pin

Đề khảo sát lớp 12 lần thứ hai liên cụm trường THPT Hà Nội

(4.0 điểm) Đọc văn bản.

Quảng Trị: Xây dựng bảo tàng "Kí ức chiến tranh và khát vọng hoà bình"

Baovannghe.vn – UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, theo đề án, Bảo tàng có quy mô khoảng 11 ha, triển khai trong giai đoạn 2026 – 2030. Mức đầu tư lên đến 1.000 tỷ đồng.

Theo đó, số liệu từ Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cho biết, hiện tỉnh Quảng Trị có hơn 5.000 tài liệu, hiện vật liên quan giai đoạn 1954 – 1975, phân bố tại bảo tàng tỉnh và các nhà truyền thống. Đây là nguồn tư liệu quan trọng, tạo nền tảng cho nội dung trưng bày tại bảo tàng "Kí ức chiến tranh và khát vọng hoà bình".

image.png

UBND tỉnh Quảng Trị cho biết, theo đề án, Bảo tàng có quy mô khoảng 11 ha, triển khai trong giai đoạn 2026 – 2030. Mức đầu tư lên đến 1.000 tỷ đồng

Cụ thể, đề án bố trí Bảo tàng "Kí ức chiến tranh và khát vọng hoà bình" được đặt tại bờ Bắc Hiền Lương – Bến Hải, vị trí mang dấu ấn lịch sử sâu sắc. Công trình có tổng mức đầu tư 1.000 tỷ đồng từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hoá giai đoạn 2025 – 2035.

Đề án thể hiện, bảo tàng có quy mô khoảng 11 ha, triển khai trong giai đoạn 2026 – 2030. Trong đó, giai đoạn 2026 – 2028 thi công và sưu tầm hiện vật; năm 2029 lắp đặt nội thất, hoàn thiện trưng bày; năm 2030 nghiệm thu, đưa vào vận hành.

(…)

Công trình được định hướng đạt tiêu chuẩn Bảo tàng hạng I, với quy mô hiện đại, đồng bộ. Nội dung trưng bày được xây dựng theo hướng khoa học, giàu tính tương tác, phản ánh chân thực và toàn diện ký ức chiến tranh của dân tộc, đồng thời chuyển hoá "di sản ký ức" thành thông điệp hoà bình mang tính thời đại.

Trong đó, "ký ức chiến tranh" được xác định là tập hợp các sự kiện, câu chuyện, hình ảnh và cảm xúc của nhân dân Việt Nam về các cuộc chiến tranh, đặc biệt là giai đoạn từ sau Hiệp định Genève năm 1954 đến ngày 30/4/1975. Đây là những ký ức vừa đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra, vừa hào hùng với những chiến công, tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường và khát vọng độc lập, thống nhất của dân tộc.

Song hành với đó, "khát vọng hoà bình" được nhấn mạnh như một giá trị xuyên suốt, phản ánh mong muốn cháy bỏng của nhân dân Việt Nam về một cuộc sống không còn chiến tranh, hướng tới tự do, hạnh phúc, công bằng và phát triển bền vững. Đây cũng là khát vọng hoà hợp, hoà giải dân tộc, tăng cường hợp tác quốc tế, đưa đất nước hội nhập sâu trong bối cảnh toàn cầu hoá.

Bảo tàng sẽ thể hiện rõ sự đối lập giữa quá khứ bi thương và tương lai tươi sáng, qua đó truyền tải thông điệp nhân văn về việc trân trọng hoà bình, tri ân những hy sinh của các thế hệ đi trước và khơi dậy trách nhiệm của thế hệ hôm nay trong xây dựng đất nước.

UBND tỉnh Quảng Trị kỳ vọng, khi hoàn thành và kết nối với di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải trong hệ thống "Hành trình di sản miền Trung", bảo tàng sẽ góp phần thu hút thêm du khách, tạo động lực phát triển du lịch và kinh tế – xã hội của địa phương.

(Nguyệt Anh, baovannghe.VN, ra ngày 31/03/2026)

Thực hiện các yêu cầu dưới đây.

Câu 1. Phần Sapo cho biết những thông tin gì?

Câu 2. Trong đoạn văn Theo đó, số liệu từ Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch cho biết, hiện tỉnh Quảng Trị có hơn 5.000 tài liệu, hiện vật liên quan giai đoạn 1954 – 1975, phân bố tại bảo tàng tỉnh và các nhà truyền thống. Đây là nguồn tư liệu quan trọng, tạo nền tảng cho nội dung trưng bày tại bảo tàng "Kí ức chiến tranh và khát vọng hòa bình"., tác giả sử dụng dữ liệu sơ cấp hay thứ cấp?

Câu 3. Phân tích hiệu quả của 01 phương tiện phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản.

Câu 4. Anh/Chị hãy đánh giá thái độ, quan điểm của người viết trong văn bản.

Câu 5. Nội dung thông tin của văn bản gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về sự cần thiết của những công trình kiến trúc có ý nghĩa văn hoá, lịch sử đối với mỗi quốc gia, dân tộc?

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1. Phần Sapo cho biết những thông tin về đề án của UBND tỉnh về việc xây dựng Bảo tàng "Kí ức chiến tranh và khát vọng hoà bình": quy mô diện tích; thời gian triển khai; tài chính.

Câu 2. Trong đoạn văn, tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp.

Câu 3. 

– Các phương tiện phi ngôn ngữ trong văn bản là: hình ảnh hoặc các số liệu.

– Tác dụng:

+ Minh hoạ cho nội dung chi tiết trong văn bản, giúp văn bản thêm sinh động, lôi cuốn người đọc.

+ Nhấn mạnh tầm vóc, ý nghĩa lịch sử của Bảo tàng.

+ Thể hiện thái độ trân trọng, quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước.

Câu 4. 

– Thái độ, quan điểm của người viết trong văn bản:

+ Đề cao, trân trọng, tự hào về một công trình kiến trúc có ý nghĩa lịch sử.

+ Kì vọng lớn lao vào việc truyền tải thông điệp nhân văn.

– Đánh giá: đó là thái độ, quan điểm khách quan, tích cực, sâu sắc, đáng được trân trọng, khích lệ, thể hiện lối sống đẹp.

Câu 5. HS trình bày được suy nghĩ và lí giải hợp lí về sự cần thiết của những công trình kiến trúc có ý nghĩa văn hoá, lịch sử đối với mỗi quốc gia, dân tộc. Gợi ý:

Những công trình kiến trúc có ý nghĩa quan trọng về văn hoá, lịch sử đối với mỗi quốc gia, dân tộc.

– Trước hết, nó lưu giữ, ghi lại những dấu ấn quan trọng, phản ánh quá trình hình thành và phát triển của lịch sử, văn hoá của một quốc gia, dân tộc, giúp những thế hệ sau biết và hiểu rõ về những thành tựu của giai đoạn trước. Từ đó, khơi gợi tinh thần trách nhiệm, tình yêu dành cho quê hương.

– Đồng thời, những công trình kiến trúc của một đất nước được xây dựng thể hiện niềm tự hào, lòng tự tôn sâu sắc của dân tộc.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này

Câu 1 (2,0 điểm)

Từ nội dung trong văn bản ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) về chủ đề: tuổi trẻ và việc trân trọng "kí ức chiến tranh".

Câu 2 (4,0 điểm)

Anh/Chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ sau:

MÙA XUÂN LÊN NÚI

(Lưu Quang Vũ)

Sáng lạnh đợi phà qua sông Lô
Chiều gặp mùa xuân ở Thác Bà
Chợ tết người xuôi tàu Vũ Ẻn
Hơi khói mờ sương thung lũng xa.

Rừng cũ chiến khu bao mến yêu
Rừng mới cây ươm đã thẳng đều
Cọ xoè thêm lá xanh tươi thế
Chim hót về em suốt cả chiều.

Anh lên cao mãi ngang lưng núi 
Bát ngát hoàng hôn mưa ướt hoa
Vỏ quế cay dần hương nhựa mới
Quả bứa trên cành ngơ ngác chua.

Dưới núi nhà ai đang vớt bánh
Mà bữa cơm vui vẫn thiếu người
Ngóng về tiền tuyến đường đông lắm
Ngày mẹ cầu mong sắp tới nơi.

Lách tách chồi non đội vỏ lên 
Gió xuân thổi hết những ưu phiền
Anh nhìn vô tận rừng xa thẳm
Nghĩ về đất nước nghĩ về em.

Đêm tím nhoè đi hoa mận rơi
Cỏ mềm rạo rực gót chân nai
Lòng anh hồi hộp như con suối
Thao thức mùa xuân giữa đất trời.

2 – 1969

(Lưu Quang Vũ, Mây trắng của đời tôi, NXB Tác phẩm mới, 1989)

Chú thích: Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là nhà thơ, nhà viết kịch nổi bật của nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ ông giàu cảm xúc, giản dị mà sâu lắng, thường viết về tình yêu gia đình, quê hương và những trăn trở trước cuộc sống. Bài thơ Mùa xuân lên núi ra đời năm 1969, từ trải nghiệm thực tế của tác giả ở vùng núi phía Bắc, thể hiện tâm hồn người lính trẻ trước mùa xuân đất nước.

Guide icon Hướng dẫn giải

Câu 1 (2,0 điểm)

Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận, đảm bảo yêu cầu về dung lượng và sử dụng bằng chứng.

– Vấn đề nghị luận: tuổi trẻ và việc trân trọng "kí ức chiến tranh".

– Hình thức: có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp,...

– Dung lượng: khoảng 200 chữ.

b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lý và sử dụng đúng các kỹ năng nghị luận.

b1. Giải thích:

– "Tuổi trẻ": là những học sinh, sinh viên, những người đang ở giai đoạn thanh xuân tươi đẹp, giàu nhiệt huyết, sáng tạo.

– "Trân trọng kí ức chiến tranh": ghi nhớ, quý trọng, biết ơn những hồi ức thời chiến.

b2. Bàn luận về ý nghĩa của việc trân trọng “kí ức chiến tranh”:

– Thể hiện truyền thống đạo lí "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc.

+ Những "kí ức chiến tranh" là một phần trong kí ức của dân tộc, nhắc nhở mỗi người về sự hi sinh của cha ông ta. Vì thế, những kí ức này đóng vai trò vô cùng quan trọng mà không ai được phép lãng quên hay thờ ơ.

+ Việc thế hệ trẻ biết trân trọng những "kí ức chiến tranh" là minh chứng cho việc giữ gìn được truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc, đó là "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây". Đây là truyền thống đã có từ ngàn đời nay của người Việt, dạy con người, đặc biệt là người trẻ phải có lòng biết ơn, biết sống sao cho xứng đáng với những mất mát, hi sinh của thế hệ đi trước.

+ Những truyền thống này không chỉ rèn cho người trẻ lòng biết ơn mà còn góp phần bồi đắp nhân cách cho họ, giúp họ tránh lối sống vô ơn, thờ ơ, ích kỉ; thay vào đó biết sống tử tế, biết cống hiến và nỗ lực tiếp nối những giá trị tốt đẹp mà cha ông đã để lại.

– Giúp thế hệ trẻ hiểu giá trị của hoà bình, độc lập, tự do.

+ Hoà bình, độc lập phải đánh đổi bằng xương máu, cuộc đời của biết bao nhiêu con người. Từ sự trân trọng quá khứ, người trẻ sẽ hiểu rằng hoà bình, độc lập và tự do không tự nhiên mà có. Nhờ đó, họ biết trân quý cuộc sống hiện tại hơn, biết sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình và đất nước, đồng thời có ý thức tiếp nối, gìn giữ những giá trị tốt đẹp mà cha ông đã để lại.

+ Khi thế hệ trẻ biết lắng nghe, gìn giữ và trân trọng những kí ức chiến tranh, họ không chỉ đang nhớ lại một giai đoạn lịch sử đau thương mà còn đang bày tỏ lòng biết ơn đối với những con người đã làm nên cuộc sống hôm nay.

– Hun đúc lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻ.

+ Thế hệ trẻ sau này sẽ trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước, gánh vác trách nhiệm dựng xây và phát triển đất nước giàu mạnh. Để đất nước phát triển, ta không thể tách rời khỏi nền tảng được dựng xây từ quá khứ.

+ Những "kí ức chiến tranh" ấy giúp họ cảm nhận sâu sắc hơn tình yêu quê hương đất nước của những người đi trước: dám rời xa gia đình, dám đối mặt với hiểm nguy, dám hi sinh hạnh phúc riêng để bảo vệ Tổ quốc. Từ sự xúc động và biết ơn ấy, lòng yêu nước trong người trẻ không còn là một khái niệm xa vời, trừu tượng, mà trở thành tình cảm cụ thể, gắn với niềm tự hào dân tộc, với ý thức gìn giữ hoà bình và bảo vệ những giá trị thiêng liêng của đất nước.

+ Không chỉ khơi dậy tình yêu nước, việc trân trọng "kí ức chiến tranh" còn nhắc nhở thế hệ trẻ về trách nhiệm của mình trong hiện tại. Nếu cha ông đã từng sống và chiến đấu hết mình để giành lại độc lập thì người trẻ hôm nay cần biết sống xứng đáng với sự hi sinh ấy bằng những hành động thiết thực: học tập nghiêm túc, rèn luyện bản thân, sống có lí tưởng, có kỉ luật, có trách nhiệm với gia đình, cộng đồng và đất nước. Lòng yêu nước trong thời bình không nhất thiết phải thể hiện bằng việc cầm súng ra chiến trường, mà có thể bắt đầu từ những việc gần gũi như gìn giữ truyền thống dân tộc, tôn trọng lịch sử, bảo vệ chủ quyền, lan toả những giá trị tốt đẹp và đóng góp vào sự phát triển của xã hội. Vì vậy, trân trọng kí ức chiến tranh chính là cách giúp người trẻ hiểu rõ mình đang được thừa hưởng điều gì, từ đó biết phải sống, phấn đấu và cống hiến như thế nào cho xứng đáng với quá khứ hào hùng của dân tộc.

– Liên hệ bản thân.

b3. Sáng tạo:

– Có những ý đột phá, vượt ra ngoài hướng dẫn chấm nhưng có sức thuyết phục.

– Có cách diễn đạt mới mẻ, tinh tế, độc đáo.

Câu 2 (4,0 điểm)

Bài văn đáp ứng được các yêu cầu sau:

a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về dung lượng và bố cục bài văn nghị luận.

– Vấn đề nghị luận: tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ "Mùa xuân lên núi" (Lưu Quang Vũ).

– Dung lượng: khoảng 600 chữ.

b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kỹ năng nghị luận.

b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận văn học:

– Mở bài: giới thiệu được:

+ Tên tác phẩm: "Mùa xuân lên núi".

+ Tên tác giả: Lưu Quang Vũ.

+ Vấn đề nghị luận: tâm trạng của nhân vật trữ tình.

– Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận: bài thơ thể hiện rõ các cung bậc cảm xúc của nhân vật trữ tình.

b2. Phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ:

* Tâm trạng của nhân vật trữ tình:

– Háo hức, vui mừng khi gặp mùa xuân trên núi.

+ Động từ "gặp" khiến mùa xuân hiện lên như một người bạn, một niềm vui bất ngờ trên đường đi.

+ Thể hiện trực tiếp tình cảm: "Rừng cũ chiến khu bao mến yêu". Từ "yêu mến" cho thấy rõ biết bao yêu thương, gắn bó của nhân vật với nơi chứa đựng đầy kỉ niệm.

+ Cụm từ "xanh tươi thế" bộc lộ trực tiếp sự ngạc nhiên, thích thú của nhân vật trữ tình trước màu xanh mơn mởn của núi rừng. Tiếng chim hót cũng không chỉ là âm thanh của thiên nhiên mà còn trở thành âm thanh của niềm vui, của tình yêu và sự sống. Cảnh vật như đang chuyển động, đang sinh sôi, khiến tâm hồn con người cũng trở nên rộn ràng, tha thiết hơn.

+ Tâm trạng háo hức còn được thể hiện qua bước chân đi lên cao mãi, như muốn hoà vào không gian rộng lớn của mùa xuân. Cụm từ "lên cao mãi" gợi cảm giác say mê, không muốn dừng lại. Nhân vật trữ tình không chỉ ngắm nhìn mùa xuân từ xa mà còn trực tiếp bước vào mùa xuân, đi giữa núi rừng, giữa mưa, hoa, hương quế, nhựa mới, quả bứa. Các hình ảnh "vỏ quế cay", "hương nhựa mới", "quả bứa...chua" cho thấy mùa xuân được nhân vật cảm nhận bằng nhiều giác quan: thị giác, khứu giác, vị giác. Điều đó chứng tỏ nhân vật trữ tình đang đón nhận thiên nhiên bằng tất cả sự say mê, tinh tế và vui sướng.

– Gắn bó, yêu mến con người và cuộc sống miền núi.

+ Những hình ảnh cuộc sống thường nhật được tái hiện trong bài thơ thật cụ thể, sinh động.

+ Hình ảnh "chợ tết" gợi không khí sinh hoạt rộn ràng, ấm áp của con người trong những ngày xuân. Giữa cái lạnh, giữa sương mờ thung lũng, hơi khói và chợ Tết làm cho không gian miền núi có hơi ấm của đời sống. Nhân vật trữ tình quan sát và cảm nhận rất tinh tế những chi tiết ấy, cho thấy anh không chỉ nhìn cảnh núi rừng mà còn chú ý đến nhịp sống của con người nơi đây.

+ Những chi tiết đời thường như "vớt bánh", "bữa cơm vui" gợi không khí Tết đầm ấm, sum họp. Nhân vật trữ tình như lắng nghe, như nhìn thấy cuộc sống bình dị của những gia đình miền núi. Nhưng trong niềm vui ấy vẫn có nỗi buồn "thiếu người", bởi người thân còn ở tiền tuyến. Câu thơ cho thấy nhân vật trữ tình không chỉ yêu mến cuộc sống nơi đây ở vẻ vui tươi bên ngoài, mà còn thấu hiểu những hi sinh, chờ mong, mất mát âm thầm của con người trong chiến tranh. Chính sự thấu cảm ấy làm cho tình yêu miền núi của anh trở nên sâu sắc hơn.

+ Những câu thơ tiếp theo càng làm rõ sự gắn bó giữa nhân vật trữ tình với con người nơi hậu phương: "Ngóng về tiền tuyến đường đông lắm/ Ngày mẹ cầu mong sắp tới nơi.". Hình ảnh "mẹ cầu mong sắp tới nơi" gợi lên những người mẹ miền núi đang ngày đêm chờ con, mong người thân trở về. Nhân vật trữ tình cảm nhận được nỗi ngóng trông ấy, đồng thời cũng chia sẻ niềm hi vọng về ngày đoàn tụ, ngày chiến thắng. Qua đó, con người miền núi hiện lên vừa bình dị, giàu tình cảm, vừa bền bỉ, thủy chung với tiền tuyến và đất nước.

=> Có thể thấy, nhân vật trữ tình yêu mến miền núi không chỉ với cảnh sắc thiên nhiên mà còn với con người, nhịp sống thường nhật giản dị nơi đây. Tình cảm ấy là sự hoà quyện giữa tình yêu thiên nhiên, tình yêu con người và tình yêu đất nước. Vì vậy, bài thơ không chỉ là bức tranh mùa xuân trên núi, mà còn là tiếng lòng tha thiết của một con người đang gắn bó sâu nặng với cuộc sống miền núi trong những năm tháng đất nước còn chiến tranh.

– Lạc quan và tràn đầy hi vọng.

+ Niềm vui mùa xuân không chỉ là niềm vui trước cảnh sắc mà còn là niềm vui của sự hồi sinh, đổi mới: "Lách tách chồi non đội vỏ lên/ Gió xuân thổi hết những ưu phiền". Hình ảnh "chồi non đội vỏ lên" gợi sự sống đang bật dậy mạnh mẽ. Đó không chỉ là sự sống của thiên nhiên mà còn là sức sống của cả dân tộc, đang âm thầm trỗi dậy. Âm thanh "lách tách" xuất hiện càng làm cho mùa xuân trở nên gần gũi, sống động hơn bao giờ hết.

+ Câu thơ "Gió xuân thổi hết những ưu phiền" diễn tả rất rõ tâm trạng nhẹ nhõm, vui tươi của nhân vật trữ tình. Trước sức sống của mùa xuân, những buồn lo dường như tan biến, nhường chỗ cho niềm tin yêu và hi vọng.

– Tha thiết, hồi hộp trước mùa xuân và tương lai: Đến cuối bài, tâm trạng háo hức, vui mừng được đẩy lên thành sự rạo rực, xao động trong tâm hồn: "Lòng anh hồi hộp như con suối/ Thao thức mùa xuân giữa đất trời.". Hình ảnh so sánh đầy thú vị: "lòng anh hồi hộp như con suối" diễn tả nhịp lòng náo nức, trong trẻo, không yên của nhân vật trữ tình. Mùa xuân không chỉ ở bên ngoài cảnh vật mà còn tràn vào lòng người, khiến con người "thao thức" trước vẻ đẹp của đất trời, của tình yêu và đất nước. Vì thế, tâm trạng của nhân vật trữ tình khi gặp mùa xuân trên núi là tâm trạng vui mừng, say mê, rạo rực và tràn đầy niềm tin yêu cuộc sống.

* Nghệ thuật: thể thơ bảy chữ, hình ảnh gần gũi, sống động, giàu sức gợi, giọng điệu trữ tình, thiết tha; sử dụng đa dạng các biện pháp tu từ: nhân hoá, điệp, so sánh,...

b3. Đánh giá chung:

– Bài thơ bộc lộ tình yêu thiên nhiên, yêu đất nước và tinh thần lạc quan của con người trong hoàn cảnh kháng chiến.

– Nghệ thuật của bài thơ góp phần thể hiện hiệu quả tâm trạng nhân vật trữ tình.

b4. Sáng tạo:

– Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Hướng dẫn chấm nhưng có sức thuyết phục.

– Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.

Bạn cần phải Đăng nhập để trả lời câu hỏi này