Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

Câu 1
1đ

Một số thông tin cơ bản về tác giả Nguyễn Đình Chiểu:

− Tục gọi là cụ đồ Chiểu, tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ.

− Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho tại huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay là phường Cầu Ông Lãnh, thành phố Hồ Chí Minh).

− Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định lúc 21 tuổi; đến năm 1847, lên đường ra Huế chờ khoa thi.

− Ngày 31/12/1848, bỏ thi và quay về quê vì nghe tin mẹ mất; vì quá thương khóc mẹ cùng với sự vất vả dọc đường đi, Nguyễn Đình Chiểu ốm nặng và mù loà.

− Ông nghỉ chữa bệnh tại nhà một thầy thuốc vốn dòng dõi Ngự y nên học được nghề thuốc.

− Năm 1851, ông mở trường dạy học và làm thầy thuốc tại quê nhà và bắt đầu sáng tác văn chương.

− Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu có thể chia thành hai giai đoạn:

+ Giai đoạn đầu (Những năm 50 của thế kỉ XIX): Khẳng định tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân. Ví dụ các tác phẩm: "Dương Từ – Hà Mậu", "Lục Vân Tiên".

+ Giai đoạn sau (Từ ngày Pháp chiếm Gia Định năm 1859): Lên án quân Pháp xâm lược, phê phán triều đình, ca ngợi anh hùng nhân dân. Ví dụ các tác phẩm: "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", "Ngự Tiền y thuật vấn đáp".

Trong các nhận định sau, nhận định nào đúng, nhận định nào sai khi nói về tác giả Nguyễn Đình Chiểu?

(Nhấp vào ô màu vàng để chọn đúng / sai)
a) Ông mở trường dạy học và làm thầy thuốc tại quê nhà và bắt đầu sáng tác văn chương từ năm 1851.
b) Nguyễn Đình Chiểu bị mù loà vì quá thương khóc khi nghe tin mẹ mất.
c) Tác phẩm "Dương Từ – Hà Mậu" và "Ngự Tiền y thuật vấn đáp" là những sáng tác tiêu biểu thuộc giai đoạn đầu của ông.
d) Trong giai đoạn đầu sáng tác, thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu tập trung lên án quân xâm lược, phê phán triều đình nhà Nguyễn.
Câu 2
1đ

Nối mỗi phần trong bố cục của thể loại Văn tế với nội dung biểu đạt tương ứng.

Câu 3
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu được sáng tác trong hoàn cảnh

nghĩa quân Cần Giuộc dành được thắng lợi vang dội nhằm ca ngợi và tôn vinh công ơn của những người anh hùng áo vải.
Nguyễn Đình Chiểu lánh về Gia Định để ghi lại tổn thất nặng nề của quân Pháp trước tinh thần chiến đấu của nghĩa quân.
Tuần phủ Đỗ Quang yêu cầu viết để đọc tại buổi truy điệu các nghĩa sĩ hi sinh trong trận tấn công đồn Pháp ở Cần Giuộc đêm 16/12/1861.
giặc Pháp nổ súng đánh vào Đà Nẵng năm 1858 nhằm mục đích kêu gọi toàn thể nhân dân cả nước đồng lòng đứng lên kháng chiến.
Câu 4
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Những phương thức biểu đạt chủ yếu của văn bản "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" gồm

biểu cảm và tự sự.
biểu cảm và nghị luận.
miêu tả và nghị luận.
tự sự và miêu tả.
Câu 5
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Nối để xác định bố cục của văn bản.

Câu 6
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,
NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,
in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Trong phần Lung khởi, bối cảnh thời đại được tái hiện qua sự đối lập giữa hai hình ảnh nào?

Vũ khí tàn bạo của "súng giặc" và chính nghĩa của "lòng dân".
Tiếng thán từ "Hỡi ơi" và thực tại phũ phàng khi giặc Pháp nổ súng.
Sự tiêu tan của thân xác và danh tiếng trường tồn của nghĩa sĩ.
Cuộc sống bình yên của nông dân và sự đảo lộn của không gian.
Câu 7
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Thán từ "Hỡi ơi" mở đầu phần Lung khởi có vai trò chủ yếu nào sau đây?

Báo hiệu trận đánh đồn giặc Pháp bắt đầu.
Ca ngợi chiến công hiển hách của nghĩa quân.
Kêu gọi nhân dân đứng lên vì đại nghĩa.
Thiết lập bầu không khí bi tráng cho tác phẩm.
Câu 8
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Điền từ thích hợp vào chỗ trống.

Phần lung khởi của văn bản đã tái hiện một cách sinh động và sâu sắc bối cảnh thời đại bão táp qua sự giữa thế lực kẻ thù tàn bạo cùng vũ khí tối tân với sáng ngời, tôn nghiêm của lòng dân. Bằng cách xây dựng những cặp phạm trù mang tính chất đòn bẩy, Nguyễn Đình Chiểu không chỉ cho những người nghĩa sĩ đã ngã xuống mà còn bước đầu khẳng định một triết lí nhân sinh vô cùng cao đẹp: Cái chết vì đại nghĩa hoàn toàn không phải là , tan biến vô nghĩa vào hư không mà chính là sự thiêng liêng vào hồn thiêng sông núi, là cách duy nhất để con người vượt qua giới hạn của tạo hoá để trở nên bất tử với thời gian.

tương phảnhoá thânphi nghĩasự vô hìnhtương đồngsự chấm dứtchính nghĩađối đầuđối lậpkhóc thương

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 9
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Ở phần mở đầu của thích thực, những công việc lao động nào được nhắc đến như những điều "vốn quen làm" của người nông dân?

Cuốc, cày, bừa, cấy.
Tập khiên, tập súng.
Cuốc, cày, cấy, tập cờ.
Cung ngựa, trường nhung.
Câu 10
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Sự đối lập giữa hai thế giới "quen" (cuốc, cày, bừa, cấy) và "lạ" (khiên, súng, mác, cờ) trong đoạn thơ nhằm mục đích chính nào?

Tố cáo tội ác tàn bạo và những vũ khí hủy diệt của thực dân Pháp.
Nhấn mạnh nông dân chưa từng được chuẩn bị cho chiến tranh.
Phê phán sự yếu ớt, thiếu kỹ năng chiến đấu của người nghĩa quân.
Ca ngợi tài năng sử dụng binh khí của người anh hùng áo vải.
Câu 11
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Việc tác giả tô đậm hoàn cảnh sống "cui cút", lam lũ và sự xa lạ với việc binh đao của người nông dân mang lại ý nghĩa gì cho hành động đánh giặc sau này của họ?

Giảm bớt tính chất bi tráng và đau thương của trận tập kích.
Làm cho hành động đứng lên vì đại nghĩa trở nên cao quý.
Chứng minh họ chiến đấu chỉ vì sự bắt buộc của triều đình.
Cho thấy họ đánh Tây hoàn toàn dựa vào sự may mắn.
Câu 12
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Chi tiết nào dưới đây diễn tả sự căm thù giặc lên đến đỉnh điểm khi chứng kiến tàu chiến và đồn luỹ của kẻ thù?

Phen này xin ra sức đoạn kình.
Muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ.
Ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
Trông tin quan như trời hạn mong mưa.
Câu 13
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Hình ảnh so sánh ghét kẻ thù xâm lược "như nhà nông ghét cỏ" mang đặc sắc gì?

Biểu thị nỗi lo âu và sợ hãi thường trực của nhân dân trước vũ khí tối tân của thực dân Pháp.
Cho thấy người nông dân chỉ lo việc ruộng vườn chứ không quan tâm đến vận mệnh đất nước.
Cho thấy sự thất vọng sâu sắc của người dân khi phải mòn mỏi chờ đợi tin tức từ triều đình.
Thể hiện thái độ căm ghét mang tính bản năng, triệt để của người nông dân đối với giặc.
Câu 14
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Dòng nào phản ánh đúng nhất ý thức chủ quyền dân tộc và động lực chiến đấu của người nông dân nghĩa sĩ được thể hiện trong phần thích thực?

Sử dụng hình ảnh "xa thư", "nhật nguyệt" để khẳng định chủ quyền và tự nguyện chiến đấu theo tiếng gọi của lương tri.
Đợi lệnh chiêu mộ chính thức từ triều đình, tuân thủ theo sự điều động của các quan cơ quân vệ để ra trận chiến đấu.
Chiến đấu vì mong muốn thay đổi hoàn cảnh sống nghèo khó, thoát khỏi cảnh lam lũ làm ăn của đời sống thường ngày.
Trốn tránh nghĩa vụ quân dịch từ phía triều đình nhưng bắt buộc phải đứng lên chống trả khi giặc tràn vào trong làng bộ.
Câu 15
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Trong trận chiến tập kích đồn địch, những đồ vật gần gũi, dân dã nào gắn liền với đời sống thường ngày đã được người nông dân nghĩa sĩ sử dụng làm vũ khí chiến đấu? (Chọn 3 đáp án)

Gươm giáo, súng nổ.
Lưỡi dao phay.
Bao tấu bầu ngòi.
Ngọn tầm vông.
Rơm con cúi.
Câu 16
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Điền từ thích hợp nhất để điền vào chỗ trống.

Bằng việc sử dụng liên tiếp chuỗi động từ mạnh mang tính tăng tiến như đạp rào, lướt tới, xô cửa, xông vào, Nguyễn Đình Chiểu đã tạo nên một nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ tựa như đang thúc giục ngoài sa trường. Câu văn với nhịp chuyển động nhanh ấy đã tái hiện sinh động tư thế xả thân của những người anh hùng áo vải, đồng thời ngợi ca ý chí sắt đá của những người nghĩa sĩ khi sẵn sàng đặt tình yêu Tổ quốc lên trên của bản thân.

Câu 17
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Điền từ thích hợp vào chỗ trống.

Đoạn văn tái hiện trận tập kích đồn giặc trong phần Thích thực thực chất chính là một bất tử ngợi ca sức mạnh tinh thần vô song của con người Việt Nam. Qua những trang văn đậm chất bi tráng, Nguyễn Đình Chiểu đã đưa ra một lời khẳng định mang tầm vóc thời đại: Thứ vũ khí và có sức mạnh huỷ diệt lớn nhất trong mọi cuộc chiến tranh vệ quốc hoàn toàn không phải là tàu đồng súng thép hay hoả lực hiện đại của kẻ thù xâm lược, mà chính là lòng yêu nước nồng nàn cùng ý thức sâu sắc về của những người con áo vải. Sức mạnh tinh thần ấy đã xoá tan mọi khoảng cách về khí tài quân sự, giúp những người nông dân lập nên những chiến công khiến kẻ thù khiếp sợ.

khúc ca ai oántinh thần tự pháttối tânthô sơbình thườngphi thườngbản hùng cachữ "nghĩa"

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 18
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Điển tích "Da ngựa bọc thây" được tác giả sử dụng trong câu "Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngực bọc thây" nhằm khẳng định điều gì về sự hi sinh của những người nghĩa sĩ nông dân?

Khẳng định cái chết vì đại nghĩa của họ đạt đến tầm vóc vĩ đại, anh hùng như các bậc tráng sĩ thời xưa.
Cho thấy lòng căm thù giặc sâu sắc và ước muốn được tiếp tục cống hiến lâu dài cho nền độc lập dân tộc.
Diễn tả nỗi đau thương, sầu muộn lan khắp không gian làm cho thiên nhiên cũng nhuốm màu tang tóc.
Phản ánh thực tế khắc nghiệt khi thi thể của các nghĩa sĩ không được chôn cất chu đáo sau trận đánh.
Câu 19
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Điền từ thích hợp vào chỗ trống.

Trong câu "Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng/ Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ", nỗi đau thương trước sự ngã xuống của các nghĩa sĩ không còn gói gọn trong phạm vi mà đã lan toả, thấm đẫm vào không gian cộng đồng và . Tác giả đã mượn hình ảnh sông Cần Giuộc với "cỏ cây mấy dặm sầu giăng" để khắc hoạ một thiên nhiên nhuốm màu , đồng thời dùng hình ảnh "già trẻ hai hàng luỵ nhỏ" tại chợ Trường Bình để biểu thị nỗi lòng sâu sắc của nhân dân dành cho những người anh hùng đã khuất.

sợ hãilo âuthời giancộng đồngtập thểthiên nhiêncá nhântang tócthương xótbàng hoàng

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 20
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Tuyên ngôn về lẽ sống "Thà chết vinh còn hơn sống nhục" của người nghĩa sĩ nông dân được thể hiện tập trung nhất qua câu văn tế nào dưới đây?

Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;/ Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.
Chẳng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;/ Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;/ Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.
Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;/ Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
Câu 21
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Trong các nhận định sau, nhận định nào đúng, nhận định nào sai khi nhận xét về giọng điệu của tác giả trong phần Ai vãn?

(Nhấp vào ô màu vàng để chọn đúng / sai)
a) Giọng điệu chủ yếu là sự reo vui, hào hứng trước những chiến công phi thường và thể hiện sự tự hào về các vũ khí hiện đại của nghĩa quân.
b) Giọng điệu Ai vãn có sự kết hợp hài hoà giữa nỗi đau đớn xé lòng trước mất mát và niềm ngưỡng mộ, ngợi ca phẩm giá anh hùng.
c) Giọng điệu đoạn này mang tính chất bi thương thuần tuý, chỉ tập trung thể hiện tiếng khóc sầu não, bi luỵ trước tổn thất lớn lao của nghĩa quân.
d) Âm hưởng đoạn này vừa thấm đẫm giọt nước mắt đau xót của người thân, vừa mang tính chất bi tráng khi nâng tầm nỗi đau cá nhân thành bi kịch lịch sử.
Câu 22
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Dòng thơ nào trong phần kết thể hiện rõ nhất lý tưởng và tinh thần chiến đấu bền bỉ của người nghĩa sĩ ngay cả khi họ đã qua đời?

Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo.
Danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen.
Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.
Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc.
Câu 23
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Ý nghĩa sâu sắc nhất của lời từ biệt cuối cùng "Hỡi ơi! Có linh xin hưởng" cùng toàn bộ phần Kết của bài văn tế là gì?

Lời tổng kết các bài học chiến thuật quân sự nhằm rút kinh nghiệm cho các trận tập kích đồn giặc về sau.
Lời ca khẳng định mọi sự hy sinh của người dân chỉ nhằm mục đích đền đáp công ơn phong thưởng của vua.
Tiếng khóc than tuyệt vọng trước sự tan rã hoàn toàn của phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp.
Lời tiễn đưa thành kính, khẳng định sự hoá thân của nghĩa sĩ vào hồn thiêng sông núi để lưu danh muôn đời.
Câu 24
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Thông điệp nào dưới đây phản ánh đúng nhất quan niệm của tác giả về phẩm giá con người và ý nghĩa của cái chết vì đại nghĩa?

Phẩm giá con người chỉ được khẳng định khi họ lập được những chiến công hiển hách và mang lại vinh hoa phú quý cho gia đình.
Sự hy sinh nơi sa trường chỉ mang lại niềm đau thương, sự oán hận khôn nguôi cho những người thân còn ở lại nơi quê nhà.
Sự sống trong kiếp nô lệ vẫn có giá trị riêng nếu con người biết nhẫn nhịn để chờ thời cơ triều đình phong kiến ra tay cứu giúp.
Cái chết vì lòng căm thù giặc là cái chết bất tử, trong khi chấp nhận cuộc sống nhục nhã, cúi đầu theo giặc là sự tồn tại vô nghĩa.
Câu 25
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Ý nghĩa mang tính cách mạng và tiến bộ nhất trong việc xây dựng hình tượng nhân vật lịch sử được Nguyễn Đình Chiểu khẳng định qua tác phẩm này là gì?

Khẳng định nhân dân là thế lực anh hùng gánh vác vận mệnh đất nước.
Đề cao triều đình là lực lượng nòng cốt quyết định cục diện chiến trường.
Ca ngợi tướng lĩnh là tầng lớp duy nhất sở hữu sức mạnh quân sự.
Tôn vinh vũ khí là công cụ chủ chốt đánh bại mọi thế lực ngoại xâm.
Câu 26
1đ

VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC

Nguyễn Đình Chiểu

Hỡi ôi!

1. Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;

Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.

Nhớ linh xưa:

3. Cui cút làm ăn;

Toan lo nghèo khó.

4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

6. Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;

Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

7. Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan;

Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

8. Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu;

Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.

9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình;

Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ.

Khá thương thay!

10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh;

Chắng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ.

11. Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn;

Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố.

12. Ngoài cật có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi;

Trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ.

13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;

Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.

14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;

Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní hồn kinh;

Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.

Ôi!

16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;

Đâu biết xác phàm vội bỏ.

17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh, nào hay da ngựa bọc thây;

Trăm năm âm phủ ấy chữ quy, nào đợi gươm hùm treo mộ.

18. Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng;

Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng luỵ nhỏ.

19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh đánh giặc cho cam tâm;

Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực theo quân cho đáng số.

Nhưng nghĩ rằng:

20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi cho nước nhà ta;

Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chi ông cha nó.

21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;

Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.

22. Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn;

Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.

23. Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh;

Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.

Ôi thôi thôi!

24. Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;

Đồn Lang Sa một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.

25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Ôi!

26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ.

27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;

Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.

28. Thác mà trả nước non rồi nợ, danh thơm đồn sáu tỉnh chúng đều khen;

Thác mà ưng đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ.

29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;

Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó.

30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân;

Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.

Hỡi ôi thương thay!

Có linh xin hưởng.

(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,

NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,

in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 − 34)

Trong các nhận định sau, nhận định nào đúng, nhận định nào sai khi nói về đặc sắc nghệ thuật của văn bản?

(Nhấp vào ô màu vàng để chọn đúng / sai)
a) Sử dụng ngôn ngữ đậm chất Bắc Bộ kết hợp với từ Hán Việt trang trọng.
b) Gây dựng nghệ thuật trào phúng độc thoại, giúp phê phán trực diện sự bất lực và suy thoái của triều đình phong kiến.
c) Sử dụng linh hoạt các câu văn biền ngẫu kết hợp chuỗi động từ mạnh tạo nên nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ.
d) Kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự đau thương (bi) và hào hùng (tráng).