Bài học liên quan
Phần 1
(2 câu)Truyện Kiều − kiệt tác của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du
Truyện Kiều là kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du và của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt.
Nguyễn Du (1765 − 1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh ra trong một gia đình quyền quý, có nhiều người đỗ đạt cao và đạt nhiều thành tựu về sáng tác văn chương. Sống trong một thời đại đầy biến động dữ dội nên cuộc đời Nguyễn Du nếm trải nhiều thăng trầm. Ông có kiến thức uyên bác, trái tim nhân hậu và tài năng văn học bẩm sinh. Nguyễn Du để lại 250 bài thơ chữ Hán và một số tác phẩm viết bằng chữ Nôm, trong đó nổi bật nhất là Truyện Kiều.
Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ lục bát. Thời điểm sáng tác Truyện Kiều đến nay vẫn còn gây nhiều tranh luận, chưa có sự thống nhất. Tác phẩm gồm 3 254 câu thơ lục bát, dựa trên cốt truyện của cuốn tiểu thuyết chương hồi: Kim Vân Kiều truyện (Thanh Tâm Tài Nhân). Cốt truyện Truyện Kiều được tổ chức theo mô hình cơ bản của truyện thơ Nôm với ba phần: Gặp gỡ, đính ước − Tai biến, chia li − Đoàn tụ. Nội dung cốt truyện kể về cuộc đời mười lăm năm chìm nổi của Vương Thuý Kiều, người con gái tài sắc, đức hạnh vẹn toàn. Nhân buổi du xuân trong tiết Thanh minh, Thuý Kiều gặp gỡ Kim Trọng, một Nho sinh hào hoa, phong nhã và cả hai đều ôm mối tương tư. Kim Trọng đã tìm cách gặp mặt, bày tỏ tình yêu với Thuý Kiều, được nàng đón nhận và hai người trao nhau vật đính ước. Thuý Kiều đã tìm sang nhà Kim Trọng tình tự và họ cùng nhau thề nguyền kết duyên đôi lứa. Ngay sau đó, Kim Trọng phải từ biệt Thuý Kiều để về quê chịu tang chú. Cùng lúc, nhà họ Vương mắc án oan, Thuý Kiều phải bán mình chuộc cha, trao duyên cho Thuý Vân. Nàng bị Mã Giám Sinh và Tú Bà lừa đưa vào lầu xanh, rồi được Thúc Sinh chuộc ra làm lẽ nhưng bị vợ cả là Hoạn Thư ghen tuông, đày đoạ. Thuý Kiều phải bỏ trốn và bị Bạc Bà, Bạc Hạnh lừa bán vào lầu xanh lần nữa. Nàng may mắn gặp Từ Hải, được cứu ra khỏi lầu xanh, có cơ hội báo ân báo oán. Nhưng Kiều lại mắc mưu quan Tổng đốc Hồ Tôn Hiến, khuyên Từ Hải hàng quân triều đình. Điều này dẫn tới việc Từ Hải bị chết đứng, còn nàng bị ép gả cho một viên thổ quan. Nàng nhảy xuống sông Tiền Đường, nhưng được sư Giác Duyên cứu sống. Còn Kim Trọng, khi trở lại vườn Thuý, hay tin Thuý Kiều phải bán mình thì vô cùng đau đớn. Chàng cưới Thuý Vân (theo nguyện vọng của Thuý Kiều) nhưng vẫn kiên trì, thiết tha tìm kiếm nàng suốt mười lăm năm. Sau cùng, họ được đoàn tụ nhưng "duyên đôi lứa" đã thành "duyên bạn bầy".
Truyện Kiều là tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc. Về tư tưởng, Truyện Kiều có giá trị hiện thực và giá trị nhân văn sâu sắc. Tác phẩm ngợi ca, trân trọng những giá trị của con người, đặc biệt là người phụ nữ với những phẩm chất như thông minh, thuỷ chung, hiếu thuận, nhân hậu, tự trọng,... Cùng với thái độ ngưỡng mộ, trân trọng ấy là niềm cảm thương, đau đớn trước những số phận bi kịch; là tiếng nói đồng tình với khát vọng tự do sống, tự do yêu đương cũng như khát vọng công lí. Những khát vọng nhân bản ấy được đặt lên hàng đầu, nhiều khi vượt lên trên sự kiềm toả của lễ giáo, thậm chí có khi đối nghịch với quy chuẩn đạo đức phong kiến, có được sự đồng cảm của người đọc hiện đại.
Về nghệ thuật, Truyện Kiều đã kết tinh được nhiều thành tựu của nền văn học dân tộc. Cốt truyện được tổ chức lại và có nhiều sáng tạo so với cốt truyện được mượn từ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, biến một tiểu thuyết về tình ái đơn thuần thành một truyện thơ Nôm về thân phận con người mang giá trị phổ quát. Ở Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc được sử dụng tài tình và đã đạt tới đỉnh cao, hài hoà giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân. Nhiều từ ngữ, cách diễn đạt trong Truyện Kiều được sử dụng lại một cách sinh động trong đời sống và trở thành điển phạm cho các tác phẩm văn học đời sau. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Truyện Kiều, đặc biệt là bút pháp miêu tả ngoại hình thông qua thủ pháp ước lệ, miêu tả tâm lí qua "tả cảnh ngụ tình" được sử dụng ấn tượng, hiệu quả. Các nhân vật, cả tốt và xấu, ở tuyến chính hay tuyến phụ đều được cá thể hoá ngoại hình và ngôn ngữ với mức độ cao; nhiều nhân vật có thế giới nội tâm phong phú. Đặc biệt, một số nhân vật như Thúc Sinh, Hoạn Thư, Từ Hải, Thuý Kiều chủ yếu được khắc hoạ bằng bút pháp hiện thực, chứa cả ưu điểm và hạn chế, nhờ đó mang tính đa chiều, phức tạp, trở thành những nhân vật rất thực, rất đời, thể hiện cái nhìn sâu sắc của Nguyễn Du về con người.
Truyện Kiều của Nguyễn Du là một kiệt tác của nền văn học Việt Nam, có những đóng góp to lớn đã được ghi nhận và còn tiếp tục được khám phá. Từ lâu, tác phẩm đã hiện diện sinh động trong đời sống văn hoá dân tộc qua những hoạt động truyền thống như ngâm Kiều, lẩy Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều,... hay được tái sinh trong nhiều sáng tác của nghệ thuật hiện đại như kịch nói, điện ảnh,... Đó là các minh chứng cho sức sống lâu bền của tác phẩm.
(Bài làm của học sinh, có chỉnh sửa)

Truyện Kiều − kiệt tác của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du
Truyện Kiều là kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du và của nền văn học Việt Nam. Tác phẩm có vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của người Việt.
Nguyễn Du (1765 − 1820) tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh ra trong một gia đình quyền quý, có nhiều người đỗ đạt cao và đạt nhiều thành tựu về sáng tác văn chương. Sống trong một thời đại đầy biến động dữ dội nên cuộc đời Nguyễn Du nếm trải nhiều thăng trầm. Ông có kiến thức uyên bác, trái tim nhân hậu và tài năng văn học bẩm sinh. Nguyễn Du để lại 250 bài thơ chữ Hán và một số tác phẩm viết bằng chữ Nôm, trong đó nổi bật nhất là Truyện Kiều.
Truyện Kiều được viết bằng chữ Nôm, theo thể thơ lục bát. Thời điểm sáng tác Truyện Kiều đến nay vẫn còn gây nhiều tranh luận, chưa có sự thống nhất. Tác phẩm gồm 3 254 câu thơ lục bát, dựa trên cốt truyện của cuốn tiểu thuyết chương hồi: Kim Vân Kiều truyện (Thanh Tâm Tài Nhân). Cốt truyện Truyện Kiều được tổ chức theo mô hình cơ bản của truyện thơ Nôm với ba phần: Gặp gỡ, đính ước − Tai biến, chia li − Đoàn tụ. Nội dung cốt truyện kể về cuộc đời mười lăm năm chìm nổi của Vương Thuý Kiều, người con gái tài sắc, đức hạnh vẹn toàn. Nhân buổi du xuân trong tiết Thanh minh, Thuý Kiều gặp gỡ Kim Trọng, một Nho sinh hào hoa, phong nhã và cả hai đều ôm mối tương tư. Kim Trọng đã tìm cách gặp mặt, bày tỏ tình yêu với Thuý Kiều, được nàng đón nhận và hai người trao nhau vật đính ước. Thuý Kiều đã tìm sang nhà Kim Trọng tình tự và họ cùng nhau thề nguyền kết duyên đôi lứa. Ngay sau đó, Kim Trọng phải từ biệt Thuý Kiều để về quê chịu tang chú. Cùng lúc, nhà họ Vương mắc án oan, Thuý Kiều phải bán mình chuộc cha, trao duyên cho Thuý Vân. Nàng bị Mã Giám Sinh và Tú Bà lừa đưa vào lầu xanh, rồi được Thúc Sinh chuộc ra làm lẽ nhưng bị vợ cả là Hoạn Thư ghen tuông, đày đoạ. Thuý Kiều phải bỏ trốn và bị Bạc Bà, Bạc Hạnh lừa bán vào lầu xanh lần nữa. Nàng may mắn gặp Từ Hải, được cứu ra khỏi lầu xanh, có cơ hội báo ân báo oán. Nhưng Kiều lại mắc mưu quan Tổng đốc Hồ Tôn Hiến, khuyên Từ Hải hàng quân triều đình. Điều này dẫn tới việc Từ Hải bị chết đứng, còn nàng bị ép gả cho một viên thổ quan. Nàng nhảy xuống sông Tiền Đường, nhưng được sư Giác Duyên cứu sống. Còn Kim Trọng, khi trở lại vườn Thuý, hay tin Thuý Kiều phải bán mình thì vô cùng đau đớn. Chàng cưới Thuý Vân (theo nguyện vọng của Thuý Kiều) nhưng vẫn kiên trì, thiết tha tìm kiếm nàng suốt mười lăm năm. Sau cùng, họ được đoàn tụ nhưng "duyên đôi lứa" đã thành "duyên bạn bầy".
Truyện Kiều là tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật đặc sắc. Về tư tưởng, Truyện Kiều có giá trị hiện thực và giá trị nhân văn sâu sắc. Tác phẩm ngợi ca, trân trọng những giá trị của con người, đặc biệt là người phụ nữ với những phẩm chất như thông minh, thuỷ chung, hiếu thuận, nhân hậu, tự trọng,... Cùng với thái độ ngưỡng mộ, trân trọng ấy là niềm cảm thương, đau đớn trước những số phận bi kịch; là tiếng nói đồng tình với khát vọng tự do sống, tự do yêu đương cũng như khát vọng công lí. Những khát vọng nhân bản ấy được đặt lên hàng đầu, nhiều khi vượt lên trên sự kiềm toả của lễ giáo, thậm chí có khi đối nghịch với quy chuẩn đạo đức phong kiến, có được sự đồng cảm của người đọc hiện đại.
Về nghệ thuật, Truyện Kiều đã kết tinh được nhiều thành tựu của nền văn học dân tộc. Cốt truyện được tổ chức lại và có nhiều sáng tạo so với cốt truyện được mượn từ tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, biến một tiểu thuyết về tình ái đơn thuần thành một truyện thơ Nôm về thân phận con người mang giá trị phổ quát. Ở Truyện Kiều, ngôn ngữ văn học dân tộc được sử dụng tài tình và đã đạt tới đỉnh cao, hài hoà giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân. Nhiều từ ngữ, cách diễn đạt trong Truyện Kiều được sử dụng lại một cách sinh động trong đời sống và trở thành điển phạm cho các tác phẩm văn học đời sau. Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong Truyện Kiều, đặc biệt là bút pháp miêu tả ngoại hình thông qua thủ pháp ước lệ, miêu tả tâm lí qua "tả cảnh ngụ tình" được sử dụng ấn tượng, hiệu quả. Các nhân vật, cả tốt và xấu, ở tuyến chính hay tuyến phụ đều được cá thể hoá ngoại hình và ngôn ngữ với mức độ cao; nhiều nhân vật có thế giới nội tâm phong phú. Đặc biệt, một số nhân vật như Thúc Sinh, Hoạn Thư, Từ Hải, Thuý Kiều chủ yếu được khắc hoạ bằng bút pháp hiện thực, chứa cả ưu điểm và hạn chế, nhờ đó mang tính đa chiều, phức tạp, trở thành những nhân vật rất thực, rất đời, thể hiện cái nhìn sâu sắc của Nguyễn Du về con người.
Truyện Kiều của Nguyễn Du là một kiệt tác của nền văn học Việt Nam, có những đóng góp to lớn đã được ghi nhận và còn tiếp tục được khám phá. Từ lâu, tác phẩm đã hiện diện sinh động trong đời sống văn hoá dân tộc qua những hoạt động truyền thống như ngâm Kiều, lẩy Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều,... hay được tái sinh trong nhiều sáng tác của nghệ thuật hiện đại như kịch nói, điện ảnh,... Đó là các minh chứng cho sức sống lâu bền của tác phẩm.
(Bài làm của học sinh, có chỉnh sửa)
