Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu SVIP
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Văn bản "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu" được trích từ tác phẩm nào dưới đây?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Văn bản "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu" thuộc thể loại nào dưới đây?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Văn bản "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu" sử dụng những phương thức biểu đạt nào dưới đây? (Chọn 2 đáp án)
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Sắp xếp các nội dung dưới đây theo đúng trình tự của văn bản "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu".
- Sư cụ phát hiện, tỏ ý nghi ngờ và khuyên Thị Kính không nên nhận nuôi đứa trẻ.
- Thị Kính băn khoăn và quyết định nhận nuôi đứa bé vì lòng hiếu sinh.
- Cuộc sống vất vả nhưng chan chứa tình thương khi nuôi đứa trẻ.
- Thị Kính nghe tiếng trẻ con khóc.
- Thị Kính thuyết phục sư cụ bằng lí lẽ "làm phúc cứu người".
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Nối để xác định nội dung chính của từng phần trong văn bản "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu".
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Xác định ngôi kể của văn bản "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu".
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Ý nào dưới đây là đúng về phản ứng của Thị Kính khi nghe tiếng trẻ con khóc?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Những dòng thơ nào dưới đây cho thấy sự đấu tranh nội tâm của Thị Kính khi đối mặt với đứa trẻ?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Lí do nào dưới đây khiến Thị Kính quyết định nhận nuôi đứa bé?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Chi tiết "Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ" cho thấy Thị Kính quan niệm thế nào về việc làm điều thiện?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Khi biết chuyện Thị Kính nhận nuôi đứa trẻ, sư phụ đã có thái độ như thế nào?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Những lí do nào dưới đây đã khiến sư cụ băn khoăn với việc Thị Kính nuôi đứa trẻ? (Chọn 2 đáp án)
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Câu nói nào dưới đây của Thị Kính đã thuyết phục được sư cụ?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Cuộc đối thoại giữa Thị Kính và sư cụ cho thấy điều gì về nhân vật này?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Ý nào dưới đây là đúng về cuộc sống của Thị Kính sau khi nhận nuôi đứa bé?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Chi tiết "Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày." thể hiện điều gì về cuộc sống của thị Kính sau khi nhận nuôi đứa trẻ?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Nhận định nào dưới đây là đúng về đặc điểm ngôn ngữ của văn bản "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu"?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10,
Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Nhân vật Thị Kính là hình tượng người phụ nữ tiêu biểu cho vẻ đẹp của lòng , đức hi sinh và sự nhẫn nại. Dù chịu sự , nàng vẫn giữ trọn tấm lòng từ bi, vị tha, sẵn sàng nhận phần thiệt thòi để cứu giúp người khác. Qua hình tượng nhân vật này, tác phẩm ca ngợi phẩm chất cao quý của con người và khẳng định sức mạnh của lòng giữa cuộc đời nhiều bất công.
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Sau khi nhận nuôi đứa bé, Thị Kính đã đối xử với đứa bé như thế nào?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Người dân có thái độ, phản ứng như thế nào với việc Thị Kính nuôi đứa bé?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Thái độ, phản ứng của người dân về câu chuyện của Thị Kính đã phơi bày vấn đề xã hội nào?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Ý nghĩa triết lý sâu sắc nhất được gửi gắm qua việc Thị Kính chấp nhận nuôi con của Thị Mầu là gì?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Ý nào dưới đây là đúng về chủ đề chính của văn bản "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu"?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Chi tiết "Thoi đưa tháng trọn ngày qua, / Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi." thể hiện điều gì dưới đây?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Giá trị hiện thực của văn bản "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu" được thể hiện qua việc phơi bày sự bất công, hà khắc của xã hội đối với cá nhân. Thông qua nỗi oan của Thị Kính, văn bản phản ánh thực trạng một con người, một hành động dễ dàng bị phán xét, và chịu đựng oan ức bởi dư luận mà không được hay minh oan.
(Kéo thả hoặc click vào để điền)
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Ý nào dưới đây là không đúng về đặc sắc nghệ thuật của văn bản "Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu"?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Những dòng thơ "Phù trì như thổi ra ngay, / Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh." cho thấy tình yêu thương và sự của Thị Kính đã tạo nên hiệu quả trong việc nuôi dưỡng đứa bé. Thị Kính không cần đến bí quyết hay bài thuốc đặc biệt nào mà đứa bé vẫn lớn lên .
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Dù phải chịu nhiều oan ức và điều tiếng, điều gì đã giúp Thị Kính cảm thấy được an ủi?
THỊ KÍNH NUÔI CON CHO THỊ MẦU
(Trích Quan Âm Thị Kính – truyện thơ khuyết danh Việt Nam)
[…]
Tiểu đương tụng niệm khấn nguyền,
600. Bỗng nghe tiếng trẻ tá lên giật mình.
Ngoảnh đi thì dạ chẳng đành,
Nhận ra thì hoá là tình chẳng ngay.
Gớm thay mặt dạn mày dày,
Trân trân rằng giả con đây mà về.
605. Cơ thiền kể đã khắt khe,
Khéo xui ra đứa làm rê riếu mình.
Nhưng mà trong dạ hiếu sinh,
Phúc thì làm phúc, dơ thì đành dơ.
Cá trong chậu nước sởn sơ,
610. Thì nay chẳng cứu, còn chờ khi nao.
Chẳng sinh cũng chịu cù lao,
Xót tình măng sữa nâng vào trong tay.
Bữa sau sư phụ mới hay,
Dạy rằng: "Như thế thì thầy cũng nghi.
615. Phỏng như khác máu ru thì,
Con ai mặc nấy can gì đa mang".
Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương,
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to.
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
620. Sao bằng làm phúc cứu cho một người.
Vậy nên con phải vâng lời,
Mệnh người dám lấy làm chơi mà liều".
Sư nghe thưa lại mấy điều,
Khen rằng: "Cũng có ít nhiều từ tâm".
625. Rõ là nước lã mà nhầm,
Cũng đem giọt máu tình thâm hoà vào.
Mẹ vò thì sữa khát khao,
Lo nuôi con nhện làm sao cho tuyền.
Nâng niu xiết nỗi truân chuyên,
630. Nhai cơm mớm sữa để nên con người.
Đến dân ai cũng chê cười,
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.
Biết chăng một đứa thương đâu,
Mình là hai với Thị Mầu là ba.
635. Ra công nuôi bộ thực là,
Nhưng buồn có trẻ hoá ra đỡ buồn.
Khi trống tàn, lúc chuông dồn,
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.
Phù trì như thổi ra ngay,
640. Lọ phương hoạt ấu lọ thầy bảo anh.
Bùa thiêng đã sẵn kim kinh,
Ma vương kia cũng phải kiêng lọ là.
Thoi đưa tháng trọn ngày qua,
Mấy thu mà đã lên ba tuổi rồi.
645. Con mày mà giống cha nuôi,
Hình dung ý tứ khác nào bản sinh.
Mai ngày đến lúc trưởng thành,
Cơ cầu dễ rạng tiền trình hơn xưa.
[…]
(Trích Quan Âm Thị Kính, Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 10, Trung tâm Khoa học Xã hội
và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 411 – 413)
Ý nào dưới đây là đúng về kì vọng của Thị Kính vào tương lai của đứa bé?
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây