Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học (kịch bản văn học) hoặc tác phẩm nghệ thuật (bộ phim) (phần 1) SVIP
VIẾT VĂN BẢN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC (KỊCH BẢN VĂN HỌC) HOẶC TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT (BỘ PHIM)
I. Tri thức về kiểu bài
1. Kiểu bài
Câu hỏi:
@206641695263@
2. Yêu cầu đối với kiểu bài
− Nội dung và hình thức:
+ Về nội dung: Nêu và phân tích được một số nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của truyện thơ hoặc bài hát, dựa trên các lí lẽ xác đáng và bằng chứng tiêu biểu, phù hợp, được trích từ tác phẩm.
+ Về hình thức: Đảm bảo đầy đủ các yêu cầu của bài văn nghị luận như lập luận chặt chẽ, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc; sử dụng linh hoạt các phương tiện liên kết và sử dụng hợp lí các thao tác lập luận.
− Bố cục:
+ Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận hoặc nêu định hướng của bài viết.
+ Thân bài:
++ Trình bày các luận điểm nhằm làm nổi bật những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật.
++ Đưa ra lí lẽ và bằng chứng đa dạng, thuyết phục.
++ Sắp xếp luận điểm, lí lẽ, bằng chứng theo trình tự hợp lí.
+ Kết bài: Khẳng định ý kiến về giá trị tác phẩm hoặc nêu ý nghĩa của tác phẩm.
II. Ngữ liệu tham khảo
1. Ngữ liệu tham khảo 1
Xung đột trong bi kịch Vũ Như Tô
Việc Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài cho Lê Tương Dực theo lời khuyên của Đan Thiềm là nguyên nhân trực tiếp làm nảy sinh xung đột bi kịch. Tuy nhiên, đây không phải là xung đột thông thường mà là xung đột vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính nhân loại.
Trong kịch bản, Vũ Như Tô đã nhắc đến Lê Thánh Tông, ai oán vì sao mình phải xây dựng điện đài cho hôn quân bạo chúa Lê Tương Dực, chứ không phải cho vị hoàng đế hiền minh đã quá cố này. Ai oán thì cứ ai oán, nhưng nhân vật này (và tất nhiên cả tác giả của nó) thừa biết là chỉ Lê Tương Dực, chứ Lê Thánh Tông thì sẽ không bao giờ ra lệnh xây Cửu Trùng Đài.
[...]
Ta tiến gần đến cốt lõi của xung đột bi kịch trong vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng. Vũ Như Tô, nghệ sĩ tài trời đã ngoại tứ tuần (tuổi của nhân vật được nhắc đi nhắc lại trong kịch bản kiệm lời) mà chưa làm nên sự nghiệp gì, đứng trước ngã rẽ của hai con đường, mỗi đường oan nghiệt theo một kiểu: hoặc chối từ thiên chức của mình, tức là tự sát, hoặc tuân lệnh Lê Tương Dực và mượn tay Lê Tương Dực để thực hiện mộng lớn sáng tạo, nhưng như thế tất yếu sẽ gieo rắc thêm nhiều tai hoạ cho quần chúng nhân dân vốn đã quá khốn khổ vì bị áp bức, bóc lột, ức hiếp trăm đường. Quyền lợi của quần chúng nhân dân được tác giả bênh vực bằng những phương tiện nghệ thuật đầy thuyết phục, không thể đặt chúng xuống dưới phạm trù "cái nhất thời" mà hi sinh cho "cái vĩnh cửu" được. Và khi họ Vũ chọn con đường xây dựng Cửu Trùng Đài, ông ý thức rất rõ những gì phải làm để đạt đích. Ông đòi vua cho mình "toàn quyền làm việc, kẻ nào trái lệnh chém bêu đầu". Công trình với năm vạn thợ bên trong và mười vạn thợ bên ngoài được so sánh với cuộc chiến tranh với nước ngoài. Cái quyền sống của nhân dân bị hi sinh không thương tiếc trong cuộc chiến ấy được phát lên thành lời nhiều lần và từ nhiều miệng: từ miệng Trịnh Duy Sản ở Hồi II (Trịnh Duy Sản trong kịch bản là một quan võ thô bạo và hủ nho, nhưng can đảm, chính trực, lo lắng cho lợi ích của nước, của dân, đối lập với gian thần Nguyễn Vũ), từ miệng người thợ đào ngũ và bị đưa đi hành quyết ở Hồi III, rồi tế nhị từ miệng Thị Nhiên ở Hồi IV và sỗ sàng, hể hả từ miệng những người lính nổi loạn ở hồi cuối, trước lúc hạ màn. Điệp khúc nguyền rủa Cửu Trùng Đài vang lên song song với điệp khúc ngưỡng vọng Cửu Trùng Đài trong tổng phổ phức điệu của kịch Vũ Như Tô. [...]
Như vậy, hai lực đối kháng và đồng đẳng xung đột quyết liệt trong tác phẩm bi kịch hoàn chỉnh một cách cổ điển của Nguyễn Huy Tưởng: nghệ sĩ và nhân dân. Nghệ sĩ mượn tay vương quyền để khẳng định thiên tài sáng tạo của mình, không đếm xỉa đến mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của nhân dân. Nhân dân không chấp nhận sự áp đặt giá trị với những đòi hỏi hi sinh từ phía nghệ sĩ, nổi dậy tiêu diệt nghệ sĩ và công trình kì quan của y. Nếu quan niệm hoạt động sáng tạo là sự thực hiện mệnh lệnh của cái đẹp và việc bảo vệ quyền sống và các quyền chính đáng khác của con người là sự thực hiện mệnh lệnh của cái thiện, thì trước chúng ta là cuộc xung đột khốc liệt giữa cái đẹp và cái thiện, cuộc xung đột có ý nghĩa lịch sử nhân loại mà nhà văn Việt Nam Nguyễn Huy Tưởng đã khắc hoạ [...].
Theo Phạm Vĩnh Cư
(Trích Bàn thêm về bi kịch Vũ Như Tô, in trong Sáng tạo và giao lưu,
NXB Giáo dục, 2007, tr. 39 − 41)
Câu hỏi:
@206644043769@
Câu hỏi:
@206644762757@
Câu hỏi:
@206645177938@
Câu hỏi:
@206645528194@
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây