Đăng nhập ngay để lưu kết quả bài làm
Đăng nhập

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Phần 2)

Câu 1
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,
NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,
in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Nhận xét nào dưới đây là đúng về vũ khí chiến đấu của những người nghĩa sĩ nông dân?

Thể hiện sự chuẩn bị chu đáo về trang bị chiến đấu, góp phần tạo nên ưu thế vượt trội trước quân xâm lược.
Cho thấy sự phụ thuộc vào công cụ lao động, làm hạn chế đáng kể hiệu quả chiến đấu của người nghĩa sĩ.
Góp phần khắc hoạ điều kiện chiến đấu thiếu thốn, qua đó làm nổi bật ý chí và tinh thần chiến đấu của người nghĩa sĩ.
Nhấn mạnh tính chất hiện đại của lực lượng nghĩa sĩ, cho thấy khả năng tiếp cận vũ khí tiên tiến của họ.
Câu 2
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,
NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,
in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Nhận xét nào dưới đây là đúng về ý nghĩa của phần thích thực trong văn bản?

Là bản hùng ca về sức mạnh tinh thần, khẳng định lòng yêu nước và ý thức chính nghĩa mới là vũ khí mạnh nhất.
Phản ánh sâu sắc nỗi đau thương mất mát, cho thấy sự bế tắc của người nông dân khi phải hi sinh vì vận mệnh dân tộc.
Miêu tả cụ thể các chiến thuật đánh đồn, chứng minh tính hiệu quả của lối đánh thô sơ trước hoả lực của thực dân.
Tái hiện chân thực đời sống lam lũ, phản ánh sự chênh lệch lớn về trang bị quân sự giữa ta và kẻ thù xâm lược.
Câu 3
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,
NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,
in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Nhận xét nào dưới đây là đúng về ý nghĩa của phần ai vãn trong văn bản?

Là khúc ca bi tráng thấm đẫm nỗi đau, từ nước mắt người thân và nỗi sầu sông núi, nâng mất mát cá nhân lên tầm bi kịch sử thi.
Là lời khẳng định sức mạnh tinh thần, đề cao ý chí chiến đấu và lòng dũng cảm vượt lên mọi thiếu thốn về vũ khí, trang bị.
Là bản tổng kết chiến công, nhấn mạnh kết quả trận đánh và vai trò quyết định của nghĩa quân trước kẻ thù xâm lược.
Là bức tranh hiện thực chiến tranh, tái hiện đầy đủ diễn biến trận đánh và những tổn thất nặng nề của cả hai phía tham chiến.
Câu 4
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,
NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,
in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Nhận xét nào dưới đây là đúng về ý nghĩa của phần kết trong văn bản?

Tố cáo tội ác quân thù, tập trung phơi bày sự tàn bạo và những đau thương mà chúng gây ra cho nhân dân vô tội.
Nâng tầm sự hi sinh thành tượng đài bất tử, khẳng định chết vì đại nghĩa là hoá thân vào hồn thiêng, danh thơm lưu truyền muôn đời.
Tái hiện toàn cảnh trận đánh, nhấn mạnh diễn biến giao tranh và kết quả chiến thắng của nghĩa quân trước lực lượng xâm lược.
Phân tích nguyên nhân thất bại, lí giải hạn chế về lực lượng và điều kiện chiến đấu của nghĩa sĩ trong bối cảnh lịch sử cụ thể.
Câu 5
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,
NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,
in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.

Văn bản gửi gắm những thông điệp sâu sắc về sức mạnh và con người Việt Nam. Lòng yêu nước trong mỗi người dân nhỏ bé, nó có thể bùng lên mãnh liệt khi Tổ quốc bị xâm lăng, biến họ thành những anh hùng quả cảm. Tác phẩm khẳng định quan niệm sống cao đẹp: Thà chết vì còn hơn sống trong kiếp nô lệ. Đồng thời, Nguyễn Đình Chiểu đã hình tượng người anh hùng mới − người nông dân, qua đó đề cao vai trò của trong lịch sử dân tộc.

tạc dựngtàng trữđại nghĩathành phẩmtiềm tàngđại sựnhân dânphẩm giá

(Kéo thả hoặc click vào để điền)