trốn và bị Bạc Bà, Bạc Hạnh lừa bán vào lầu xanh lần nữa. Nàng may mắn gặp Từ Hải, được cứu ra khỏi lầu xanh, có cơ hội báo ân báo oán. Nhưng Kiều lại mắc mưu quan Tổng đốc Hồ Tôn Hiến, khuyên Từ Hải hàng quân triều đình. Điều này dẫn tới việc Từ Hải bị chết đứng, còn nàng bị ép gả cho một viên thổ quan. Nàng nhảy xuống sông Tiền Đường, nhưng được sư Giác Duyên cứu sống. Còn Kim Trọng, khi trở lại vườn Thuý, hay tin Thuý Kiều phải bán mình thì vô cùng đau đớn. Chàng cưới Thuý Vân (theo nguyện vọng của Thuý Kiều) nhưng vẫn kiên trì, thiết tha tìm kiếm nàng suốt mười lăm năm. Sau cùng, họ được đoàn tụ nhưng "duyên đôi lứa" đã thành "duyên bạn bầy". Truyện Kiều là tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc. Về tư tưởng, Truyện Kiều có giá trị hiện thực và giá trị nhân văn sâu sắc. Tác phẩm ngợi ca, trân trọng những giá trị của con người, đặc biệt là người phụ nữ với những phẩm chất như thông minh, thuỷ chung, hiếu thuận, nhân hậu, tự trọng,... Cùng với thái độ ngưỡng mộ, trân trọng ấy là niềm cảm thương, đau đớn trước những số phận bi kịch; là tiếng nói đồng tình với khát vọng tự do sống, tự do yêu đương cũng như khát vọng công lí. Những khát vọng nhân bản ấy được đặt lên hàng đầu, nhiều khi vượt lên trên sự kiềm toả của lễ giáo, thậm chí có khi đối nghịch với quy chuẩn đạo đức phong kiến, có được sự đồng cảm của người đọc hiện đại. Về nghệ thuật, Truyện Kiều đã kết tinh được nhiều thành tựu của nền văn học dân tộc. Cốt truyện được tổ chức lại và có nhiều sáng tạo so với cốt truyện được mượn từ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, biến một tiểu thuyết về tình ái đơn thuần thành một truyện thơ Nôm về thân phận con người mang giá trị phổ quát. Ở Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc được sử dụng tài tình và đã đạt tới đỉnh cao, hài hoà giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân. Nhiều từ ngữ, cách diễn đạt trong Truyện Kiều được sử dụng lại một cách sinh động trong đời sống và trở thành điển phạm cho các tác phẩm văn học đời sau. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Truyện Kiều, đặc biệt là bút pháp miêu tả ngoại hình thông qua thủ pháp ước lệ, miêu tả tâm lí qua "tả cảnh ngụ tình" được sử dụng ấn tượng, hiệu quả. Các nhân vật, cả tốt và xấu, ở tuyến chính hay tuyến phụ đều được cá thể hoá ngoại hình và ngôn ngữ với mức độ cao; nhiều nhân vật có thế giới nội tâm phong phú. Đặc biệt, một số nhân vật như Thúc Sinh, Hoạn Thư, Từ Hải, Thuý Kiều chủ yếu được khắc hoạ bằng bút pháp hiện thực, chứa cả ưu điểm và hạn chế, nhờ đó mang tính đa chiều, phức tạp, trở thành những nhân vật rất thực, rất đời, thể hiện cái nhìn sâu sắc của Nguyễn Du về con người. Truyện Kiều của Nguyễn Du là một kiệt tác của nền văn học Việt Nam, có những đóng góp to lớn đã được ghi nhận và còn tiếp tục được khám phá. Từ lâu, tác phẩm đã hiện diện sinh động trong đời sống văn hoá dân tộc qua những hoạt động truyền thống như ngâm Kiều, lẩy Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều,... hay được tái sinh trong nhiều sáng tác của nghệ thuật hiện đại như kịch nói, điện ảnh,... Đó là các minh chứng cho sức sống lâu bền của tác phẩm. (Bài làm của học sinh, có chỉnh sửa) Điền vào chỗ trống. Bài thuyết minh Truyện Kiều − kiệt tác của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du gồm những nội dung sau: − Giới thiệu chung về . − Giới thiệu về tác giả Nguyễn Du. − Hoàn cảnh sáng tác, đặc điểm . − Tóm tắt tác phẩm Truyện Kiều. − Làm rõ giá trị tác phẩm. − Làm rõ giá trị nghệ thuật tác phẩm. − Khẳng định tác phẩm trong nền văn học dân tộc. (Kéo thả hoặc click vào để điền)
Câu hỏi:
Trong bài thuyết minh Truyện Kiều − kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du, nội dung nào được tác giả xác định là trọng tâm? (Chọn 2 đáp án).
Câu hỏi:
Trong bài viết Truyện Kiều − kiệt tác của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, yếu tố tự sự được sử dụng chủ yếu ở những phần nào?
Câu hỏi:
Trong bài viết Truyện Kiều − kiệt tác của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du, yếu tố miêu tả xuất hiện nhiều ở phần nào?
Câu hỏi:
Nhận định nào dưới đây là đúng khi nói về yếu tố biểu cảm và yếu tố nghị luận được sử dụng trong bài viết Truyện Kiều − kiệt tác của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du? (Chọn 2 đáp án).
III. THỰC HÀNH VIẾT
1. Chuẩn bị viết
Đề tài cho bài thuyết minh rất đa dạng, phong phú, tuy nhiên nên ưu tiên lựa chọn những tác phẩm có giá trị về nội dung và nghệ thuật.
Gợi ý lựa chọn: Có thể chọn thuyết minh về một số văn bản trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10 như: Mùa xuân chín (Hàn Mặc Tử), Bình Ngô đại cáo (Đại cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi), Một chuyện đùa nho nhỏ (An−tôn Sê−khốp − Anton Chekhov), Dưới bóng hoàng lan (Thạch Lam), Con đường không chọn (Rô−bớt Phờ−rót − Robert Frost),... hoặc chủ động lựa chọn tác phẩm khác phù hợp.
2. Tìm ý, lập dàn ý
Tìm ý
Để tìm ý cho bài thuyết minh về một tác phẩm văn học, bạn có thể suy nghĩ và triển khai nội dung dựa trên các câu hỏi định hướng như sau:
− Lý do lựa chọn thuyết minh về tác phẩm này là gì?
− Tác giả và tác phẩm được thuyết minh có vị trí như thế nào?
− Tác phẩm được sáng tác trong hoàn cảnh nào, thuộc thể loại gì?
− Nội dung cơ bản và đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm là gì?
− Giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tác phẩm được nhìn nhận, đánh giá như thế nào?
− Tác phẩm có đóng góp gì cho đời sống văn học?
Lập dàn ý
Để lập dàn ý, sử dụng kết quả của phần Tìm ý và tổ chức, sắp xếp các ý theo trật tự hợp lí. Dàn ý cần triển khai được các nội dung cơ bản của bài viết:
Phần | Nội dung cần triển khai |
Mở bài | Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm. |
Thân bài | − Giới thiệu ngắn gọn về quê quán, gia đình, con người và sự nghiệp văn chương của tác giả. Ví dụ, khi viết bài thuyết minh về Bình Ngô đại cáo, cần cung cấp những thông tin cơ bản về tiểu sử và vị trí của Nguyễn Trãi trong nền văn học dân tộc. − Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác và thể loại của tác phẩm. Ví dụ, Bình Ngô đại cáo được sáng tác khi cuộc kháng chiến chống Minh giặc Minh thắng lợi, do Nguyễn Trãi thừa lệnh Lê Lợi chấp bút. Tác phẩm thuộc thể cáo, có bố cục nghiêm ngặt theo khuôn mẫu quy phạm. Với thơ, cần nêu được đề tài, cảm hứng chủ đạo, bố cục; với truyện, cần tóm lược được cốt truyện. − Trình bày giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm. Với tác phẩm thơ, cần chú trọng đến nghệ thuật trữ tình, giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật; với tác phẩm truyện, chú ý cách xây dựng tình huống, tổ chức cốt truyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật trần thuật,... Ví dụ, bài viết tham khảo đã tập trung thuyết minh về giá trị nhân văn sâu sắc và những thành tựu nghệ thuật nổi bật của Truyện Kiều (cốt truyện, xây dựng nhân vật, thể thơ lục bát,...). Ở phần này, có thể lồng ghép khéo léo yếu tố miêu tả, tự sự, biểu cảm và nghị luận. |
Kết bài | Khẳng định vai trò và giá trị của tác phẩm đối với nền văn học dân tộc hoặc đời sống văn hoá − tinh thần của đất nước và nhân loại. Ví dụ, Bình Ngô đại cáo là bản tuyên ngôn độc lập hùng tráng của nước Đại Việt; Truyện Kiều là kiệt tác, đỉnh cao nghệ thuật, tiêu biểu cho tinh hoa văn học dân tộc Việt Nam,... |
3. Viết
− Trong quá trình viết, cần tập trung làm nổi bật mục tiêu chính của văn bản thuyết minh: cung cấp thông tin chính xác và hữu ích về tác phẩm.
− Có thể đan xen một cách hợp lý các yếu tố khác như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,... để làm cho bài viết thêm sinh động và lôi cuốn.
− Văn phong của bài viết cần ngắn gọn, chính xác, khoa học và phù hợp với đối tượng thuyết minh; không để các yếu tố bổ trợ (miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận) làm lệch hướng mục đích chính của bài viết là cung cấp thông tin, truyền tải tri thức một cách rõ ràng.
4. Chỉnh sửa, hoàn thiện
Sau khi hoàn thành bài viết, cần đọc lại kỹ lưỡng và so sánh với yêu cầu của kiểu bài cũng như dàn ý đã xây dựng để có thể điều chỉnh và hoàn thiện. Lưu ý một số tiêu chí quan trọng sau:
− Bài viết phải cung cấp cho người đọc thông tin cơ bản về tác phẩm, bao gồm: tác giả, nội dung chính, giá trị tư tưởng và nghệ thuật,...
− Các nội dung thuyết minh được sắp xếp hợp lí, mạch lạc, có trọng tâm và đảm bảo sự cân đối.
− Bài viết có sự lồng ghép phù hợp giữa thuyết minh với một hoặc nhiều yếu tố bổ trợ như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận,... nhằm tăng sự hấp dẫn cho bài viết.