Bài học cùng chủ đề
Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư - Thúc Sinh SVIP
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Tác giả của văn bản "Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư − Thúc Sinh" là
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Văn bản "Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư − Thúc Sinh" được viết theo thể thơ nào dưới đây?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Văn bản "Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư − Thúc Sinh" sử dụng những phương thức biểu đạt nào dưới đây? (Chọn 2 đáp án)
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Văn bản "Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư − Thúc Sinh" thuộc phần nào dưới đây của tác phẩm "Truyện Kiều"?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nối để xác định nội dung chính của từng phần trong văn bản "Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư − Thúc Sinh".
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Ý nào dưới đây là đúng về hoàn cảnh của Thuý Kiều trong văn bản?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Sắp xếp các sự kiện dưới đây theo đúng trình tự của văn bản "Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư − Thúc Sinh".
- Kiều và Thúc Sinh bàng hoàng nhận ra nhau nhưng không dám hở lời.
- Tan cuộc rượu, vợ chồng Hoạn Thư đi ngủ, Kiều một mình khóc cho thân phận của bản thân.
- Hoạn Thư ép Kiều hầu rượu, quỳ tận mặt mời tận tay Thúc Sinh.
- Hoạn Thư bắt Kiều gảy đàn, Thúc Sinh đau lòng và cố gạt lệ.
- Thúc Sinh về thăm quê, Hoạn Thư cho gọi Kiều ra lạy mừng.
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nối để xác định hành động tương ứng của Hoạn Thư và Thúc Sinh khi Thuý Kiều mời rượu.
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nối để xác định hành động tương ứng của Hoạn Thư và Thúc Sinh khi Thuý Kiều hầu đàn.
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Ý nào dưới đây là đúng về tâm trạng của Thúc Sinh khi thấy Thuý Kiều ra lạy mừng?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Trong cuộc rượu, Hoạn Thư đã bắt ép Thuý Kiều phải làm những việc nào dưới đây? (Chọn 3 đáp án)
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Ý nào dưới đây là đúng về tâm trạng của Hoạn Thư thông qua dòng thơ "Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nhận xét nào dưới đây là đúng về tính cách của nhân vật Thúc Sinh trong đoạn trích?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Ý nào dưới đây là đúng về thái độ của tác giả Nguyễn Du với hoàn cảnh của Thuý Kiều?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nhận xét nào sau đây đúng về giá trị nhân đạo của đoạn trích "Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư − Thúc Sinh"?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Qua nhân vật Hoạn Thư, tác giả Nguyễn Du muốn phê phán điều gì dưới đây?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Thủ đoạn "giết người không dao" của Hoạn Thư thể hiện rõ nhất qua chi tiết nào dưới đây?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Những dòng thơ nào dưới đây thể hiện rõ nhất bản chất của nhân vật Hoạn Thư?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nhận xét nào dưới đây là đúng về thái độ của Hoạn Thư đối với Thuý Kiều?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Ý nào dưới đây là đúng về tâm trạng chủ đạo của Thuý Kiều trong suốt buổi hầu rượu?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nhận xét nào dưới đây là đúng về trạng thái của Thúc Sinh qua chi tiết "Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa."?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nhận xét nào dưới đây là đúng về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản "Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư − Thúc Sinh"?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nhận xét nào dưới đây là đúng về ý nghĩa của hình ảnh "Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh."?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Các nhân vật trong văn bản không được khắc hoạ qua phương diện nào dưới đây?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nguyễn Du đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật nào dưới đây để khắc hoạ nhân vật Hoạn Thư và Thúc Sinh?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nhận xét nào dưới đây là đúng về ý nghĩa của hình ảnh "chén tạc chén thù" trong đoạn trích?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Nhận xét nào dưới đây là đúng về phẩm chất của Thuý Kiều trong đoạn trích?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Thúc Sinh đã đưa ra lí do nào dưới đây để giải thích cho việc mình "sụt sùi nhỏ sa"?
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Những ý nào dưới đây là không đúng về đặc sắc nghệ thuật của văn bản "Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư − Thúc Sinh"? (Chọn 2 đáp án)
THUÝ KIỀU HẦU RƯỢU HOẠN THƯ – THÚC SINH
(Trích Truyện Kiều)
Nguyễn Du
Chạnh niềm nhớ cảnh gia hương,
1800. Nhớ quê, chàng lại tìm đường thăm quê.
Tiểu thư đón cửa dã dề,
Hàn huyên vừa cạn mọi bề gần xa.
Nhà hương cao cuốn bức là,
Buồng trong truyền gọi nàng ra lạy mừng.
1805. Bước ra một bước một dừng,
Trông xa nàng đã tỏ chừng nẻo xa:
"Phải chăng nắng quáng đèn loà,
Rõ ràng ngồi đó chẳng là Thúc Sinh?
Bây giờ tình mới rõ tình,
1810. Thôi thôi đã mắc vào vành chẳng sai.
Chước đâu có chước lạ đời?
Người đâu mà lại có người tinh ma?
Rõ ràng thật lứa đôi ta,
Làm ra con ở chúa nhà đôi nơi.
1815. Bề ngoài thơn thớt nói cười,
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
Bây giờ đất thấp trời cao,
Ăn làm sao nói làm sao bây giờ?"
Càng trông mặt, càng ngẩn ngơ,
1820. Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời.
Sợ uy dám chẳng vâng lời,
Cúi đầu nép xuống sân mai một chiều.
Sinh đà phách lạc hồn xiêu:
"Thương ôi chẳng phải nàng Kiều ở đây?
1825. Nhân làm sao đến thế này?
Thôi thôi đã mắc vào tay ai rồi!"
Sợ quen dám hở ra lời,
Khôn ngăn giọt ngọc sụt sùi nhỏ sa.
Tiểu thư trông mặt hỏi tra:
1830. – "Mới về có việc chi mà động dong?"
Sinh rằng: – "Hiếu phục vừa xong,
"Suy lòng trắc Dĩ đau lòng chung thiên."
Khen rằng: – "Hiếu tử đã nên!
Tẩy trần mượn chén giải phiền đêm thu."
1835. Vợ chồng chén tạc chén thù,
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời,
Bắt quỳ tận mặt bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây,
1840. Giọt dài giọt ngắn chén đầy chén vơi.
Ngoảnh đi chợt nói chợt cười,
Cáo say chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: – "Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn."
1845. Sinh càng nát ruột tan hồn,
Chén mời phải ngậm bồ hòn ráo ngay.
Tiểu thư cười nói tỉnh say,
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
Rằng: – "Hoa nô đủ mọi tài,
1850. Bản đàn thử dạo một bài chàng nghe."
Nàng đà tán hoán tê mê,
Vâng lời ra trước bình the vặn đàn.
Bốn dây như khóc như than,
Khiến người trên tiệc cũng tan nát lòng.
1855. Cùng trong một tiếng tơ đồng,
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.
Giọt châu lã chã khôn cầm,
Cúi đầu chàng những gạt thầm giọt tương.
Tiểu thư lại thét lấy nàng:
1860. – "Cuộc vui gảy khúc đoạn trường ấy chi?
Sao chẳng biết ý tứ gì?
Cho chàng buồn bã tội thì tại ngươi."
Sinh càng thảm thiết bồi hồi,
Vội vàng gượng nói gượng cười cho qua.
1865. Giọt rồng canh đã điểm ba,
Tiểu thư nhìn mặt dường đà cam tâm.
Lòng riêng khấp khởi mừng thầm:
"Vui này đã bõ đau ngầm xưa nay."
Sinh thì gan héo ruột đầy,
1870. Nỗi lòng càng nghĩ càng cay đắng lòng.
Người vào chung gối loan phòng,
Nàng ra tựa bóng đèn chong canh dài:
"Bây giờ mới rõ tăm hơi,
Máu ghen đâu có lạ đời nhà ghen!
1875. Chước đâu rẽ thuý chia uyên,
Ai ra đường nấy ai nhìn được ai.
Bây giờ một vực một trời,
Hết điều khinh trọng hết lời thị phi.
Nhẹ như bấc nặng như chì,
1880. Gỡ cho ra nữa còn gì là duyên?
Lỡ làng chút phận thuyền quyên,
Bể sâu sóng cả có tuyền được vay?"
Một mình âm ỉ đêm chầy,
Đĩa dầu vơi, nước mắt đầy năm canh.
(In trong Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, Hà Nội, 1979, tr. 126 – 128)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Qua cách xây dựng nhân vật Hoạn Thư, Nguyễn Du thể hiện cái nhìn sâu sắc về sự và chiều sâu ghê gớm của tâm lí con người. Con người không đơn giản một chiều mà luôn tồn tại nhiều lớp cảm xúc, suy nghĩ đan xen, thậm chí . Bề ngoài có thể mềm mỏng, nhã nhặn nhưng bên trong lại toan tính và ghen tuông mãnh liệt. Nguyễn Du cho thấy những động lực tâm lí kín đáo ấy có sức mạnh mẽ hành vi con người. Qua đó, ông bộc lộ cái nhìn và tỉnh táo trước những góc khuất của đời sống nội tâm.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây