Bài học liên quan
Phần 1
(3 câu)VỀ NGUYÊN TẮC VAY MƯỢN TỪ NGỮ
Hoàng Văn Hành
[...] Khi bàn về việc mượn tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Hán, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói rõ phạm vi những từ cần mượn. Về điểm này chúng tôi thấy trong những lời dạy của Người có hai ý quan trọng:
Một là, ta chỉ mượn tiếng nước ngoài khi “chữ ta không có sẵn”. Như thế tức là khi có những sự vật, những khái niệm mới cần được gọi tên, được biểu đạt, nhưng trong tiếng Việt còn thiếu những từ cần thiết và thích hợp, thì chúng ta phải mượn tiếng nước ngoài, như một số thuật ngữ khoa học chẳng hạn [...] nhưng chỉ nên dùng danh từ gì thật cần thiết và tiếng ta không có.
Hai là, ta chỉ mượn những từ “khó dịch đúng” sang tiếng ta hoặc trong tiếng ta “không có chữ gì dịch”. Chúng tôi hiểu những từ “khó dịch đúng” là những từ khi chuyển sang tiếng Việt không giữ được nguyên vẹn ý nghĩa hoặc màu sắc tu từ của chúng.
Căn cứ vào những ý kiến này, chúng tôi cho rằng chúng ta cần mượn và dùng những nhóm từ gốc Hán sau đây:
a. Những từ gốc Hán được mượn bằng cách giữ nguyên ý nghĩa khi trong tiếng Việt chưa có các từ tương ứng với chúng. Ví dụ: độc lập, du kích, đặc biệt,...
b. Những từ gốc Hán có quan hệ đồng nghĩa với từ Việt, nhưng khác với từ Việt về màu sắc biểu cảm hoặc phong cách. Chúng không thể hoàn toàn thay thế nhau được. Ví dụ: hi sinh, tạ thế − chết; sinh − đẻ;...
c. Những từ gốc Hán có quan hệ đồng nghĩa với từ Việt, nhưng khác với từ Việt về màu sắc ý nghĩa và cách dùng. Chúng không thể thay thế nhau trong mọi trường hợp. Ví dụ: phi − bay, niệm − đọc,...
Việc mượn và dùng những từ gốc Hán thuộc ba nhóm trên đây đúng mức, đúng chỗ là cần thiết, vì nó làm cho tiếng nói của ta giàu có, tế nhị chứ không đơn điệu, nghèo nàn. Cho nên, chỉ mượn “những chữ ta không có sẵn và khó dịch đúng” là một nguyên tắc chính trong khi vay mượn tiếng nước ngoài. [...]
(Theo Hoàng Văn Hành, Tìm hiểu những ý kiến của Hồ Chủ tịch về việc mượn và dùng từ gốc Hán,
in trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1980. tr. 106 − 107)
![]()
VỀ NGUYÊN TẮC VAY MƯỢN TỪ NGỮ
Hoàng Văn Hành
[...] Khi bàn về việc mượn tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Hán, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói rõ phạm vi những từ cần mượn. Về điểm này chúng tôi thấy trong những lời dạy của Người có hai ý quan trọng:
Một là, ta chỉ mượn tiếng nước ngoài khi “chữ ta không có sẵn”. Như thế tức là khi có những sự vật, những khái niệm mới cần được gọi tên, được biểu đạt, nhưng trong tiếng Việt còn thiếu những từ cần thiết và thích hợp, thì chúng ta phải mượn tiếng nước ngoài, như một số thuật ngữ khoa học chẳng hạn [...] nhưng chỉ nên dùng danh từ gì thật cần thiết và tiếng ta không có.
Hai là, ta chỉ mượn những từ “khó dịch đúng” sang tiếng ta hoặc trong tiếng ta “không có chữ gì dịch”. Chúng tôi hiểu những từ “khó dịch đúng” là những từ khi chuyển sang tiếng Việt không giữ được nguyên vẹn ý nghĩa hoặc màu sắc tu từ của chúng.
Căn cứ vào những ý kiến này, chúng tôi cho rằng chúng ta cần mượn và dùng những nhóm từ gốc Hán sau đây:
a. Những từ gốc Hán được mượn bằng cách giữ nguyên ý nghĩa khi trong tiếng Việt chưa có các từ tương ứng với chúng. Ví dụ: độc lập, du kích, đặc biệt,...
b. Những từ gốc Hán có quan hệ đồng nghĩa với từ Việt, nhưng khác với từ Việt về màu sắc biểu cảm hoặc phong cách. Chúng không thể hoàn toàn thay thế nhau được. Ví dụ: hi sinh, tạ thế − chết; sinh − đẻ;...
c. Những từ gốc Hán có quan hệ đồng nghĩa với từ Việt, nhưng khác với từ Việt về màu sắc ý nghĩa và cách dùng. Chúng không thể thay thế nhau trong mọi trường hợp. Ví dụ: phi − bay, niệm − đọc,...
Việc mượn và dùng những từ gốc Hán thuộc ba nhóm trên đây đúng mức, đúng chỗ là cần thiết, vì nó làm cho tiếng nói của ta giàu có, tế nhị chứ không đơn điệu, nghèo nàn. Cho nên, chỉ mượn “những chữ ta không có sẵn và khó dịch đúng” là một nguyên tắc chính trong khi vay mượn tiếng nước ngoài. [...]
(Theo Hoàng Văn Hành, Tìm hiểu những ý kiến của Hồ Chủ tịch về việc mượn và dùng từ gốc Hán,
in trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1980. tr. 106 − 107)

VỀ NGUYÊN TẮC VAY MƯỢN TỪ NGỮ
Hoàng Văn Hành
[...] Khi bàn về việc mượn tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Hán, Chủ tịch Hồ Chí Minh có nói rõ phạm vi những từ cần mượn. Về điểm này chúng tôi thấy trong những lời dạy của Người có hai ý quan trọng:
Một là, ta chỉ mượn tiếng nước ngoài khi “chữ ta không có sẵn”. Như thế tức là khi có những sự vật, những khái niệm mới cần được gọi tên, được biểu đạt, nhưng trong tiếng Việt còn thiếu những từ cần thiết và thích hợp, thì chúng ta phải mượn tiếng nước ngoài, như một số thuật ngữ khoa học chẳng hạn [...] nhưng chỉ nên dùng danh từ gì thật cần thiết và tiếng ta không có.
Hai là, ta chỉ mượn những từ “khó dịch đúng” sang tiếng ta hoặc trong tiếng ta “không có chữ gì dịch”. Chúng tôi hiểu những từ “khó dịch đúng” là những từ khi chuyển sang tiếng Việt không giữ được nguyên vẹn ý nghĩa hoặc màu sắc tu từ của chúng.
Căn cứ vào những ý kiến này, chúng tôi cho rằng chúng ta cần mượn và dùng những nhóm từ gốc Hán sau đây:
a. Những từ gốc Hán được mượn bằng cách giữ nguyên ý nghĩa khi trong tiếng Việt chưa có các từ tương ứng với chúng. Ví dụ: độc lập, du kích, đặc biệt,...
b. Những từ gốc Hán có quan hệ đồng nghĩa với từ Việt, nhưng khác với từ Việt về màu sắc biểu cảm hoặc phong cách. Chúng không thể hoàn toàn thay thế nhau được. Ví dụ: hi sinh, tạ thế − chết; sinh − đẻ;...
c. Những từ gốc Hán có quan hệ đồng nghĩa với từ Việt, nhưng khác với từ Việt về màu sắc ý nghĩa và cách dùng. Chúng không thể thay thế nhau trong mọi trường hợp. Ví dụ: phi − bay, niệm − đọc,...
Việc mượn và dùng những từ gốc Hán thuộc ba nhóm trên đây đúng mức, đúng chỗ là cần thiết, vì nó làm cho tiếng nói của ta giàu có, tế nhị chứ không đơn điệu, nghèo nàn. Cho nên, chỉ mượn “những chữ ta không có sẵn và khó dịch đúng” là một nguyên tắc chính trong khi vay mượn tiếng nước ngoài. [...]
(Theo Hoàng Văn Hành, Tìm hiểu những ý kiến của Hồ Chủ tịch về việc mượn và dùng từ gốc Hán,
in trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1980. tr. 106 − 107)
